Mùa xuân năm ấy đến sớm; những trận gió đem mưa đến đã cạn khô trước cuối tháng tư. Một ngày đẹp trời, cỏ ở trong công viên xông hương thơm mát dịu, và một con chim họa mi ríu rít trên bãi cỏ xanh mé dưới sân cầu. Từ đó trở đi, vòm trời xanh khác đi, và những đám mây nữa, mây cũng mang màu trắng khác biệt, có pha chút ánh vàng. Màu vàng đúng là màu của mùa xuân, chứ không phải màu xanh lá mạ; những ngọn cỏ mới, những đám mây, bầu không khí ẩm hơi sương và ngập tràn ánh nắng, những mầm cây dính nhựa giống như những sợi lông tơ mọc trên cành cây, tất cả đều pha sắc vàng, với ánh vàng của trời, đất, và hơi nước. Sắc xanh lá cây là màu của mùa hè; xanh nước biển là của mùa thu.
Thành phố sau mùa đông thức dậy với vẻ mơ màng, những mái nhà cao hình như loãng tan vào không khí. Gió từ hướng nam tới, thổi qua thành phố Jersey, mang theo mùi đất, hương thật thơm lành. Người ta di chuyển khoan thai hơn, người ta có vẻ hiền dịu hơn; khí lạnh chưa toát khỏi xương thịt, họ đi sưởi trong nắng ấm. Ngày dài hơn, và những bóng tối không còn sâu thẳm. Chiều xuống hầu như không ai hay, có những buổi hoàng hôn kéo dài, ánh sáng và bóng tối giao thoa nhẹ nhàng, và những âm thanh buổi chiều tối thật là nhẹ nhàng, mơn trớn. Mùa hè nằm dài trước mặt, mùa hè của con tim, đã thấp thoáng hiện hình, đang mon men đến, mang theo hoa lá và những buổi tắm biển.
Mùa hè là mùa khó chịu nhất cho những ai cô đơn. Mặt đất nồng nàn, khả ái, rộng mở để đón chào; và luôn luôn, tại một nơi xa xôi nào đó, có sẵn một chỗ dành cho hai người có thể đến hưởng hạnh phúc nếu như họ xum họp cùng nhau. Chính trong mùa xuân người ta mơ màng tới những nơi chốn ấy; người ta nghĩ đến mùa hè sắp tới, và trái tim thì mơ tưởng bạn lòng.
Vào lúc đó, trong Công viên, tôi bắt đầu thấy xuất hiện từng cặp một, họ đi chậm rãi, tay trong tay, họ không hấp tấp như trong mùa đông, nhưng nhẩn nha để cùng nhau trò chuyện, dừng lại một lúc để cười với những trẻ nhỏ, hay để ngắm những con ngỗng bơi trên mặt hồ. Khi mùa hè về, mà họ còn ở bên nhau, thì họ vẫn có thể vui hưởng mùa xuân. Nhưng đối với tôi thì khác hẳn. Tôi không làm cách nào để biết tới khi nào mới gặp lại Jennie. Và, cùng với những ngày trôi qua, tôi càng ngày càng nhớ nhung nàng hơn.
Có một sự ngăn cách mà người ta có thể khỏa lấp được, dẫu cho khoảng cách xa xăm đến đâu đi nữa.
Tận đằng ấy, phía bên kia những ngọn đồi của thị trấn Jersey, người ta có thể lái xe tới đó — ở phương bắc, giữa những rừng thông, hay ở phương đông về bãi biển. Không phải là ngày hôm qua, cũng không phải ngày mai. Nhưng lại có một sự ngăn cách khác, tàn nhẫn hơn nhiều, không có đường nào để đi tới đó.
