Chân Dung Nàng

Lượt đọc: 1480 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG XI

Ngay trước khi gọi dây nói cho nhà trường tôi đã biết trước câu trả lời. «Xin lỗi ông, ở đây không có ai tên vậy cả.» Tôi không nhờ họ lục xem lại sổ lý lịch nữa; dù có nhờ tôi cũng biết trước họ sẽ trả lời như thế nào rồi. 

Tình trạng như vậy đó. 

Tôi thấy cần phải mô tả, nếu có thể được, trạng thái tâm hồn tôi những tuần sau đó. Tôi biết rằng điều tôi bắt buộc phải tin thật vô lý; ấy vậy mà tôi tin đấy. Và đồng thời, tôi thấy lo sợ. Sự kiện là những nỗi lo sợ của tôi không có hình thức rõ rệt, tôi không biết mình lo sợ gì, lại càng cho tình cảm thêm tệ hại; lúc thức cũng như lúc ngủ, không gì khiến chúng ta khiếp sợ hơn là sự vô tri.

Tôi không biết tình cảnh nào khó chịu hơn — cảm giác sợ hãi, hay nỗi tuyệt vọng đột nhiên xâm chiếm tâm hồn tôi từ lúc Jennie bỏ ra đi. Nàng đã đi tới bên kia miền biển cả xa xôi nhất; và tôi không biết tìm kiếm nàng nơi đâu. 

Sự bỏ đi của nàng làm cho thế giới quanh tôi trống rỗng lạ thường — yên lặng và trống trải, như chiếc hộc đàn vĩ cầm bằng gỗ lúc không có người chơi. Chỉ cần một nốt nhạc thôi là sự sống bừng dậy, một nốt đủ làm nó biến thành nhạc khí. Nhưng không một nốt nhạc được bấm lên, không người chạm đến. Nó chỉ là chiếc hộp rỗng mà thôi.

Lúc đầu tôi chìm đắm trong sự vô vọng, và đồng thời bối rối. Trước đây tôi chưa hề tự hỏi tại sao mặt trời lại mọc lên mỗi buổi sáng để bắt đầu một ngày mới thay vì vẫn còn chiếu sáng cho ngày cũ; hay tự hỏi xem phần nào công việc tôi làm là của chính tôi. Có thể là trên đời này chúng ta chưa biết ơn đủ đối với sự dốt nát của chúng ta, và sự ngây thơ của chúng ta. Chúng ta nghĩ rằng chỉ có độc một con đường, một chiều hướng — để tiến lên. Chúng ta chấp nhận nó, và chúng ta hối hả. Chúng ta nghĩ tới Thượng đế, chúng ta nghĩ đến sự mầu nhiệm của vũ trụ, nhưng chúng ta chưa nghĩ đủ, và chúng ta thực tình không tin đó là một mầu nhiệm, hay là chúng ta không hiểu nổi nếu được giải thích. Có lẽ vì khi đã được nghe nói và thực hiện, chúng ta thực tình không tin ở Thượng đế nữa. Trong đáy tâm tư chúng ta, chúng ta vững tin rằng thế giới này là của chúng ta, không phải của Ngài.

Chúng ta mới khờ khạo làm sao. Mà chúng ta được tạo nên khờ khạo — ngây thơ và ngu dốt. Và chính sự dốt nát này giúp chúng ta sống nổi ở cõi đời này, sống an tâm, giữa những niềm bí ẩn. Bởi vì chúng ta không biết, và chúng (ta?) không đoán nổi, chúng ta chẳng cần làm tội khối óc chúng ta trong việc tìm hiểu. Chính sự ngây thơ đánh thức chúng ta mỗi buổi sáng trước một ngày mới, một ngày tươi mát, một ngày khác của một chuỗi dài những ngày; chính sự dốt nát khiến mỗi hành vi của chúng ta hiện ra như một hành vi mới, và là kết quả của sự tập luyện ý chí. Không có sự dốt nát ấy, chúng ta sẽ chết vì sợ, đóng băng lại và bất động; hoặc là, giống như các thánh nhân thời trước, những người đã biết tên thật của Thượng đế, chúng ta sẽ bị nâng lên cao bởi cái ngọn lửa của một ảo tưởng không chịu nổi.

Tôi trở lại với công việc, ngồi đó, trước giá vẽ, tâm trí an bình hơn đôi chút. Tôi nhận ra là mình còn neo vào trái đất, và nếu tôi còn phải sống, thì dẫu cho ý định của Thượng đế ra sao, rồi mọi sự sẽ chỉ tùy thuộc ở cố gắng của riêng tôi. Lần lần, mối xúc cảm về tình cảnh tuyệt vọng, làn sương mù của sợ hãi, cũng tiêu tan dần thoát khỏi tâm hồn tôi, và để lại trong tôi tinh khiết, nhớ ơn và cô quạnh. 

