Chân Dung Nàng

Lượt đọc: 1477 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG VIII

Sau trận bão tuyết, thành phố sáng lóng lánh lên trong một lát; rồi thì tuyết được hốt lại thành đống như những ngọn đồi trắng xóa và được những chiếc xe vận tải mang ra đổ xuống sông. Suốt cả ngày, thinh không vang lên những âm điệu của mùa đông, những âm thanh khiến một đứa trẻ nhớ lại thời thơ ấu — tiếng xẻng gỗ va trên mặt băng đá, tiếng leng keng của những chiếc búa chim, tiếng rồ, tiếng rít của động cơ xe hơi, và những tiếng nho nhỏ êm tai của xích sắt trườn trên tuyết. Tôi vẽ một bức phác họa cảnh sông, với dòng sông chảy xiết màu chì, và một bức tranh sơn dầu cảnh Công viên, có những đứa trẻ chơi quanh quẩn. Nhưng nói chung ra tôi muốn thảnh thơi không làm gì, đi lang thang trong thành phố, và để cho tâm trí tha hồ phiêu du. Tôi tiếp tục nghĩ tới bức chân dung nàng Jennie mà tôi mong muốn thực hiện, và tôi băn khoăn tự hỏi không biết đến bao giờ mới gặp lại nàng. Tôi không còn coi nàng là một đứa bé nữa. Hồi đó đối với tôi hình như nàng không còn thuộc về một lứa tuổi đặc biệt nào nữa, hay là nàng ở lứa tuổi giao thời, lứa tuổi mà ta không thể nói rằng đứa trẻ đang là một thiếu nữ, hay ngưởi thiếu nữ ấy là một đứa trẻ. Tâm trí tôi lui lại và ý nghĩ tôi lảng xa niềm bí ẩn bao quanh đời nàng. Tạm đủ rồi khi nghĩ rằng, bằng cách này hay cách khác, với lý do nọ hay lý do kia, ở một nơi nào đó mà nàng có những ràng buộc với cõi đời này thì nơi đó tôi cũng có những ràng buộc của tôi. 

Bây giờ thì tôi nhận thức rằng dù có biết niềm bí mật đó chăng nữa thì cũng chẳng thay đổi được gì. Sự việc không ở trong tay tôi, không có gì tùy thuộc nơi tôi cả; tôi không thể đem mùa xuân đến sớm hơn định kỳ, tôi không thể níu giữ mùa đông đang lẩn trốn sau lưng.

Đôi khi vào hồi mạnh hạ hay buổi quý thu lại có một ngày khả ái hơn tất cả những ngày khác, một ngày mà thời tiết đẹp đến nỗi con tim rộn ràng, như đắm chìm trong một giấc mơ xa, ngây ngất trong một niềm khoái cảm vượt lên trên cả thời gian và sự đổi thay. Mặt đất, bầu trời, mặt biển mang màu sắc thắm thiết nhất của chúng, tất cả đều lặng yên, không một gợn gió và rực rỡ; nhỡn quan phiêu diêu như cánh chim vượt không gian, trong một thinh không bất động. Tất cả đều quang đãng và sáng ngời, không bao giờ hết, không bao giờ thay đổi. Nhưng chiều xuống, làn sương dâng lên; và từ mặt biển dáng xám đe dọa bừng dậy.

Ở Truro người ta gọi đó là điềm báo trước về thời tiết. Tôi cũng nghĩ vậy; tôi thấy hình như trời đất tắm gội trong một thứ ánh sáng tinh khiết, an lành. Sự chết bị chặn lại, những gì xấu xa bị xua đuổi; tiếng người than khóc, sự điên dại, sự khắc khoải đều im tiếng, và trong sự yên lặng, tôi nghe thấy âm thanh của những sự vật ở xa, như tiếng sóng rì rào. Vì bên kia chân trời chết chóc, còn có gì khác nữa; bên trên sự tội lỗi, còn có thế giới tinh thần chưa tới được, không bị khuấy động và rất xa vời.

Ngày xưa, cách đây không lâu lắm, người ta nghĩ rằng mặt đất bằng phẳng và nơi bầu trời và mặt đất giao nhau là giới hạn của thế giới. Ấy vậy mà khi người ta căng buồm đi tới cái chỗ phi thường đó, thì vẫn thấy mình vượt qua được và rồi lại trở lại nơi khởi hành. Điều đó đã dạy cho họ biết là trái đất tròn.

Có thể là nhờ đó người ta còn học được nhiều điều khác nữa..

