Arne trở lại Provincetown bằng tàu thủy và xe buýt, để lại như một tặng phẩm hay như để trả ơn tôi về chỗ ngủ và sự tiếp đãi, một bức tranh mà hắn giải thích là cảnh hoàng hôn, vẽ bằng những mầu sắc trước đây chưa từng có trên thế gian này, ít nhất là từ thời đại loài bò sát xuất hiện — bức tranh ấy, ngay sau khi hắn quay lưng đi, tôi đã không chần chờ gì mà đem giấu ngay xuống dưới gậm giường.
Nửa tháng sau đó, tôi bận việc ở nhà cũng như ở quán Alhambra. Trong số các bức họa, tôi hoàn tất được bức vẽ hoa cho cô Spinney, và tôi mang xuống phòng triển lãm cho cô ta. Đúng như điều tôi lo sợ, ông Mathews càu nhàu khi thoạt thấy. «Này,» ông la, «tại sao cậu lại nghĩ quẩn như vậy... Tranh vẽ hoa... hoa lay-ơn mới chết chứ, hết hoa rồi à. Bộ cậu tính cho chúng tôi làm gì đây?»
Tôi cãi là cô Spinney đặt tôi vẽ, và hoa lay - ơn là loài hoa duy nhất tôi có thể mua được nơi người bán hoa. «Bây giờ đang mùa đông,» tôi nhắc nhở ông, «làm gì có các loại hoa mùa hè.»
«Spinney,» ông Mathews nói, «cô giết tôi rồi.»
Ông la lên một tiếng bất bình.
«Không sao», cô Spinney bình tĩnh đáp, «tôi ưng tranh đó. Trả cậu ta ba chục đô-la, thế nào tôi cũng bán được từ nay tới cuối tuần.»
Nhưng đây là lần đầu tiên ông Mathews không chịu để cô ta ăn hiếp. Đứng trước một bức tranh hoa lá, ông tỏ ra bướng bỉnh.
«Hai mươi lăm thôi,» ông nói, như con chuột bị cùng đường, «hơn một xu nữa tôi cũng không mua.»
Cô Spinney cẩn thận dò xét ông; cô biết lúc nào có thể cứng rắn, lúc nào phải nhân nhượng.
« Thôi được,» cô nói, «hai mươi lăm cũng được. Được chứ cậu Adams?»
Thực ra, tôi sẵn sàng bán cho cô giá thấp hơn, hay tặng không cho cô. «Kể ra cũng hơi rẻ,» tôi nói, «nhưng thôi cũng được.»
«Cậu cũng đá lắm!» cô nói kèm theo một nụ cười lạnh lùng. «Tôi cũng vậy. Cũng vì thế mà tôi mến cậu.
«Cho đến lúc này,» cô nghiêm nghị tiếp, «chúng tôi toàn bị thua lỗ với mớ tranh của cậu. Cậu cũng đừng tự tạo những ảo tưởng.»
Ông Mathews gãi cằm có vẻ khổ sở. «Ồ,» ông nói giọng ngượng ngập, «không hẳn là như vậy, cậu Adams ạ, cho đến lúc này mới bán có một bức thôi, lẽ dĩ nhiên là còn lại mấy bức nữa.»
«Bỏ qua chuyện ấy đi,» cô Spinney nói, «cậu Adams biết chuyện lắm. Cậu ta hiểu tôi nhiều.»
Tuy vậy, lúc tôi đi ra, cô kéo tôi lại gần và dúi tấm giấy năm đô-la vào tay tôi. «Tôi nói ba chục là ba chục,» cô nhấn mạnh. Tôi cố trả lại, nhưng cô đẩy tôi ra ngoài cửa, «Thôi đi đi, Adams,» cô nói, «đi đi, đừng trêu tức tôi.»
Ngày hôm sau tôi sửa soạn một tấm lụa khoảng thước rưỡi; tôi căng lên khung vẽ, thấm nước một mặt, và bắt đầu lấy dao tô sơn quết lên đó một lớp diên bạch. Rồi tôi đưa ra phơi. Đó là một xảo thuật mà họa sĩ Jerry Farnsworth đã dạy tôi hồi còn ở trên mỏm Cape.
Sau đó không còn gì để làm, tôi đành chờ đợi.
Cuối tuần ấy Jennie đến. Tôi nghe tiếng bước chân nàng nhẹ nhàng lên thang và tôi vội vã chạy ra mở cửa. Trông nàng rất xanh, tôi nghĩ thế, và lúc đó nàng bận quần áo trông như đồ tang. Nàng đứng ở cửa phòng, nhìn tôi đầy vẻ trắc ẩn.
