Đôi khi người ta phải tin cả những điều người ta không hiểu nữa. Đó là phương pháp của nhà khoa học cũng như của nhà thần bí học: đứng trước một thế giới tất nhiên là không cùng và vô hạn, ông ta chấp nhận điều ấy, mặc dầu ông ta không thể hình dung nổi. Bởi vì không có hình ảnh nào trong tâm trí chúng ta về vô cực cả; nhưng ở một điểm nào đó, ở biên giới xa xăm nhất của tư tưởng, chúng ta không ngừng tưởng tượng ra chỗ tận cùng vô cực. Mặc dầu không có chỗ tận cùng? Thảng hoặc, nếu có, chỗ tận cùng đó phải chăng lại là chỗ khởi điểm...
Khi Jennie trở lại, nửa tháng sau đó, tôi nhận ra nàng đã to lớn hơn những lần gặp gỡ trước. Nàng bận đồng phục như những thiếu nữ thường bận ở trong các ký túc xá của dòng tu — chiếc áo ngắn kiểu lính thủy, và chiếc jupe buông dài gần tới mắt cá. Nàng tung tăng bước lên thang, quẳng chiếc nón lên giường.
«Eben,» nàng cười nói, «vui quá.»
Tôi sựng người mất một lúc, bởi tôi không ngờ tới một sự việc như vậy. Không còn gì nhắc tôi nhớ tới lần gặp gỡ trước đây; thực vậy, không còn dấu vết trẻ thơ nào nơi nàng nữa, theo sự nhận xét của tôi. Ngược lại, nàng có vẻ như đã bước vào thời kỳ nẩy nở mạnh mẽ của tuổi thanh xuân. Tôi nghĩ: mình phải hoàn tất bức họa mau lên, kẻo không kịp nữa...
Tôi không thể không nói. «Jennie, em lớn mau quá. Và bộ đồ này nữa...»
Nàng cúi xuống tự ngắm mình, và nói với một nụ cười buồn bã. «Em biết,» nàng đáp. «Trông khiếp lắm, phải không? Ở nhà dòng người ta buộc tụi em phải bận bộ đồ này.»
Bỗng nàng im bặt, nhìn tôi với vẻ sửng sốt. «Ồ,» nàng nói, «lẽ dĩ nhiên là... ông chưa biết... Em vào ký túc xá Sainte-Mary rồi, cả con Emily nữa. Dì em gửi em vào đấy.»
«Tôi cũng đoán là thế,» tôi trả lời. «ừ nhỉ — tôi đang có ý đợi em đây, Chúng ta nên bắt đầu lại chứ.»
Nàng ngồi vào ghế, và tôi mang ra một tấm áo choàng đen cũ của tôi và quàng lên trên chiếc áo kiểu lính thủy. «Để lần khác tôi vẽ áo,» tôi bảo nàng «Áo tôi vẽ được khỏi cần em làm mẫu.»
Nàng ngồi rất thẳng và cứng trên chiếc ghế. «Đúng rồi,» nàng bĩu môi ra nói, «gặp em ông không vui chứ gì?»
Buổi vẽ lần này khác hẳn lần trước, khó khăn hơn trước. Jennie xốn xang, rất vui, được vài phút nàng lại muốn ngừng lại để nói hay chạy qua chạy lại trong phòng. Nàng không ngớt nói đến nếp sống nội trú, ngây ngất vì tình bạn, kẻ đi người đến và những chuyện xảy ra trong cái xã hội nhà dòng — sung sướng vì có bạn, có tâm sự riêng — lần đầu tiên trong đời, nàng là thành phần của một cộng đồng nhỏ bé. Có một bài thánh ca nàng cần khoe tôi; những cuộc đi chơi hàng ngày ra nhà ươm cây, nơi đó bọn nữ sinh được phép mua trái cây của các dì phước; những bó hoa nhỏ chúng tặng lẫn nhau mà chúng gọi là «trang sức bằng hoa»; trường nhà dòng tọa lạc trên ngọn đồi nhìn xuống dòng sông long lanh; và Dì phước Therese, phụ trách môn toán và sử học, dì có bộ mặt bình thản và trầm lặng, đã làm nảy sinh trong lòng Jennie kinh nghiệm đầu tiên, vừa êm ái, vừa nồng nàn, về tình yêu. Rồi chuyện con Emily, dĩ nhiên, với những chuyện thầm kín và căn phòng mà Jennie chia xẻ; hai đứa bận chung tất vớ, áo khoác; và trong ngăn tủ của Emily — nhưng dĩ nhiên là lúc vắng người mới được mở — có tấm hình một người con trai mặc áo cổ cao, có đôi mắt đen và mái tóc chải làn sóng, dưới có dòng chữ in, Mr. John Gilbert.
