Chân Dung Nàng

Lượt đọc: 1476 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG VII

Nàng trầm lặng ngồi trong chiếc ghế bành lớn trong lúc tôi lụi hụi dẹp mớ bút vẽ và loay hoay tìm kiếm đồ pha trà. Đôi mắt nàng từ từ di chuyển chung quanh, dừng lại trên mọi đồ vật, từ mớ bàn ghế tồi tàn, những bức tường cáu bụi, mớ lụa vẽ chất đống trên sàn gác, cái tủ bừa bộn quần áo, tranh vẽ, ống sơn, hộp thực phẩm, và những hộp bể, chiếc giường xiêu vẹo bừa bãi chăn mền xơ xác — mớ xà bần ấy chính tôi chưa có dịp quan sát kỹ lưỡng, cũng chưa hề để ý trước khi nàng đến. Bây giờ thì tôi tưởng như trông rõ từng vật một, lần đầu tiên, cũng như nàng vậy. Đôi mắt nàng mở rộng, nàng thở một hơi dài.

«Trước đây, em chưa từng vào xưởng vẽ một lần nào,» nàng nói. «Thích đấy chứ.»

Trong cái ấm sắt đặt trên bếp còn chút nước thừa lại từ buổi sớm mai, nên tôi chỉ việc đốt bếp lên, rồi đi tìm hộp bánh bích - qui trong tủ buýp - phê. «Căn phòng thật khủng khiếp, Jennie,» tôi nói, «dơ quá trời.»

«Vâng,» nàng đồng ý, «dơ thực đấy. Em không nghĩ thế... nhưng vì chính ông đã nói ra trước...»

Nàng đứng dậy, gỡ nón ra và để chung với chiếc áo choàng và chiếc ống nỉ bao tay gọn gàng trên mặt ghế, «Chắc ông không có chiếc tạp-dề nào phải không?» nàng nói. «Cũng không có cái gì để lau bụi phải không?»

Tôi nhìn nàng sửng sốt. «Cô không tính dọn dẹp đấy chứ?» tôi hỏi.

« Có,» nàng đáp. «Em tính dọn dẹp trong lúc chờ nước sôi.»

Tôi chỉ tìm được một chiếc khăn mặt và một chiếc khăn tay sạch mà thôi. Nàng cột chiếc khăn mùi-xoa lên mái tóc và buộc xuống cằm, kiểu người ta buộc đầu trên mỏm Cape, và nàng nhặt tấm khăn tắm lên với một dáng điệu cả quyết. Rồi với đôi chân dài dạng ra, nàng nhìn bao quát một lần nữa tựa như một vị tướng trước khi lâm trận, rồi mặt nàng tiu nghỉu. «Trời ơi,» nàng than, «thật không biết phải bắt đầu từ đâu đây.»

Tôi đã tìm được hộp bánh bích - qui và ít miếng đường để uống trà, và tôi đi xuống dưới nhà để rửa tách chén ở chỗ đặt chậu. Lúc xuống, tôi ngó qua thành cầu thang để xem có gì không; đương nhiên là có bà Jekes đứng ở phía dưới chân cầu thang nín thở, chăm chú lóng tai nghe. Tôi tự hỏi không biết bà mong đợi nghe lỏm được cái gì, và tôi thổi rít lên một tiếng huýt gió chói tai cốt để tỏ cho bà biết tôi đang làm cái gì. Bà ngó lên, giật mình, rồi sượng sùng lủi vào phòng riêng.

Khi tôi về phòng, Jennie đang ngồi trên sàn gác, chiếc khăn lau để một bên, và những bức họa thành phố bày la liệt xung quanh. Nàng mỉm cười nhìn lên lúc tôi bước vào, một vết lem quệt trên cằm nàng, và một vết khác dọc theo cánh tay giữa cườm tay và khuỷu tay.

«Em đang xem mấy bức này,» nàng nói. «Ông không phiền chứ?»

Tôi nói lẽ dĩ nhiên là không, tôi có phiền hà gì đâu.

«Tranh đẹp lắm,» nàng nói. «Em nghĩ ông là một nghệ sĩ có tài. Có điều là một vài bức...» nàng giơ một tấm tranh lụa ra chỗ sáng... «Em không biết là ở đâu. Em chưa thấy những nơi này bao giờ cả.»

Tôi ngó qua bờ vai nàng vì nàng ngồi trên sàn. Nàng đang xem một bức tranh nhỏ mà tôi đã vẽ bằng thuốc màu những tòa nhà chọc trời ở khu Radio City. «Đúng rồi,» tôi bảo nàng, «cảnh mới đấy mà, những nhà chọc trời này mới xây chưa được bao lâu.»

«Em cũng đoán vậy, » nàng đồng ý.

Nàng ngắm bức tranh một hồi lâu, giơ ra phía cửa sổ, hướng về làn ánh sáng xám muộn của buổi chiều tà. «Kỳ thật đấy,» sau cùng nàng nói, «nhưng đôi khi ta biết rõ những cảnh vật mà ta chưa hề trông thấy bao giờ. Như thể là có một ngày mình sẽ nhìn thấy, và vì vậy mình nhớ ra là chúng giống cái gì rồi... Em nói thế có vẻ mập mờ, phải không ông?» 