«Ba má em,» nàng nói. «Ba má em gặp tai nạn.» Nàng gượng cười, nhưng mắt nàng đẫm lệ, và nàng phải chớp mắt liên hồi để giữ cho nước mắt khỏi trào ra. «Ba má chết rồi,» nàng nói gần như với vẻ ngạc nhiên.
«Tôi biết,» tôi trả lời, không suy nghĩ, rồi cắn môi lại. Tôi cầm tay nàng, dẫn vào trong phòng. Tôi nghĩ là mình cần nói đôi lời, cần giải thích tại sao mình biết... «Tôi có đọc tin ấy,» tôi bảo nàng, «trên mặt báo.»
«Ồ,» nàng đáp giọng mơ hồ. «Vâng.» Nhưng chắc chắn lúc ấy nàng không để ý đến tôi.
Tôi dìu nàng ngồi xuống, gỡ nón và áo choàng để lên trên giường. «Jennie, tôi thành thật chia buồn.» Tôi ấp úng.
Nàng thở dài não nề. «Ba má thương em lắm,» nàng nói giọng run run. «Em cũng ít khi gặp ba má, Nhưng... ba má chết thảm như thế...»
«Tôi hiểu điều đó,» tôi đáp.
«Ồ, ông Eben,» nàng kêu lên, rồi ôm lấy mặt mà khóc.
Tôi muốn dỗ dành nàng; nhưng tôi nghĩ cứ để nàng khóc cho hả thì hơn. Quay lưng đi, tôi tiến ra phía cửa sổ, chăm chú nhìn vòm trời xanh thăm thẳm. «Thế nào,» tôi nói sau một hồi yên lặng, «bây giờ em không muốn ngồi làm mẫu nữa phải không?»
Tôi không quay lại, nhưng tôi biết là nàng đang ngồi thẳng lên và đang hỉ mũi. «Em muốn lại đây,» nàng nói ngập ngừng. «Em muốn lại thăm ông. Chỉ muốn có mặt tại đây.» Nàng khẽ nấc, sau cơn khóc; rồi thở dài run rẩy.«Em vẫn có thể ngồi làm mẫu được,» nàng kết luận. «Dẫu rằng trông em không đẹp lắm.»
Tôi nghĩ là, trái lại, nàng còn đẹp hơn trước. Nước mắt không để lại dấu vết gì trên khuôn mặt trẻ trung của nàng, mà chỉ đã rửa đôi mắt nàng khiến chúng đen hơn, mơ màng hơn. Tôi mời nàng ngồi vào ghế, và căng phía sau lưng nàng một tấm lụa cũ màu vàng, tấm lụa tôi đã mua nhiều năm trước hồi còn ở Paris. Loay hoay một lúc mới căn được ánh sáng rọi xuống theo đúng ý muốn, và đặt giá vẽ đúng góc; trong khoảng thời gian ấy nàng ngồi yên, đăm đắm nhìn phía trước mặt, chẳng nói năng gì. Khi đã thu xếp tất cả đúng theo ý muốn, tôi căng lụa lên giá vẽ và bắt đầu làm việc.
Bức họa tôi bắt đầu bữa đó khỏi cần tả lại, vì phần lớn quí vị đã thấy nó ở viện bảo tàng Metropolitan, tại Nữu Ước. Đó là chân dung người thiếu nữ tới tuần cập kê, ngồi trước tấm phông màu vàng. Bảo tàng viện gọi nó là Thiếu nữ áo đen, nhưng riêng với tôi thì bao giờ nó cũng chỉ là nàng Jennie.
Tôi làm việc trong yên lặng, đúng hơn là trong một giấc mơ, tràn ngập một nguồn cảm hứng lạ lùng. Tôi say sưa vẽ, quên cả thời gian; chắc tôi phải làm việc trên hai giờ liền, cho tới khi tôi bỗng nhìn thấy Jennie gập người trên ghế và sắp chuồi xuống mặt sàn. Tôi quẳng cây cọ vẽ xuống và nhảy bổ lại gần nàng, tim thót lên ngang họng. Nhưng khi tôi vực nàng dậy trong cánh tay tôi, nàng mở mắt, và mỉm cười rụt rè nhìn tôi: «Em mệt quá, ông Eben ạ», nàng chỉ nói có thế.
Tôi thấy nàng nhẹ như miếng bấc. Tôi đặt nàng nằm xuống giường, lấy áo choàng của nàng đắp lên người, và đổ nước vào ấm đặt lên lò đun để pha trà. Lúc pha xong nước, tôi ép nàng uống; và một chút ửng hồng hiện lên đôi má. «Bây giờ em thấy khỏe rồi», nàng nói. «Em không lạnh lắm đâu. Em có thể ngồi làm mẫu lại, nếu như ông muốn.»
