«Cô ta có dáng điệu», tôi nói, «không hẳn thuộc về thời đại chúng ta.»
Tôi đưa cho ông Mathews xem mấy bức sơ họa vẽ Jennie trong bộ đồ trượt tuyết, những bức hình nhỏ vẽ cô bé đang chuyển động, đang lượn một đường cong, hay đang đứng trên những đầu ngón chân như để sửa soạn chạy — cũng những bức sơ họa đó, thực vậy, vừa được trưng bày hồi năm ngoái ở phòng triển lãm Corcoran, như một phần trong sưu tập Blumenthal. Cô Spinney cũng có mặt tại đây, nhìn qua vai ông Mathews; đây là lần đầu tiên tôi gặp cô. Tôi thích giọng nói khô khan, đôi mắt sắc, lạnh lùng, và lối nói chuyện rắn rỏi của cô; còn phần cô, cô thích những bức phác họa của tôi. Trong lãnh vực họa phẩm và họa sĩ, không có chuyện nhân nhượng đối với cô Spinney; cô xét đoán người qua tác phẩm, không có gì khác; hoặc là cô chịu hay là không chịu tự kiếm lấy các họa phẩm theo ý cô.
Ông Mathews dang tay giơ những bức họa ra trước mặt, đầu nghiêng về phía sau, tia nhìn chảy dọc theo sống mũi, «Con nhỏ này già dặn hơn trước,» ông nói. «Nhưng, nói chung, tôi lại thích thế này hơn. Lần trước coi bộ nó còn con nít quá...»
«Đúng vậy,» ông nói, «những bức này không đến nỗi tồi — có phải thế không cô Spinney?»
«Ông chỉ biết nói có thế thôi à», cô Spinney hỏi, «Rằng chúng không đến nỗi tồi à?»
Ông Mathews ghé nghiêng đầu sang một bên, như đầu con chim. «Đặc điểm làm tôi thích là,» ông nói, «cậu cố gắng ghi lại cái dáng vẻ không hẳn thuộc về — nói sao cho đúng nhỉ— thuộc về thời đại chúng ta. Có một đặc điểm nơi phụ nữ là họ không tùy thuộc thời gian. Điểm đó không có nơi đàn ông — đàn ông chúng tôi luôn luôn có óc thực tại.»
«Các ông có thể bằng lòng với hiện tại,» cô Spinney nói. «Và các ông biết cách xử dụng nó.»
Ông Mathews, vốn quen với tính tình cô Spinney, nói tiếp. «Tôi không biết rõ về phụ nữ ngày nay,» ông nói rồi thở dài. «Theo ý tôi, họ thường thiếu một đức tính mà trước đây họ thường có — đức tính không phụ thuộc vào thời gian, nó khiến cho họ thuộc về bất kỳ thời đại nào — Có một cái gì vĩnh cửu — ta có thể nhận ra đặc tính này ở tất cả những bức danh họa từ Leonardo cho tới Sargent. Có bao giờ quí vị suy nghĩ về điều đó và nhận ra là những người đàn bà đã chết từ lâu còn có vẻ sống động, hiện thực đối với chúng ta hơn những người đàn ông? Những người đàn ông đã được tạo ra để — rồi mất hẳn đi. Quý vị sẽ chẳng còn tìm thấy người nào, có lẽ ngoại trừ một vài nhân vật trong những bức họa của Holbeins, là ta còn có thể gặp trên cõi đời này. Nhưng những người đàn bà — tại sao mình lại có thể bắt gặp họ bất kỳ nơi đâu, Mona Lisa, hay Bà X... trên đường phố, bất kỳ nơi nào.»
Ông nhìn tôi với vẻ như muốn phiền trách. «Chân dung ngày nay,» ông nói, như thể đó hoàn toàn là lỗi tại tôi, «được cắm sâu vào hiện tại, cũng cứng nhắc như củ khoai tây.»
«Ông đã thấy bức chân dung Bà Potterly mới đây do Tasker vẽ chưa?» Cô Spinney hỏi.
Ông Mathews ho, buồn bã, bàn tay che trên miệng. «Tôi nghe nói là ông ta bán bức đó được đâu ba ngàn đô-la».
«Chỉ có một ngàn rưởi thôi,» cô Spinney nói, «và một chuyến du lịch đi Florida.»
«Người ta không thể kiếm sống theo cái đà ấy được,» ông Mathews nói.
Nghe tiếng lầu bầu hốt hoảng, nửa như ghen tức, nửa như chua cay, cô Spinney day mặt lại phía tôi và dịu dàng đặt bàn tay lên cánh tay tôi. «Này, này, cậu Adams,» cô nói, «bình tĩnh nào».
