«Như vậy là anh muốn,» bác Gus nói, «nhờ tôi tìm cho anh con nhỏ tên là Jennie. Anh không biết nó ở đâu, không biết lai lịch của nó. Vậy là anh có cái mà tôi có thể gọi là một cuộc khởi hành tốt đẹp đấy.»
«Ba má nó làm nghề leo dây,» tôi bảo bác, «đi trên sợi dây căng thẳng.»
«Biết vậy cũng dễ hơn,» bác nói. «Họ lưu diễn à?»
Tôi không biết. Tôi bảo bác tên họ là Appleton.
« Appleton,» bác càu nhàu. «Appleton.» Bác suy nghĩ một chập. «Có một màn trình diễn mang cái tên này,» bác tuyên bố. «Ở hí viện Hammerstein cũ.»
« Đúng rồi,» tôi nhanh nhẹn đáp. «Họ trình diễn ở đấy mà.»
Bác Gus nhìn tôi ngạc nhiên. «Này Mack nè,» bác nói, «bây giờ có lẽ họ vào viện dưỡng lão rồi. Chắc là người khác mất rồi. Có chắc anh đã gặp con nhỏ đó không?»
« Chắc mà,» tôi đáp, «tôi đã vẽ mấy bức tranh nó rồi mà.»
Bác lắc đầu nghi ngờ. «Những bức tranh ấy đâu có nghĩa lý gì,» bác nhận xét. «Tôi sợ là anh đã phịa ra nó.»
« Không» tôi nói. «Làm gì có chuyện bầy đặt ra chứ».
Chúng tôi đứng trước mũi chiếc tắc-xi của bác, nơi một góc phố, trong bầu không khí xám, hoang sơ của buổi sớm mai. Sắp có tuyết rơi. Tôi ngửi thấy mùi tuyết lẫn trong gió, và người tôi run lên nhè nhẹ. Nhưng bác Gus, mặc hai chiếc áo chun đã cũ, chiếc nọ chồng lên chiếc kia, bác hình như không thấy lạnh, bác quen với gió lạnh cũng như nắng gắt; bác làm tôi nhớ tới những ngư phủ già ở Truro, hết năm này qua năm khác bị thời tiết quật, đen sạm và rắn chắc bởi biển cả. Nhưng đối với bác Gus không có vị của muối biển; những đợt thủy triều và những thủy đạo của bác là những đường phố, và bộ mặt của bác là khuôn mặt của thành phố, xám nhợt, dễ nổi giận, dễ vui, nhạy cảm, giảo hoạt và đầy tự tin. Khuôn mặt đó không có cái vẻ trầm tư lầm lì của đại dương, không có cái vẻ ưu tư dai dẳng của biển cả...
«Để tôi thử tìm quanh quẩn xem nếu như anh muốn,» bác nói, «để tôi hỏi thăm mấy người quen. Nhưng nghe này Mack — » giọng bác trầm xuống thấp đầy vẻ khẩn thiết — « đừng có để cảnh sát làm khó dễ đó nghe: Một đứa con gái nhỏ như thế —
«Chính tôi đâu muốn có chuyện lôi thôi với cảnh sát.» Bác nói thêm như một hậu ý.
« Tất cả mong muốn của tôi,» tôi nói, «là vẽ chân dung con nhỏ.»
Và tôi chỉ muốn có thế; tôi thề là chỉ có thế thôi.
Trở lại xưởng vẽ, tôi cố gắng làm việc. Tôi đang vẽ một bức tranh khá lớn cảnh mặt hồ có những người trượt tuyết trên đó, vẽ bằng ký ức và nhờ những bức sơ họa, nhưng tôi khó lòng tiếp tục nổi. Tim óc tôi không chú tâm vào đó; trí tôi cùng một lúc bay theo bốn phương tám hướng. Tôi băn khoăn không biết có nên bắt đầu một bức vẽ hoa cho cô Spinney không? Không biết bác Gus có tìm thấy tung tích gia đình Appletons không; và tôi tiếp tục nghĩ đến quán Alhambra, về bức bích họa phía trên quầy rượu, còn nhiều việc phải làm bức họa ấy mới xong. Tôi cảm thấy xốn xang, bực bội, nét bút của tôi không vững, ánh sáng thì tồi tàn. Tôi hài lòng vì đã đến giờ ăn cơm trưa, và tôi có thể xếp đồ nghề lại, và đi ra ngoài.