«Tôi không biết,» tôi đáp. «Điều cô nói có vẻ lúng túng khó hiểu.»

« Hẳn đi rồi,» nàng nói, «Em cũng đoán vậy. Làm sao mà có thể nhớ được những gì mình chưa nhìn thấy.»

Nàng ngồi đó, bức tranh đặt trên đầu gối, mắt nhìn thẳng về phía trước. Lúc đó trong phòng hầu như đã tối rồi, tuyết bên ngoài mỗi lúc rơi mỗi mau, tạo nên thứ ánh sáng xám ở khung cửa sổ, và nhận chìm cảnh vật vào trong bóng tối. Nàng dường như cũng đang nhìn qua những lớp bóng tối, tới một nơi khác, một nơi xa vời, bí hiểm, bởi vì lồng ngực nàng đang phập phồng, đôi môi hé mở và tiếng thở dài não nuột thoát ra. Tuyết, bị cuốn theo luồng gió, bất ngờ thổi tạt ngang, tạo thành một thứ âm thanh nhẹ, như tiếng khạc nhổ lên khung cửa kính, và trên một dòng sông quanh đây một con tầu rúc vang tiếng còi cô độc. Nàng cục cựa bất an, nâng bàn tay lên và đụng phải bàn tay tôi. «Không,» nàng thì thầm, «không thể nào nhớ ra được.» 

Tôi tiến ra bật đèn, và căn phòng trơ trọi, bừa bãi, từ bóng đen lộ diện, phũ phàng và hiện thực, bốn bức tường hoen ố chứa đựng hiện tại trong một khối lượng ánh sáng bất động. Jennie khẽ kêu lên, nàng đứng phắt dậy: «Thiệt tệ quá,» nàng nói, «em chưa lau chùi gì cả.»

« Không sao,» tôi bảo nàng. «Nước sôi rồi. Pha ấm trà uống chơi.»

Sau đó, nàng lại là hiện thân của sự vui vẻ, nàng ngồi vào ghế, những ngón chân vừa chạm tới mặt sàn, đổ nước từ chiếc ấm han rỉ ra, lấy bánh mời tôi và nói năng vui vẻ, về đủ thứ chuyện. Tôi phải kể lại cho nàng nghe về cô Spinney, con người có trái tim sắt đá và thích tranh vẽ hoa, cùng là chuyện chúng tôi tranh luận với nhau về những bức phác họa và tôi đã thắng; nàng vỗ tay khoái trá. « Ồ, Eben,» nàng nói, «ông giỏi thiệt.» Nàng muốn nghe chuyện bác Gus và chiếc tắc-xi của bác. Nàng nghĩ là bác ta phải giàu lắm mới có riêng một chiếc tắc-xi. «Ông có nghĩ là một ngày nào đó em được đi xe của bác ta không?» Nàng hỏi. «Em chưa đi tắc-xi lần nào cả. Nhưng có lần em đi xe ngựa với má ở Công viên, bác xà-ích ngồi tít trên cao, đầu đội một chiếc nón cao.»

Nàng kể là bạn Emily của nàng sắp vào ở ký túc xá. «Em nghĩ có lẽ em cũng vào đấy với nó,» nàng nói. «Đúng ra, đó là một dòng tu gọi là Tu viện Thánh Mẫu, nhưng không phải Gia Tô giáo đâu. Trường ở trên đồi, từ đó có thể nhìn xuống dòng sông; con Emily nói là cứ dịp lễ Phục sinh là người ta lại ban phép cho những con heo. Ý em không tha thiết muốn đi, nhưng má nói em phải đi, và dù sao, Emily thì sắp đi rồi... Em sẽ nhớ ông lắm, Eben ạ.»

«Tôi cũng nhớ em, Jennie ạ, » tôi nói. «Trước khi đi em có muốn ngồi làm mẫu cho tôi vẽ không?»

« Em cũng đang hy vọng ông hỏi em điều đó,» nàng trả lời. «Có chứ, em muốn lắm chứ.»

«Vậy mai em trở lại nhé?»

Nhưng nàng ngoảnh đi, và khuôn mặt nàng biểu lộ một tình cảm lạ kỳ. «Em không biết,» nàng nói. «Em không biết có lại được không?»

«Ngày mốt vậy?»

Nàng lắc đầu. «Khi nào lại được em sẽ lại ngay, » nàng trả lời; và tôi không gạn hỏi nàng thêm được điều gì nữa. 

Tôi kể cho nàng nghe về chuyện bức chân dung bà Potterly của họa sĩ Tasker, và giá bán bức tranh quá cao — ấy là theo ý tôi nghĩ lúc đó — mà ông ta đã thâu được. Mặt nàng tươi hẳn lên, khẽ cất tiếng cười. «Nếu giàu có lớn như vậy ông có thích không?» Nàng hỏi. «Lúc đó ông đừng quên em nghe không.»