«Cả cậu nữa, rồi cũng có ngày cậu cũng sẽ kiếm được như vậy.»
Lúc đó tôi không thể nào ngờ được, một ngàn năm trăm mỹ kim một bức chân dung. Tôi nghĩ rằng Tasker phải là một bậc thiên tài hay là một tên lưu manh. Người ta thay đổi ý kiến về những việc tương tự khi lớn lên; nhưng điều đó làm tôi thấy mình mạnh bạo — ngay bây giờ nghĩ lại — còn thấy mình có vẻ liều lĩnh nữa.
«Được,» tôi nói, «nhưng trong trường hợp ấy, liệu tôi được bao nhiêu với những bức họa của tôi?»
«Spinney này,» ông Mathews lầm bầm, «cô nói nhiều quá.»
Và cô Spinney tức khắc tiếp lời ông «Chúng gần như chẳng đáng gì cả.»
Đó là một cách tàn nhẫn để hạ tôi, dầu tôi dám nói rằng tôi đáng bị xử tệ như vậy. Tôi thu lượm những bức tranh và bắt đầu xếp lại.
«Anh bạn trẻ thân mến,» ông Mathews đau khổ nói...
«Coi này.. »
Nhưng tôi khăng khăng bỏ đi. «Tạm biệt ông,» tôi nói; quay lại phía cô Spinney tôi nói, «Hân hạnh được gặp cô.»
Cô nhìn tôi một chặp bằng đôi mắt đen lạnh như sương muối. Tôi tưởng cô sắp sửa mở cửa cho tôi ra, nhưng tôi rất đỗi ngạc nhiên, khi thấy mặt cô hồng lên, vẻ nồng nàn, cô phá lên cười. «Tôi mến cậu, cậu Adams,» cô nói, rồi bốp vào lưng tôi một cái đau điếng. «Cậu tự kiêu lắm phải không? Lại đây — lấy tranh ra để tôi coi lại xem.»
Cô bắt đầu xem xét lại kỹ lưỡng hơn ông Mathews nhiều; có điều là cô ít chú ý đến Jennie hơn là chăm chú đến nét vẽ của tôi. Ông Mathews nhìn trộm cô với vẻ rụt rè; ông muốn cô cũng ưa thích những bức tranh ấy, vì có thế ông mới thấy tin chắc ở những nhận xét của ông về tôi. Ông không ngừng gõ những ngón tay xuống mặt bàn và đằng hắng.
«Tôi nghĩ là tại xiêm áo,» ông nói, «nó làm cho cô ta già dặn hơn.»
Tôi không nghĩ như ông, nhưng tôi không biết nói thế nào về điều tôi nghĩ, tôi đứng thộn ra đó sượng sùng, thấy tim mình đập nhanh hơn, và băn khoăn không biết cô Spinney sẽ nói gì. Sau cùng cô đặt những bức họa xuống, và nhìn thẳng vào mắt tôi, tia nhìn thật sắc sảo. «Được cậu Adams ạ,» cô nói. «Cả lố tranh này, chúng tôi trả cậu 25 đô-la».
Tôi nghĩ là mình có thể chấp thuận giá ấy, nếu như tôi có thể quên đi lời phê bình của cô, nói rằng tranh của tôi chẳng đáng gì. Vẫn còn hơi tức giận, tôi muốn chống đối cô. Tôi còn trẻ; chưa biết nhiều về mánh lới của bọn lái buôn nghệ phẩm. «Không được,» tôi nói và lại sửa soạn bỏ đi.
Tôi tự nhủ là mình cóc cần, là mình sẽ đem tranh bán cho người khác. Nhưng sự thực thì tôi rất cần, tôi không giấu nổi ý nghĩ thầm kín đó. «Này, cậu Adams,» cô nói, «cậu là một thanh niên dễ thương thật, nhưng cậu chưa thấu hiểu nghề buôn bán họa phẩm. Tôi biết cậu có thể vẽ được, nhưng chúng tôi đâu có phải là nhà sưu tầm; chúng tôi không mua những bức họa mà mình ưa thích để rồi ung dung ngồi ngắm suốt đời. Nếu chúng tôi nhận mua những bức tranh này, chúng tôi còn phải lo bán đi. Chúng tôi không thể trả quá ba mươi đô-la được. Cậu nghĩ thế nào?»
«Vậy đó,» ông Mathews hăng hái phụ họa, «này người bạn trẻ, cậu nghĩ thế nào?»
Tôi hít thở thật mạnh, rồi nói «Năm mươi đô-la.»