Cái mùa ngắn ngủi và hạnh phúc năm ấy tôi càng sung sướng hơn khi anh bạn Arne Kunstler, từ Provincetown đến chơi. Một buổi sáng anh ta xuất hiện với chiếc áo lông cừu, người to lớn, mặt đỏ gay, râu ria xồm xoàm trông như một nghệ sĩ thời 1880. Nhưng cái vẻ tương tự đó ngừng ngay ở bộ râu; không có nét nào khác ở nơi anh gợi lại thời xưa cả. Anh mang từ mũi Cape tới một cuộn lớn tranh lụa, và đem căng lên trên những giá vẽ trong xưởng vẽ của tôi. Những bức tranh man dại, và hung bạo chiếu hực vào mắt tôi từ những bức tường và từ mặt sàn, giống như những quang cảnh của hỏa ngục. Đặt bên cạnh những bức ấy, những bức tranh tôi vẽ có vẻ dè dặt, hiền lành, lạt lẽo và quá mực thước.

Anh ta không hài lòng vì tôi. «Cậu đang vẽ gì đấy, Eben?» anh hỏi. «Chân dung — hoa lá — có chuyện gì xảy ra vậy?» anh tiếp, «cậu chưa cố gắng để trở thành một họa sĩ lớn; nhưng tớ nghĩ là dù sao cậu cũng còn hy vọng.»

Giọng nói của anh, giống như giọng nói của một vị thuyền trưởng già, lúc nào cũng cất cao như âm giai một cơn bão nửa vời. Tội nghiệp cho Arne, tôi chả bao giờ coi hắn ra gì, dầu cho hắn đã khản cổ la gầm; còn về những bức tranh hắn vẽ, thì đã từ lâu tôi hết cố gắng tìm hiểu rồi. Nhưng tôi mến hắn, vì chúng tôi đã từng là bạn đồng song với nhau; và vì gặp hắn tôi thích lắm. Trí não hắn giống như một cái hầm chứa gió, gió thổi từ khắp các góc cùng một lúc, một trận bão những ý kiến; hắn đam mê màu sắc, tựa như một tên cướp biển Viking ngày xưa lao mình một cách điên dại vào một cây cầu vồng. Hắn sống chẳng trông vào đâu; tôi e là cả năm hắn không bán nổi một bức tranh. Nhưng hắn là một người sung sướng, vì không bao giờ hắn hoài nghi về thiên tài của mình. Ước vọng của hắn ít ỏi; và nỗi buồn của hắn thật mênh mang, nhưng không đau đớn.

Nhận xét tha thiết của hắn là: «Nghệ thuật phải phụng sự quảng đại quần chúng.» Nhưng khi tôi lưu ý hắn rằng không có quần chúng nào hiểu nổi tranh của hắn, thì hắn nhìn tôi kinh ngạc. «Hiểu à?» hắn nói như gầm lên, «hiểu à? Ai đòi họ hiểu? Nghệ thuật chỉ có nghĩa với chính tinh thần sáng tạo mà thôi.»

«Ngoài ra,» hắn tiếp, «quần chúng không ngu ngốc quá như cậu tưởng đâu. Thử xem cái cách họ hoan nghênh thi sĩ Homer đó.»

«Nhưng họ không thưởng thức những bức thủy thái họa của ông ta.» Tôi cãi. «Vả lại, cậu với Homer thử hỏi là có gì giống nhau đâu?»

Lẽ dĩ nhiên là hắn không trả lời được. Hắn ầm ừ trong bộ râu, «Tớ chỉ có ý chứng minh cho cậu... Nhưng rồi cậu sẽ thấy,» hắn rống lên, «y hệt vậy mà.»

Hắn mang quá khứ cùng với hắn, những ngày vô tư, thanh thản xưa trong nắng gió miền Tân Anh Cát Lợi, mùa đông trong xưởng vẽ Dufoix ở đường Saint-Jacques — căn phòng rộng lớn, hoang lạnh, âm u có chiếc lò sưởi đốt than, và những cậu sinh viên rét run, những buổi tối trong quán rượu nhỏ ở Boule Miche (1) — những bài học nhập môn ở trường Cao đẳng, dưới sự hướng dẫn của hai giáo sư Hawthorne và Olinsky — những ngày làm việc, những đêm tranh luận, khi phải cố giải quyết dứt khoát những vấn đề như chân lý vĩnh cửu..., và không ngừng suy nghĩ thế nào là một nghệ sĩ và tác dụng của những bức tranh. Tôi dẫn hắn đến viện bảo tàng Nghệ thuật Mới, để xem những bức tranh của Modigliani, đến bảo tàng Ferargil, xem tranh riêng của Broekhurst, họa sĩ tôi mến phục nhất; nhưng hắn chê tất cả, hắn cóc cần xem tranh của ai ngoại trừ tranh của chính hắn.

Nữu ước là thành phố hắn hâm mộ, đến từ mùa đông lộng gió, tầm thường của mỏm Cape, hắn giúp tôi nhìn bằng cặp mắt mới ngọn núi đá cao vút, những đường chân trời đẫm nắng, những bóng tối chiếu quanh tôi. Và tim tôi, nơi ấp ủ biết bao nhiêu hoài nghi, lo lắng cũng bắt đầu quang đãng, được khích động bởi hy vọng, bởi thời tiết sáng sủa, và bởi một cái gì khác nữa mà tôi không biết gọi là gì, bắt đầu rộn ràng nở ra trước niềm vui hướng về tương lai.