Bác Gus chưa về khi tôi đến quán. Tôi ăn một mình; đoạn bắc thang lên mé sau quầy rượu và tiếp tục công việc. Tôi làm việc chừng một tiếng đồng hồ thì bác Gus về, và ngồi ở chiếc bàn từ đó bác có thể xem tôi vẽ. Tôi băn khoăn ngó xuống nhìn bác, nhưng bác lắc đầu:
« Xui rồi, Mack ạ,» bác nói. «Cảm phiền nghe bạn.»
«Bác không tìm thấy tung tích họ à?» Tôi hỏi. Bác nhìn lại tôi với vẻ mặt kỳ lạ, «Đúng như tôi nghĩ ngày xưa có vợ chồng Appletons leo dây thiệt, » bác nói, «nhưng từ hồi 1914 kia lận. Sau họ gặp tai nạn, dường như dây leo bị đứt đâu vào năm 1922.»
Chúng tôi trừng mắt nhìn nhau một hồi, rồi người bồi bàn bưng la-de đến. Bác Gus tợp một hơi dài, rồi, ngửa người ra phía sau long trọng nhìn bức tranh tôi vẽ. «Tranh vẽ khá lắm,» bác nói.
Tôi vẽ một cảnh cắm trại bên bờ hồ, không khác gì khu hồ trong Công viên; và ở đó, bên mặt nước, dưới bóng cây, những người đàn bà của tôi tụ họp vui đùa tán nhảm trên nền cỏ. Đó là những nhân vật thơ ngây, và tôi biết rằng, theo ý bác Gus, giá vẽ thêm vào đó vài người đàn ông cũng là chuyện hay. Về điểm này bác có vẻ hiện thực; nhưng bác không đi quá trớn. Điều bác đòi hỏi ở một bức tranh chỉ là: nó có thể nhắc nhở bác nhớ tới điều bác đã biết trước, kèm theo dự phóng của một thế giới tốt đẹp hơn, hạnh phúc hơn.
« Đúng vậy, thưa ông,» bác tuyên bố, «khi tôi nhìn những hình ảnh như vậy, tôi tự nhủ là mình đã bỏ phí thời gian.»
Bỗng bác ngồi nhổm dậy trên ghế, giơ ngón tay trỏ vào một người đàn bà còn trẻ đang nằm nghiêng, sát bờ hồ, mặt cô ta quay đi chỗ khác. «Cái cô này làm sao ấy?» bác hỏi, «Tôi thấy cô ta có vẻ không được.»
«Sao vậy?» Tôi hỏi bâng quơ, không thèm nhìn lên, «Bác thấy cô ta làm sao?»
«Trông cô ta như người chết đuối,» bác Gus nói, quay sang hình vẽ.
«Bác nói gì cơ?» Tôi hỏi. Nhưng tuy hỏi vậy, tôi biết bác định nói gì; có đôi nét gì lầm lẫn khi tôi đặt cô ta dưới gốc cây, khiến mặt cô ta có vẻ lờ mờ, nhợt nhạt dưới bóng lá cây; mớ tóc đen của cô ta tựa như bị ướt đầm và toàn thân cô tựa như bị nước choàng phủ... Tôi thấy buồn khôn tả lúc ngắm lại, tôi cho là tại tôi nóng nẩy, cũng vì mình kém tài, và tôi vội vã với lấy ống thuốc đánh bóng màu đất.
Nhưng ngay sau khi đem người đàn bà ra ánh sáng mặt trời, tôi lại cảm thấy tuyệt vọng khôn nói nên lời. Chính khuôn mặt nửa khuất, nửa hở, mà tôi thầm tưởng tượng trong lòng tôi là Jennie — có ngày nàng sẽ như vậy — và tôi không thể nghĩ rằng nét bút và tâm hồn tôi đã phản lẫn nhau như thế.
Còn ông Moore thì rất hài lòng về bức họa. «Tốt lắm,» ông nói, ông tiến lại và ngửng đầu nhìn tôi đang ngồi trên bực thang, «thật trúng ý tôi. Đúng lắm, thưa ông, đúng như tôi nghĩ. Tôi thấy là hấp dẫn, nhưng không phạm thuần phong mỹ tục. Còn một chỗ bên trên cửa vào bếp, tôi đang nghĩ mình có thể vẽ một cảnh gì ở đó.»
« Chi vậy?» bác Gus nói, «bộ ông định làm bảo tàng viện hay sao?»
« Tôi chỉ muốn chỗ này đẹp,» ông Moore nói, «Bức tranh trang hoàng làm cho thực khách vui mắt.»
« Được,» bác Gus nói, « ông bảo cậu ấy vẽ tôi và chiếc xe của tôi. Như thế lợi cả cho ông, lợi cả cho tôi.