Cô Spinney chậm chạp quay đi; tôi nghĩ là cô nổi giận; và tôi nghĩ sao mình có thể điên đến độ ấy. Tôi bướng bỉnh, nhưng tôi cũng hết sức đau khổ, tôi đưa mắt nhìn ông Mathews, nhưng ông ta đang mải nhìn theo cô Spinney, và gõ nhịp ngón tay trên mặt bàn. Tôi đang tính nói: «Thôi được, lấy đi,» nhưng cô Spinney lại đã nói trước. «Quỷ bắt hắn đi,» cô than, «thôi trả cho hắn cả năm chục.»
Ông Mathews nhảy lên, nhẹ nhõm. «Đúng rồi, cô Spinney,» » ông nói lớn. «Đúng lắm, tôi vui mừng vì thấy cô đồng ý với tôi.»
Cô nhún vai. «Tôi cũng chỉ là một củ khoai thôi, Henry ạ,» cô nói, «không có gì là vĩnh cửu nơi tôi. Ông liệu mà bán lấy những bức tranh đó.»
« Được rồi.» ông nói. Ông nâng những bức tranh lên, ngắm nghía rồi lại đặt xuống, lại nhấc lên. «Được rồi,» ông nói, «được rồi, dĩ nhiên là vậy. Tôi sẽ bán được - đừng lo. Tôi sẽ kiếm được khách mua. Dĩ nhiên là không có ngay, có lẽ...»
Họ trả tôi năm chục đô-la. Bây giờ đối với tôi số tiền đó không quan trọng, nhưng hồi đó thì nó lớn lắm. Tôi vẫn được ăn đằng tiệm Alhambra của ông Moore; vì thế món tiền nọ là cả một gia tài đối với tôi, chẳng kém gì một ngàn rưởi Mỹ kim đối với họa sĩ Tasker. Tôi cho rằng số tiền lớn như vậy vì nó là của riêng tôi. Nó có thực, và tôi có toàn quyền xử dụng.
Trước khi tôi bỏ đi, ông Mathews lại nói với tôi về bức chân dung, nhưng lần này ông nói rất rõ ràng là ông muốn có bức chân dung nàng Jennie. «Ở người con gái ấy,» ông bầy tỏ, «có một đặc điểm khiến tôi nhớ tới một cái gì... tôi chưa nói đúng ý, nhưng tôi có thể nói cho cậu biết cái cảm tưởng nó gợi ra trong tôi. Giống như cảm giác lúc tôi còn thanh xuân.»
Ông ngước mắt nhìn tôi như tạ lỗi. «Tôi không biết mình có thể diễn tả cảm nghĩ đó một cách nào khác không,» ông nói. «Tôi không dám nghĩ là cậu đã hiểu ý tôi.»
Nhưng tôi nghĩ là mình đã hiểu. «Có phải ông định nói là cô gái đó lỗi thời không?» Tôi hỏi.
«Không,» ông đáp, «đó không phải là ý tôi, không hẳn là như vậy.»
«Nhưng tôi thì tôi thấy thế,» tôi trả lời. «Tôi nghĩ là cô gái đã lỗi thời.»
Cô Spinney tiễn tôi ra cửa. «Thôi chào cậu,» cô nói, «lần sau xin mời cậu lại. Nếu cậu có được bức nào vẽ hoa, khổ tranh vào khoảng 46 x 38... » Cô ngó quanh dòm chừng ông Mathews, và bắt gặp ông ngay đằng sau, lưng ông xoay lại, cô bèn hạ thấp giọng trầm. «Tôi ưa thích những bức tranh vẽ hoa.»
Tôi rẽ sang Đại-lộ số Năm vì đó là đại lộ tôi thích đi dạo nhất. Lần đầu tiên tôi cảm thấy đấy là thế giới của tôi, thành phố của tôi, nó thực sự thuộc về tôi, thuộc về tuổi trẻ và hy vọng của tôi; một vị hứng khởi dâng lên trong miệng tôi, và lòng tôi tràn ngập niềm vui, lâng lâng như một cánh buồm lôi cuốn tôi đi. Những bức tường cao, lộng gió trên đầu tôi, những cửa hàng mở rộng, lấp lánh giăng thành hàng dây trước mặt tôi, với những màu sắc pha trộn, những khuôn mặt đàn bà tươi vui và sắc sảo, và ánh nắng chiếu trên mọi vật — nắng và gió —
Tôi nhớ tới bài ca của Jennie. Và rồi tôi tự nghĩ rằng tôi không biết nàng ở đâu, cũng không biết làm sao tìm kiếm được nàng; và ánh sáng đang rạng rỡ trên mọi vật bỗng nhiên vụt tắt.