Song le, mặc dầu tôi nhớ nàng, mặc dầu tôi không thể tới nàng được, nhưng không hẳn là tôi thiếu vắng hẳn nàng, Vì tôi thấy trí não mình bén nhọn hơn; trừ phi nó bắt đầu lừa bịp tôi thì không kể. Không hẳn là tôi bắt đầu sống lại trong quá khứ, khi mà quá khứ bắt đầu rõ rệt hơn, thực sự mang hình dáng của hiện tại, và xâm nhập những suy nghĩ hàng ngày của tôi. Hiện tại, trái lại, hình như bắt đầu mờ đi, bắt đầu tuột ra khỏi tay tôi... biết bao nhiêu điều nhắc tôi nhớ đến nàng. Và rồi những kỷ niệm đó xâm chiếm tôi mãnh liệt đến nỗi những gì tôi nhớ ra thì đối với tôi lại còn thực hơn là những gì đang có trước mặt tôi.
Trong lúc những người khác mơ tới tương lai, đang xuân mơ tới mùa hè, thì ngược lại, tôi mơ lùi về quá khứ. Những phong cảnh, những âm thanh, và những hương vị, tất cả đều phụ giúp chuyến đi này — mùi cháy xém, thanh âm của gỗ — có phải là của cái xẻng?— cào trên vỉa hè; hay là tiếng hú của còi tàu trên sông. Lúc đêm xuống những tiếng trẻ con trong trẻo và buồn buồn lọt qua khung cửa sổ đem lại cho tôi một buổi chiều khác, buổi chiều giữa sương mù, trong Công viên, dọc theo lối đi dài hun hút có những băng đá trống trơn, với một đứa trẻ đi bên tôi, nó nhẩy cỡn một chân qua những vạch phấn trắng... «Ông có biết em thích trò chơi nào không? Đó là trò ước vọng.» Hay là vào một buổi sớm mai ngợp nắng bên bờ hồ, trên mặt nước có những chiếc ghe thuyền chạy uể oải, bỗng tôi tự cảm thấy ngây ngất và đứng khựng lại, nhìn thấy trước mặt tôi không phải là mặt hồ xanh gợn sóng mà là mặt băng trắng, long lanh những người trượt tuyết, cảm thấy gió lạnh mơn man trên gò má, và cánh tay Jennie trong cánh tay tôi, thật chắc và thật nhẹ.. Hay là buổi xế chiều về nhà, tôi vội vã lên thang tim đập thình thình, vì có thể nàng đang ngồi đó — còn nhớ lại rõ ràng lần đầu tiên tôi gặp nàng ngồi đó, trong chiếc áo nhung nhỏ bé với cái ống vải nỉ che tay. «Em nghĩ là có lẽ ông muốn em đến chơi,» nàng đã nói vậy.
Đỏ là tâm trạng tôi những ngày đầu mùa xuân đó — không vui mà cũng chẳng buồn, mơ mộng và chờ đợi. Tôi không mong muốn mà cũng không hy vọng chi nhiều — chỉ ước mong được gặp lại nàng và được ở bên nàng thêm một lần nữa. Tôi cố không nghĩ về mùa hè, hay thực ra, về tương lai thì đúng hơn; làm sao mà tôi nghĩ nổi? Tôi giao phó tương lai cho nàng, cũng như tôi đã buông thả quá khứ cho nàng. Tại sao chúng tôi đã gặp nhau hoặc chuyện đó xảy ra như thế nào, tôi không biết nữa. Cho đến giờ tôi cũng vẫn không biết. Tôi chỉ biết là chúng tôi phải ở bên nhau, những mối dây của đời nàng đã xoắn kết vào đời tôi; và ngay cả thời gian cũng như người đời đều không thể chia lìa chúng tôi được. Không những lúc ấy. Mà còn mãi mãi về sau.
Điều gì đã khiến cho một người đàn ông và một người đàn bà biết, trong số muôn vàn người đàn ông và đàn bà khác, rằng họ là của nhau? Có cái gì khác hơn là sự ngẫu nhiên, và gặp gỡ không? hơn là sự kiện cùng chung sống trên thế gian trong cùng thời không? Hay là chỉ tại một đường cong nơi cổ, một nét lẹm nơi cằm, những khóe mắt nhìn, hoặc lời ăn tiếng nói. Có cái gì sâu xa hơn, kỳ lạ hơn, cái gì vượt trên một cuộc gặp gỡ, vượt trên sự ngẫu nhiên và vượt qua số mệnh không? Có những người khác của những thời đại khác trên cõi đời này mà chúng ta đã yêu hay đã yêu chúng ta không nhỉ? Có thể nào có một tâm hồn nào đó trong số tất cả những tâm hồn — trong số những người đã từng sinh sống trong những thế hệ kế tiếp nhau vô tận, từ ngày tạo thiên lập địa cho đến tận thế — phải yêu chúng ta hay là chết không? Và ngược lại — chúng ta phải yêu họ — phải tìm kiếm suốt đời — mãi miết và thương nhớ — cho tới cùng không nhỉ?