«Quên em được ư?» Tôi kêu lên với giọng hoài nghi.

« Khi nào ông giàu có và tiếng tăm lừng lẫy kia! Nhưng em hy vọng là ông sẽ không quên.» Nàng nói tiếp đầy vẻ hài lòng. «Bởi vì, chính em cũng có thể giàu có và nổi danh, và như thế là cả hai đều như nhau.»

Tôi nói: «Jennie ạ, riêng phần tôi, tôi không quan tâm đến chuyện làm giàu. Tôi chỉ mong muốn được vẽ và biết mình đang vẽ gì. Được vậy cũng khó lắm — biết mình đang vẽ gì; đạt tới một cái gì vượt trên thời buổi nhỏ mọn, đắng cay này ...»

«Có thật thời buổi này cay đắng lắm không? Eben.» Nàng hỏi với vẻ ngạc nhiên.

Tôi nhìn sững nàng, tự nhủ: dĩ nhiên rồi, nàng làm sao hiểu được niềm cay đắng, biết được tâm trạng người nghệ sĩ là người đã bị chiếm đoạt bởi một sự bí ẩn mà y bắt buộc phải tìm ra giải đáp, cùng lúc cho chính y và cho những bạn hữu của y; một sự bí ẩn của cái tốt và cái xấu, của hoa nở và của rữa tàn — sự bí ẩn của một thế giới chỉ biết quá chậm, luôn luôn quá chậm, phân biệt được đâu là sự tàn rữa, đâu là sự nở hoa.

Nàng quan sát nét mặt tôi, và đưa hộp bánh bích-qui cho tôi. «Này,» nàng nói, «hãy ăn một cái bánh. Rồi ông sẽ bớt cảm thấy khó chịu.» Tôi bật cười vì chính tôi, vì cả hai người; và nàng cũng phá lên cười.

Nhưng rồi nét mặt nàng lập nghiêm trở lại. «Ông hết buồn rồi chứ, phải thế không, Eben?» nàng hỏi, «Em có ý muốn nói lần đầu tiên em gặp ông trông ông ủ dột quá.»

«Không,» tôi nói, «Bây giờ tôi khá rồi. Buổi tối gặp em lần đầu tiên tôi phiền não quá — Tôi cảm thấy lạc lõng tựa như mình không còn phương sống được nữa.»

Nàng ngồi nép mình trong ghế, và giơ tay lên như sắp bị tôi hành hung. «Không,» nàng nói lớn, «Ồ không — đừng bao giờ nói vậy — đừng bao giờ nữa. Vả lại, ông không thể tuyệt vọng được — hiện ông còn ở đây, ở đây không thể là lạc lõng được. Không thể lạc lõng; không nên tuyệt vọng. Không, em không chịu nổi điều ấy.»

Và quay lại tôi với vẻ ái ngại, nàng nói thêm:

«Cả em và ông chúng ta sẽ không thể tuyệt vọng.»

Sự nặng nề kéo dài một chập, rồi tan biến — chúng tôi lại trở lại với thực tại, trong căn phòng, với bốn bức tường vàng khè dưới ánh sáng, với làn tuyết xám bên ngoài, và những bức tranh của tôi vương vãi trên mặt sàn quanh tôi, cái thế giới mà tôi quen biết, cái thế giới mà tôi trông thấy hàng ngày, có thực và vây quanh tôi. «Không,» tôi nói, «Tôi không tuyệt vọng. Tại sao tôi lại tuyệt vọng nhỉ?

«Ăn nói xàm bậy không à.»

Nàng ngẩng lên cười với tôi, nụ cười thật là héo hắt, «Đúng rồi,» nàng nói, «thật là nhảm. Chúng ta đừng bao giờ nói như vậy nữa.»

«Bởi vì,» tôi nói, « đối với các cô gái bé nhỏ như em...»

« Phải,» nàng đáp nghiêm nghị, «với những cô gái bé nhỏ như em.» Nàng đứng dậy, đưa tách nước của nàng cho tôi, và cả bình nước trà nữa. « Này,» nàng nói. «Ông đi rửa sạch hết đi kẻo lại quên.» 

« Đúng đấy,» tôi nói. «Đợi tôi một chút; tôi sẽ lên ngay.»

« Vâng,» nàng đáp. «Em sẽ đợi ông.»

Tôi xuống dưới nhà; cầu thang tối om; cánh cửa phòng khách của bà Jekes khép chặt. Tôi có thể nghe tiếng tuyết rơi xuống mặt kính gắn trên mái nhà. Tôi súc chén tách, rồi vội vã đi lên. «Jennie,» tôi gọi. 

Nhưng nàng đã đi rồi, căn phòng vắng ngắt. Tôi đã không nghe tiếng chân nàng đi ra; tôi không nghe tiếng cánh cửa dưới nhà khép lại. Nhưng nàng đã đi rồi.

Mãi sau tôi mới sực nhớ ra là tôi đã quên ngay đến cả việc hỏi xem nàng ở đâu.

« Lùi
Tiến »

Truyện bạn đang đọc dở dang