« Nhưng cần phải vẽ cho đẹp,» bác nói thêm. «Đừng bắt tôi chết đuối.»
Tuyết bắt đầu rơi khi tôi đi về nhà, những lọn tuyết nhỏ chầm chậm rơi, uốn mình qua những tầng không khí màu xám, theo cơn gió đông bắc. Cả thành phố chìm trong màu xám dưới vòm trời nặng như muốn đè trên tôi trong lúc tôi tiến bước. Tôi nghĩ đến mỏm Cape, đến trận bão đang rít qua những đồi núi, thổi làn tuyết ẩm từ biển vào, qua những mái nhà nhỏ chen chúc trong những thung lũng, đến làn sóng bạc va vào thành đá vỡ tan ở High Land, đến tiếng sóng gầm trong khe đá như tiếng xe lửa lăn xiết trên đường rầy đằng sau những ngọn đồi — Cơn bão và làn tuyết bị xua dạt hướng về phương nam, phát xuất từ đại dương gợn sóng, trống rỗng và đen tối, từ Labrador, từ những dòng nước ở Greenland, mờ mịt trong mùa đông và đêm tối. Tôi nghĩ, có gì đâu giữa chúng ta và sự lạnh buốt đang chờ đợi, lẽ huyền vi, sự chết — một giải bãi biển, một ngọn đồi, vài bức tường vách đá hay vách ván, một đốm lửa — và mặt trời của ngày mai, sẽ mọc lên để sưởi ấm chúng ta, hy vọng ngày mai sẽ thanh bình, sẽ đem tới những ngày tươi đẹp hơn.
... Nếu chẳng may ngày mai tiêu tan trong bão táp thì sao? Chẳng may thời gian đứng im thì sao? Và ngày hôm qua nữa — Giả thử bữa qua mình đi lạc đường, bị vùi trong cơn bão — không biết mình còn có tìm lại được ngày qua trước mặt không, mình có đoán nổi mặt trời ngày mai sẽ mọc lên ở đâu không?
Tôi bước vào nhà, rũ tuyết trên vai áo ngoài ngưỡng cửa. Trong lúc tôi đứng trong hành lang, cũng lạnh lẽo và đen tối chẳng kém gì chính tôi, thì bà Jekes từ phòng khách riêng của bà tiến ra, nhìn tôi với những tia mắt có phản ánh sự nghi ngờ, giận hờn và một vẻ soi mói kỳ lạ. Có vẻ như bà đang đợi tôi. «A,» bà nói, «cậu về đây rồi.»
Và bà chắp tay lại đặt trước ngực một cách thật đoan trang.
Tôi nhìn lại bà không nói năng gì. Tiền nhà tôi trả rồi, và tôi không tìm được lý do để lo lắng. Tôi có cảm tưởng là bà không ưa tôi, và bà ta sẽ vui mừng khi có thể báo cho tôi biết là tôi có chuyện buồn phiền; nhưng điều bà sắp nói, tôi thật không ngờ đến.
«Cậu có người đến thăm,» bà nói. «Một tiểu thư.» Và thấy tôi đứng há hốc mồm nhìn bà, bà mỉa mai nói:
«Bảnh quá rồi còn gì, tôi nói thiệt đấy. »
Bà xì một tiếng ngạo mạn, rồi quay đi, trở lại phòng khách. «Tiểu thư đang đợi cậu ở trên lầu đấy, » bà nói với lại, rồi đóng kín cửa, như muốn thanh minh. «Tôi không có trách nhiệm gì về việc này đâu nhé.»
Tôi chậm rãi lên thang, bối rối và sững sờ, tim tôi đập nhanh. Tôi làm gì có bạn, không thể có một người nào. Làm gì lại có chuyện có người đang đợi tôi.
Nhưng tôi đã lầm. Tôi biết rõ mình lầm ngay trước khi mở cửa; một tình cảm nào đó thuộc về bản năng đã bảo là tôi lầm.
Đúng nàng Jennie. Nàng đang ngồi đợi trong chiếc ghế cũ gần bên giá vẽ, ngay ngắn và nghiêm trang, đôi tay xỏ vào ống vải nỉ đặt trên đầu gối, những đầu ngón chân vừa chấm tới mặt sàn, chiếc nón tròn bằng lông thú giống như chiếc bánh kẹp nhỏ đội trên chỏm đầu. Tôi chậm rãi bước vào, và tựa người vào cánh cửa nhìn nàng một chặp. Niềm sung sướng làm tôi cảm thấy bủn rủn cả người.
«Em nghĩ là có lẽ ông mong muốn em lại chơi, ông Eben,» nàng nói.