Chẳng cần nói, bà Jekes thấy Arne là ghét y liền. Ngay đêm đầu tiên, bà lật đật lên lầu, mặt xám nhợt và nghiệt ngã, bà yêu cầu chúng tôi bớt huyên náo — Bà có vẻ truyền lệnh hơn là yêu cầu, bà đứng trên ngưỡng cửa, hai tay chắp trước bụng, mắt lụt cay cú. «Không hiểu các cậu coi nhà này là loại nhà nào,» bà nói, «các cậu tính làm gì vậy? Ở đây cũng có nhiều người cần nghỉ ngơi chứ, nếu cần tôi có thể gọi cảnh sát bất kỳ lúc nào.»

Tôi không có lý do để oán trách bà, vì chúng tôi còn trẻ và sung sướng, và chắc là chúng tôi đã làm ồn ào lắm. Tôi sợ Arne vác đồ liệng bà ta, nhưng sau khi nhìn bà ta một chặp, bối rối, hắn ấp úng «xin vâng lệnh bà,» và lẩn vào một xó. Sau khi bà bỏ đi, xuống thang rầm rầm như bước chân của cả một đoàn quân, tôi thấy mặt hắn tái nhợt, và khó chịu ra mặt. Tôi phá lên cười diễu hắn, nhưng hắn xua tay nói. «Đừng, Eben, cậu cười thế là lầm. Thật là một mụ đàn bà dễ sợ. Mụ đột nhập như một tảng băng đen, làm cho tranh vẽ của tớ đông cứng lại. Thôi, thôi, từ bây giờ tớ sẽ nói khẽ thôi.»

Nhưng mặc dầu tôi cười hắn, tôi nhớ mãi lời hắn nói. 

Cả tuần lễ, tôi lang thang dạo khắp thành phố cùng với Arne, ngây ngất trong bầu không khí tươi mát, cùng với người bạn thân. Tôi dẫn hắn đến quán Alhambra, nơi đây, chẳng cần nói, hắn ầm ầm bình phẩm bức bích họa của tôi cũng tựa như họa sĩ Dufoix đã làm thế ngày trước ở Ba lê. Theo ý hắn, tôi đã thực hiện một phong cảnh vừa xuẩn ngốc, vừa tầm thường; mặc dầu lúc đó, có một đĩa bắp cải muối chua trước mặt, hắn vẫn nghĩ đến việc hắn có thể vẽ một bức họa, có thể là ở bên trên cửa đi vào bếp để đền bù cho một tuần lễ ăn đồ ăn ngon. Ông Moore suy nghĩ về đề nghị này một lúc, nhưng sau khi ông xem qua một tác phẩm làm mẫu của Arne, ông bèn lắc đầu có vẻ lấy làm tiếc. «Tôi không dám nói rằng ông Kunstler đây là một họa sĩ kém tài,» ông nói, «nhưng tôi phải nghĩ tới khách hàng. Tôi muốn mọi người đến đây đều hỉ hả cả.» 

« Không sao,» Arne nói. « Bỏ qua chuyện ấy đi.»

«Vâng,» ông Moore nói. «Dù sao tôi cũng cám ơn đề nghị của ông.»

Bác Gus cũng cố gắng an ủi hắn. «Không sao, Mack ạ,» bác nói, «có nhiều người chẳng nhìn thấy gì ngoài miếng ăn ra. Lấy trường hợp tôi đây chẳng hạn. Khi có giờ rảnh tôi khoái ngắm cái gì đẹp. Nhưng còn phần lớn người ta không nghĩ vậy đâu. Họ chỉ biết nói đem cho đĩa xúp rồi húc đầu vào ăn.»

«Bỏ qua chuyện ấy đi.» Arne nói. Hắn vung tay lên một cách đường bệ. «Họa sĩ đâu có vẽ để kiếm ăn,» hắn tuyên bố. «Eben, tụi mình làm mỗi thằng một ly la-de nữa đi, khi nào khá moa sẽ đãi lại.»

«Ồ», bác Gus nói, «đây có tên bồi bàn nè.»

Bàn tay to, gân guốc của hắn ôm quanh chiếc ly, Arne mỉm cười nhìn chúng tôi, «Uống mừng nghệ thuật,» hắn nói.

«Và mừng bạn hữu,» tôi tiếp.

«Tất cả bạn của Mack, đều là bạn của tôi.» Bác Gus phụ họa. 

Chúng tôi chúi mũi vào bọt bia vàng. «Đâu có khác gì,» Arne nói, tiếng gầm tương đối khẽ hơn, ngưng lại thở, «nghệ thuật chỉ có nghĩa đối với người nghệ sĩ sáng tạo ra nó mà thôi.» 

Chú thích

(1) Boulevard Saint-Michel, một đại lộ chính tại quận V, trung tâm thủ đô Paris.

« Lùi
Tiến »