Đến tháng năm tôi không còn một đồng xu dính túi, và tôi phải đem bức chân dung xuống cho ông Mathews. Tôi thật đau lòng khi phải đem bức chân dung này đi, nhưng không thể làm gì hơn được; tôi cần tiền trả tiền nhà, mua thuốc vẽ, và mua lụa. Tôi vẫn kiếm được vài ba bữa ăn ở quán Alhambra, mặc dầu tôi làm xong công việc ở đấy rồi; cảnh cắm trại vẽ phía trên quầy rượu được thực khách ưa thích và ông Moore không ngần ngại cho tôi ăn một bữa mỗi ngày, miễn là tôi đừng ăn nhiều món quá. Thực ra, ông đang nghĩ tới một thực đơn đặc biệt với một tấm bìa vẽ hình tô màu — có thể là bức hình quán ăn, với chính ông đứng trước cửa ra vào. Bác Gus thì muốn tôi thêm chiếc tắc-xi của bác vào đấy. Tôi thì chẳng cần; người nghệ sĩ vẫn phải làm việc để kiếm miếng ăn, bằng cách này hay bằng cách khác.
Bác Gus giúp tôi chở tấm ảnh xuống phố trên chiếc tắc-xi của bác, và bác đi theo tôi để canh chừng cho tôi khỏi bị bịp. Hai người chúng tôi khiêng bức tranh vào phòng triển lãm, và đặt nó trên mặt bàn trong phòng giấy ở phía trong. Rồi chúng tôi né sang hai bên để cho ông Mathews ngắm nghía.
Ông không nói gì một hồi lâu. Thoạt đầu tôi tưởng ông thất vọng, và tim tôi thắt lại; nhưng sau đó tôi nhận thấy ông xúc động ra mặt. Mặt ông tái đi một chút; mắt ông lúc đầu mở rộng, rồi sau khép lại; và ông không ngừng lấy những ngón tay xoa vào mu bàn tay kia. «Được», ông nói. «Được lắm.»
«Được lắm.»
Cả tôi nữa, tôi cũng bắt đầu thấy mình hồi hộp. Cho mãi tới lúc ấy, tôi sợ là mình chưa thực tình ngắm bức họa với tầm mắt của người phê bình. Nó ở trong phòng riêng của tôi, nó là một thành phần của cơ thể tôi; tôi vẫn còn cảm thấy những nét bút lướt trong những ngón tay tôi.. và ngoài ra, đó là Jennie, tất cả những gì tôi còn giữ được về nàng... Nhưng ở đây, trong phòng triển lãm, ngắm nghía nó theo lối nhìn của ông Mathews, lần đầu tiên tôi nhận ra công cuộc mình đã hoàn thành. Nó khiến tôi cảm thấy hãnh diện, nhưng cùng lúc cũng thấy mình khiêm tốn.
Một lúc sau cô Spinney bước vào nhập bọn với chúng tôi, Cô không nói gì chừng một phút; rồi cô thở mạnh. «Được, cậu Adams ạ,» cô nói bằng một giọng nhẹ nhàng lạ thường, «đúng rồi, được lắm.»
Ông Mathews hắng giọng. «Được,» ông nói, «đúng rồi. Thật trúng ý tôi. Nghĩa là... nghĩa là...» Hình như ông không thể nói tiếp được nữa. Bác Gus nói như đỡ lời ông: «Núi của đấy, Mack ơi,» bác nói. «Tôi không phải là người chê bai gì đâu nhé.»
Và quay mặt lại phía cô Spinney, bác nói tiếp giọng tự nhiên.