Chính cái cảm giác cô quạnh này, nỗi cô đơn mà tôi không ngờ tới, không quen với, đã ngăn cản tôi không đem ngay bức chân dung đã hoàn tất đến cho ông Mathews. Đó là tất cả những gì Jennie còn để lại cho tôi, tất cả những gì nhắc nhở tôi rằng nàng thực sự hiện hữu trên đời này; và tôi không đủ can đảm xa rời nó. Tôi nhận ra mình không ngừng mong chờ nàng trở lại; một phần trong tôi trước đó thường toàn vẹn và tự mãn, bỗng nhiên không còn nữa; tôi như thiếu thốn một cái gì.

Một bữa nọ, bà Jekes bắt gặp tôi nói chuyện với bức chân dung. Tôi không biết mình nói gì — có thể là một lời nào đó, tôi đã nói với Jennie. Bà lặng lẽ tiến đến sau lưng tôi, tay cầm tấm giẻ lau bụi và đứng ngó qua vai tôi «Đẹp thật đấy,» bà nói, «đẹp thật.»

Tôi cũng giật mình và luống cuống. Tôi né sang một bên, làm như mình không hề nói to một mình, làm như đó chỉ là một điều lầm lẫn, mình kêu lên là chuyện tự nhiên. Nhưng bà Jekes đâu có phải là người dễ gạt. «Đây là cô nàng vẫn đến thăm cậu đây mà,» bà nói, với giọng độc ác. «Cô nàng là người yêu của cậu đây mà.»

Tôi nổi doá quát ầm lên. «Bà khùng rồi». Tôi muốn đánh bà, muốn đẩy bà ra khỏi phòng. Nhưng bà cứng cỏi đương đầu, ném trả lại tôi từng tia nhìn đầy ác cảm. «Tôi đâu có khùng,» bà chanh chua đáp.

Bà tiến ra ngoài cửa trong dáng điệu uy nghiêm lạnh lùng. «Cậu có thể dọn khỏi nhà này bất cứ lúc nào cậu muốn,» bà nói. «Có nhiều người khác sẵn sàng vui vẻ đến thế chỗ cậu.»

Và vừa đi, bà vừa nói với lại, «Cậu không phải là người lịch sự.»

Tôi muốn đuổi theo bà và cho bà biết là tôi sẽ dọn đi, tôi sẽ dọn đi ngay lập tức... nhưng trước khi chạy được hai bước, tôi ngừng lại, bàng hoàng. Vì tôi vừa nhận ra là mình không thể dọn đi được. Ở đây là căn phòng của Jennie: chính nàng đã ngồi tại đây, nơi đây chúng tôi đã từng ăn cơm với nhau, đây là chỗ nàng ưa thích trở lại. – Tôi bỏ đi sao được? Đầy những kỷ niệm về nàng vương vấn nơi đây.

Vả lại – nếu tôi dọn nhà – làm sao nàng có thể gặp lại tôi được?

Tôi nhẹ nhàng đóng cửa và từ từ trở lại về phòng. Tôi phải ở lại đây; tôi phải xin lỗi bà Jekes vì những lời đã nói. Nghĩ tới đó tôi thấy một vị đắng dâng lên trong miệng. Tôi với lấy bức chân dung Jennie đem úp vào tường. Tôi muốn được yên một lát, không nghĩ tới nàng nữa.

Nhưng vô ích, tôi không nghĩ được tới chuyện gì khác. Lúc đó là đầu tháng ba; phải đợi tới đầu tháng tư mới gặp lại nàng. Ít ra tôi biết chắc sẽ được gặp nàng, mặc dầu ngay lúc đó tôi còn nghi ngờ. Chỉ có một lúc thôi, thế mà tôi không thể nói với nàng.

Lúc đó ở phòng tranh, trong cuộc triển lãm họa phẩm của họa sĩ Jerry Farnsworth, với vài ba bức họa phong cảnh của họa sĩ Helen Sawyer treo chung — phong cảnh mỏm Cape, chỗ đường gặp nhau ở North Truro, một ngôi nhà cổ, và một bức sơn dầu vẽ dòng sông Pamet khúc nó chảy trước cầu tầu ở Truro. Có một số đông khán giả vào xem tranh, nhiều người lắm; và tôi trở lại căn phòng giấy nhỏ bé của ông Mathews ở cuối phòng triển lãm, để nói chuyện với cô Spinney. Cô đã bán được lời bức tranh vẽ hoa của tôi; cô có vẻ thân thiện với tôi và tự mãn lắm.

«Cậu Adams,» cô hỏi, sau khi đã chào tôi, «hãy giải thích cho tôi điều này: thế nào là một họa sĩ? Có phải là người suốt đời đói ăn, đi lang thang với cái quần bục đít và ngón chân thò ra khỏi giầy, và mặc dầu thế, y vẫn chỉ thích trát sơn lên một vuông vải không? Ai điên — gã ta hay tụi tôi? Cậu đã làm gì với 25 đô-la chúng tôi trả cậu lần chót?»