Đúng thế — Jennie đã thay đổi; tôi cũng nhận ra là nàng hơi đẫy đà ra. Đại khái, tôi cho là sự đổi thay ấy khiến nàng dễ coi hơn. Tôi để mặc cho nàng nói huyên thuyên, mình chỉ việc nghe thôi, những ngón tay tôi chạy lướt thành những đợt nét nhẹ trên tấm lụa, chúng ráng theo kịp đôi mắt tôi; và đôi mắt thì ráng tìm kiếm những gì chúng không thể nhìn thấy — không những các điều hiện có thực, nhưng cả những điều đã qua và những gì sẽ đến trong mai hậu. Tôi cảm thấy mình đang chiến đấu chống trả thời gian, và thấy mình bị lôi cuốn theo một luồng sóng khoái cảm trong lúc bức hình khai mãn dưới ngọn bút vẽ, và tôi lại nhận thấy, mỗi lần tôi lùi lại ngắm, cái sức sống bừng bừng, cái vẻ đẹp càng lúc càng tăng của bức vẽ.
Chúng tôi ngừng lại lúc giữa trưa để ăn qua quít mấy miếng, mặc dầu, ý tôí muốn tiếp tục mà khỏi cần ăn uống gì. Nhưng bắt Jennie nhịn thì không tiện. Té ra nàng đã nghĩ đến chuyện nấu ăn giùm tôi, trên chiếc bếp đun hơi của tôi; và nàng đã học môn gia chánh ở trường. Không may thay, cứ như chỗ tôi được biết, thì trong xưởng vẽ của tôi thật không có thứ gì cho nàng nấu nướng cả.
«Tôi còn mấy con cá mòi,» tôi nói, «một ít phó-mát, ít chiếc bánh lạt, và sữa nữa. Tôi rất tiếc, Jennie. Tôi đâu có biết là em đến, em thông cảm chứ.»
Nàng cất tiếng cười vui vẻ. «Dẫu sao thì em cũng chỉ nấu được mấy món đó thôi,» nàng nói. «Em biết làm trứng, nhưng không sao. Em sẽ nấu phó-mát».
Và quả nhiên nàng đã làm thiệt, lấy phó-mát đun chảy ra, cũng may không có mùi cháy khét mà tôi sợ bà Jekes ngửi thấy sẽ tức tốc chạy lên. Sau khi phó-mát chảy ra, nàng nhểu lên trên những chiếc bánh lạt, và phó-mát dính vào đó, không sao nuốt nổi, càng nguội càng giống cao su. Tôi ăn ít con cá mòi, và một lúc sau, nàng cũng ăn cá. «Vui quá ha?» nàng nói.
Lẽ dĩ nhiên với nàng thì vui thật. Bởi vì nếu con Emily có ông Gilbert thì Jennie có tôi — niềm tâm sự thầm kín và khích lệ để mà thì thầm to nhỏ với bạn nếu nàng muốn, hoặc giữ kín trong đáy tâm tư. Vào lứa tuổi này, ai cũng có tâm sự riêng; một tâm sự đặc biệt, riêng tư — vì bất kỳ một sự vật nào sống giữa trời và đất đều có thể là thành phần của một chuyện thầm kín lớn lao chung mà những tâm hồn trẻ trung vẫn thì thầm cho nhau nghe. Những cảnh vật mới lạ — những âm thanh mới lạ — những ý nghĩa mới lạ — những niềm vui, những nỗi sợ hãi mới — trái tim nàng, mà suốt cả thời thơ ấu, chỉ có độc một màu, đã biến thành cái ống kính vạn hoa, tạo bằng những mảnh kiếng màu mỗi lần thay vị trí lại tạo ra những màu sắc, những hình thể mới mẻ, ngạc nhiên hơn. Emily — Dì phước Therese... bài thánh ca và những bông hoa... và sau chót; tôi — tất cả đều thuộc về nàng, tất cả tạo nên tâm sự thầm kín riêng của nàng, niềm tâm sự không một ai biết được, trừ khi nàng thổ lộ.
«Bọn con gái vẫn tiếp tục hỏi thăm em về ông,» nàng tiết lộ. «Nhưng em chẳng nói gì với chúng cả. Ngoại trừ....» nàng suy nghĩ một giây... «là ông bảnh trai lắm...»
Và nàng bắt đầu đếm trên đầu ngón tay.
«Jennie,» tôi đáp, «đừng điên như vậy.»
«... và ông là một họa sĩ trứ danh; và ông đã có lần đói gần chết.»
Nàng cười với tôi, e thẹn. «Bọn nó khoái điểm này lắm. Chúng bảo như thế có vẻ lãng mạn lắm.»
«Trời ơi!» tôi than.
«Thiệt đấy,» nàng nói. «Chúng nó cũng nói là em đến với ông như thế này cũng là lãng mạn.»
Giọng nói của nàng vẫn còn vẻ đùa cợt, nhưng đôi gò má của nàng hồng lên, và nàng cúi đầu gập xuống. «Có lẽ đúng đấy,» tôi đáp, giọng hơi nghiêm nghị. «Nhưng chúng ta có việc phải làm cho xong, em uống nốt hớp sữa đi, rồi chúng ta bắt đầu.»