Lẽ dĩ nhiên là tôi từ chối. «Không,» tôi nói, «bây giờ em cần nghỉ. Em là người mẫu lý tưởng nhất; chúng ta đã cộng tác rất hữu hiệu, chúng ta đã khởi công rất tốt. Còn thiếu gì thời giờ.»
Nàng lại khẽ buông một tiếng thở dài thật nhỏ, gần như tiếng thì thầm. «Không,» nàng nói, «không còn mấy đâu. Nhưng, em sẽ nghe lời ông, em sẽ nằm nghỉ, nếu ông bảo em làm vậy.»
Run run, nàng nằm dưới tấm áo choàng, nhắm mắt lại, mái tóc đen như đêm tối trải xoã trên tấm gối của tôi, bàn tay nàng lạnh như đất đặt trong tay tôi. Tôi đứng ngó xuống nhìn nàng, đường cong hẹp của vầng trán trẻ trung, những sợi lông mi dài dịu dàng kéo xuống tận dưới mi; tôi nghe tim thót lại trong một xúc cảm có pha trộn sự sợ hãi và niềm vui ngây ngất. Em là ai? tôi nghĩ, nguyên nhân nào đã đưa em lại đây với tôi?... Thơ ngây và xa lạ, cô đơn và lạc lõng, toát ra từ một truyện nào từ thuở xa xưa?...
Chắc hai bàn tay tôi run rẩy, vì nàng mở mắt nhìn tôi nghiêm nghị. «Ông là người thân thiết độc nhất của em hiện nay, ông Eben ạ,» nàng thì thầm.
Tôi giật mình, nửa kinh ngạc, nửa thất vọng; nàng buông bàn tay tôi ra, rồi ngồi nhổm dậy, thu mình trong chiếc áo choàng, đôi cánh tay gầy ôm lấy đầu gối. «Ngoài dì em ra,» nàng nói để trấn tĩnh tôi. «Có điều là em không biết về bà mấy. Từ đây dì em sẽ chăm nom em.»
« Thế là» tôi nói giọng ngượng ngập, «thế là đâu sẽ vào đó cả, phải thế không em?»
Nàng ngước mắt nhìn tôi khẩn khoản; đến lượt nàng cần được trấn an. «Ông muốn em lại đây,» nàng hỏi giọng ngập ngừng, «phải không? Ý em muốn nói, đến đây ngồi làm mẫu. Bộ ông không muốn em lại đây nữa hay sao?»
Tôi không thể nói nên lời, nhưng chắc nàng đã đọc được trên nét mặt tôi câu trả lời cho những thắc mắc của nàng, vì tôi thấy nàng mỉm cười, và vuốt tóc xòa trên mặt về phía sau với cùng một dáng điệu trong buổi chiều gặp gỡ đầu tiên — đã bao nhiêu năm qua rồi? — trên lối đi dạo. «Khi nào có thể được em sẽ trở lại ngay,» nàng nói.
«Jennie —» tôi bắt đầu, giọng tắc nghẹn.
«Chi đó, Eben?»
Tôi quay mắt nhìn đi, sau hết, phải nói gì đây? Chẳng có gì để nói; tôi cũng không biết mình nghĩ đến cái gì. «Bà dì em ở đâu nhỉ?» tôi hỏi. Ít nhất, tôi nghĩ, mình cũng phải biết bà ta ở đâu, và nếu cần, thì còn biết lối mà kiếm. Nhưng nàng lắc đầu. «Biết chỗ em ở thì có ích chi đâu?» nàng nói. «Ông không đến với em được đâu. Em, chỉ có em, là có thể tìm đến ông thôi.»
Nàng nói với giọng buồn bã, với tất cả vẻ hiền dịu, nhưng rất là dứt khoát. Rồi chúng tôi nhìn nhau một hồi, như nhìn qua một vực thẳm không những chỉ chứa đựng khí trời — mà còn là một vực thẳm chưa có một linh hồn nào vượt qua được trước đây, để ra đi hay để trở về... Nàng phác một cử chỉ nhẹ nhàng, vô vọng, như muốn níu lấy tôi. Và rồi giây phút ấy qua đi, và một lần nữa nàng lại rút về với chính nàng, một người xa lạ, mơ tưởng tới một chuyện gì mà tôi không thể hình dung ra được.
Nhưng tôi vẫn tin là cả hai chúng tôi cùng cảm thông.
Một lúc sau, nàng đứng dậy đội nón, mặc áo choàng.
«Tạm biệt ông, Eben,» nàng nói, «em sẽ trở lại ngay khi nào có thể. Em vội quá — thật vậy.»
Nàng ngước nhìn tôi với đôi mắt to và đen, và tha thiết, «Em không muốn cho ông biết,» nàng nói.
Nàng quay phắt đi, hấp tấp ra cửa. «Ráng đợi nghe ông,» nàng thì thào.
«Ráng đợi em ông nhé.»