«Xài rồi,» tôi đáp,

«Lẽ dĩ nhiên,» cô tán thành, «đâu tôi có nghĩ là cậu đem mua trái phiếu. Có điều là tại sao không mua tấm áo mới, hay đôi giầy chẳng hạn?»

Tôi nhìn xuống đôi giầy há mõm, mòn gót, rồi nhún vai. Tôi không thấy chuyện đó dính líu gì đến cô cả.

«Ồ,» tôi đáp, «tôi có thể thuê đánh xi, nom lại bảnh chán. Có điều là tôi chẳng nghĩ đến chuyện ấy bao giờ.»

«Liệu giầy cậu còn đế không chứ?» cô hỏi.

Tôi nhe răng cười, nhưng tôi bấm chặt chân xuống sàn, vì tôi biết là cô dám nhấc một chiếc lên coi theo kiểu mấy ông thợ rèn lúc lắp móng ngựa. «Đâu tôi có nghĩ là cô để ý quá vậy,» tôi lầu bầu trong miệng.

«Đừng có giả bộ ngu đần,» cô nói. Sau đó sắc mặt cô đỏ bừng lên, bắt đầu từ cổ, chạy dần đến đôi quai hàm lộ rõ nét cương nghị.

«Được lắm,» tôi đáp, thấy mình hơi đần độn, «lần sau cô nhớ tính thêm một đôi giầy vào giá mua tranh.»

Cô chửi rủa tôi bằng ngôn ngữ của một anh tài xế xe vận tải; và tôi chạy ra ngoài kiếm ông Mathews.

Thoạt đầu tôi không thấy ông đâu vì ông mắc tiễn một người khách hàng ra cửa. Phòng triển lãm lúc đó hầu như không có người, vài người chần chờ đứng ngắm bức «Nghỉ ngơi Sau giờ Làm việc» của Farnsworth, còn ngoài ra căn phòng rộng lớn thật trống vắng. Vợ chồng họa sĩ Sawyer ở góc gần phía cửa; và tôi đi lại phía họ.

Giống như bất kỳ phòng triển lãm nào, căn phòng chỉ được chiếu sáng mờ mờ; những bức tranh treo trên tường tự chúng có ánh sáng, để nổi bật lên nét phản chiếu của mặt trời, mặt biển, hay là vòm trời buổi sáng, mặt đất buổi trưa, những thứ ánh sáng hội họa ấy làm cho bầu không khí của căn phòng có vẻ mờ ảo, đầy những bóng tối. Tôi nghe tiếng cô Spinney từ phòng việc ra đứng sau tôi, rồi lát sau lại đi vô trong đó. Ngoài ra không có ai khác. Khi tôi đi vòng quanh gian phòng một lần nữa, tim tôi dường như ngừng đập.

Có ai đứng phía trước mặt vợ chồng Sawyer — một thiếu nữ, bận chiếc áo kiểu lính thủy, và một chiếc váy dài gần đến mắt cá chân. Nàng đứng ngay trước bức vẽ dòng sông Pamet; đó là điều tôi có thể nhìn thấy, từ phía bên này phòng, trong làn ánh sáng mù mờ, ngoài ra, không thể thấy gì hơn. Hai tay nàng ôm lấy mặt và tôi nghĩ là nàng đang khóc.

«Jennie,» tôi gọi; mà có thể tôi nghĩ là mình đã gọi như vậy. Tôi cố di chuyển để sang phía nàng, nhưng hai chân tôi nặng như chì. Tôi cố lắm cũng chỉ nhích được một chân lên đặt trước chân kia. Khi ráng thở, tôi cảm thấy mạch máu chậm và nặng nghẽn lại và tôi hổn hển như khi người ta đi trong cơn bão.

Nàng ngửng đầu lên, và, trong giây lát, tôi thoáng nhìn thấy khuôn mặt nàng, khuôn mặt ướt và long lanh nước mắt. Và rồi — nàng đi mất. Đơn giản có thế thôi. Có lẽ nàng chuồn qua cửa chính — tôi không biết nữa. Ông Mathews, vừa lúc đó đi vào, né mình sang một bên như nhường chỗ cho ai đi qua. Có lẽ đó là nàng Jennie.

Ông băng qua căn phòng tiến lại chỗ tôi, tươi cười; nhưng khi nhìn thấy khuôn mặt tôi, nét mặt ông biến đổi. «Trời ơi! Cậu Adams,» ông kêu lên, «có chuyện chi đó? Trông cậu như đau bệnh vậy.»

Tôi lắc đầu; tôi không thể nói gì. Tôi đi qua mặt ông chẳng nói năng gì, và tôi nhảy bổ ra cửa. Ông nhìn theo tôi kinh ngạc. Tôi mặc ông đứng ngẩn ngơ tự hỏi chuyện gì vừa xẩy ra cho tôi.

Trên đường phố chỉ có những người bộ hành quen thuộc. Tôi cũng chẳng mong gặp ai khác hơn. 

« Lùi
Tiến »