Cặp mắt nàng lo sợ nhìn tôi. «Ông không giận em chứ, Eben?» nàng hạ giọng. «Em nói đùa đấy mà.»
«Lẽ dĩ nhiên là tôi không giận,» tôi nói giọng hấp tấp, và rồi đứng lên, «Thôi bắt đầu làm việc đi — đồng ý chứ?»
Nàng trở lại chỗ cũ ngồi với dáng như chịu đựng một hình phạt; nhưng nàng không ngồi yên được lâu. «Eben!» nàng gọi.
«Hừm?»
«Thực tình em không nói ông đẹp trai.»
Lời nàng nói không làm tôi hài lòng mấy.
«Em mong có bộ đồ bảnh hơn để bận,» nàng nói sau một hồi yên lặng. «Chúng em mỗi đứa có một chiếc áo dài mầu xanh da trời với lại chiếc áo guimpe (1) để bận bữa chúa nhật, và đứa nào cũng phải choàng khăn dài trắng lúc lên nhà thờ. Chúa nhật vừa rồi khăn của con Emily rớt xuống; tại nó vội quá nên không kịp gài cẩn thận, và suốt bữa đó nó bị một ngày chẳng ai nói gì với nó cả.»
Không được trả lời về mẩu tin tức này, nàng nói sang chuyện khác. «Em thích một vài bài học,» nàng nói. «Em thích học khoa học, học toán. Nhưng em không thích môn sử ký. Học sử buồn quá.
«Óc em chắc kỳ lắm, em đoán vậy.»
Tôi cắn một cây cọ giữa hai hàm răng trong lúc xử dụng một cây khác, và tôi ầm ừ cho qua chuyện.
«Cả ông nữa, óc ông cũng kỳ lắm,» nàng nói.
«Có lẽ vậy,» tôi hưởng ứng lấy lệ. «Em khẽ quay đầu về bên mặt một chút —»
« Eben,» nàng bắt đầu ngay lập tức giọng hổn hển và hơi khác lạ, «ông có nghĩ rằng đôi khi người ta biết trước được việc sắp xảy ra không? em có ý nói là — việc sắp xảy ra cho họ ấy.»
Nhưng tôi đang làm việc, chỉ nghĩ đến việc mình đang làm mà thôi. Nếu không tôi phải ngưng lại — và suy nghĩ — và có lẽ sẽ băn khoăn nhiều về việc phải tìm cho ra câu trả lời. Trong tình trạng ấy, tôi chỉ nghe loáng thoáng, trả lời không cần suy nghĩ.
« Vô lý,» tôi nói.
Jennie yên lặng một lúc; rồi nàng chậm rãi nói, «Em không biết. Em cũng không dám chắc nữa. Ông biết là đôi khi mình buồn vì những chuyện — những chuyện chưa xẩy đến. Có lẽ đó là những chuyện sắp xảy ra. Có lẽ chúng ta linh cảm thấy, nhưng vì sợ nên không dám chấp thuận. Ông Eben ạ — nếu ông không thấy trước, thì làm sao ông có thể băn khoăn vì chuyện sẽ xẩy ra? Chỉ vì ông không biết là nó sẽ xẩy ra, nên ông gọi đó là nỗi băn khoăn hay là gì gì ấy.»
Tôi nghe lời nàng nói, nhưng tôi không chú tâm. «Em nói như thể em là Bạch Hoàng hậu ấy,» tôi nói.
«Bạch Hoàng hậu nào nhỉ?»
«Trong truyện Alice lạc vào xứ thần tiên ấy,» tôi bảo nàng. «Bà ta la lối trước, rồi sị mặt ra sau.»
«Ồ,» Jennie khẽ kêu. Dù là không chú ý đến gì ngoài việc vẽ của minh, tôi cũng có thể biết chắc là tôi đã làm nàng phật ý.
«Thôi được,» nàng đáp. «Em sẽ không nói gì nữa.»
Và suốt cả khoảng thời gian sau đó, nàng ngồi yên lặng không cười nữa, lại rút về với chính mình, mơ màng, xa cách. Nhưng tôi bận quá, không giải thích được; vả lại, ngồi yên như thế này sẽ làm cho bức tranh khá hơn. Khi ánh sáng bắt đầu mờ tối, tôi bỏ bút vẽ xuống và hít một hơi thật sâu.
«Hoàn thành rồi, Jennie ạ,» tôi nói.
Không có tiếng trả lời; nàng như đang thiu thiu ngủ. Tôi nhẹ nhàng xuống nhà, đi vào phòng tắm để xả hơi một chút; tôi tính đã bỏ đi không tới một phút. Nhưng lúc tôi trở lên, Jennie đã đi rồi. Nàng để lại cho tôi một mảnh giấy, đặt trên giường.
«Eben thân mến, em sẽ trở lại một ngày nào đó. Nhưng không gần lắm đâu. Sang xuân, em nghĩ thế. Jennie.»
Chú thích
(1) Guimpe, áo sơ-mi thêu của đàn bà có cổ lật ra ngoài áo ngoài.