«Trả cho cậu ấy kha khá vào nhé, thưa bà, cậu ấy là bạn tôi đấy.»
«Tôi sẽ nhớ lời ông dặn mà,» cô Spinney đáp.
Cô và ông Mathews cùng bước ra ngoài, để bàn bạc với nhau; và bác Gus xích lại gần đưa cùi chỏ hích vào người tôi. «Coi bộ họ chịu lắm đó, Mack,» bác thì thào.
«Đúng,» tôi nói, «tôi cũng nghĩ là họ chịu lắm.»
«Này đừng có dễ dãi quá nghe không,» bác nói. «Cứ đòi thẳng cánh năm chục đô-la, không có bớt.»
«Giá đáng gấp đôi thế ấy chứ,» tôi đáp.
Bác Gus há hốc miệng ra. «Thật ư?» bác gầm gừ. «Thử coi. Tôi không tin là cái chắc.»
Ông Mathews và cô Spinney trở lại, ra vẻ trịnh trọng; và ông Mathews bắt đầu bàn tính công việc.
«Thưa ông Adams,» ông bắt đầu.
«Gì mà trịnh trọng vậy?» cô Spinney ngắt ngang. «Cậu ấy cũng như người nhà cả mà.»
«Ừ, vậy thì – cậu Eben,» ông Mathews vừa nói vừa nuốt nước miếng. «Tôi sẽ không cố gắng giấu diếm tình thực với cậu. Cậu đã làm cho tôi rất đỗi ngạc nhiên. Tôi vô cùng xúc động. Bức chân dung... thế này... Tôi không thích dùng danh từ kiệt tác, nhưng đúng là như vậy...»
«Nói tiếp đi, Henry,» cô Spinney giục.
«Vâng,» ông Mathews vội vàng nói tiếp. «Thực vậy, vấn đề là chúng tôi không muốn mua bức này. Không,» ông vừa nói, vừa giơ cánh tay lên xua khi nhìn thấy nét mặt tôi sa sầm xuống – «không phải vì lý do cậu tưởng đâu. Vấn đề là vì, thực tình mà nói, tôi không biết nó trị giá bao nhiêu.»
«Như vậy,» tôi đáp, «ông nghĩ nó đáng giá bao nhiêu?»
«Tùy à,» ông trả lời, «tùy người mua. Thị trường lúc này không được giá lắm, ấy là đối với những người sưu tầm. Nhưng nếu viện bảo tàng chịu mua thì —»
«Thì sao?» tôi hỏi.
«Dám được trên ngàn đô-la lắm.»
Tôi nghe tiếng bác Gus nuốt nước miếng bên cạnh tôi. «Điều tôi muốn là,» ông Mathews nói tiếp — «điều chúng tôi muốn là — cậu cứ gửi ở đây, rồi chúng tôi sẽ ráng bán thật được giá. Và để ứng trước — ông đằng hắng mấy tiếng liền — «để ứng trước, chúng tôi có thể đưa trước cho cậu hai trăm đô-la...»
«Henry,» cô Spinney ngắt lời với giọng đe dọa.
«Ba trăm,» ông Mathews sửa lại một cách đau khổ.
Tới lúc đó bác Gus mới tìm thấy lại tiếng nói, «Nhận đi, Mack,» bác nói giọng ồm ồm, và đẩy mạnh tôi một cái.
Tôi về nhà trên chiếc xe của bác, ngả người vào thành nệm, và hãnh diện ngắm nhìn thành phố của tôi, thành phố cũng như vui vẻ nhìn lại tôi. Qua tấm kính cửa xe mở ra trước mặt, tôi nhìn thấy chiếc gáy bác Gus; tôi nhận thấy bác đã vặn ngược lá cờ gắn trên đồng hồ xe xuống và các con số đang nhảy tanh tách. Cũng được, sao lại không nhỉ? Bây giờ tôi giàu có rồi mà. Nhưng dù sao điều đó làm tôi ngạc nhiên; cả sự im lặng của bác Gus cũng làm tôi ngạc nhiên nữa. Sự yên lặng của bác không tự nhiên, không hợp với bản tính bác.
Bác đậu xe trước cửa nhà tôi, nhận lấy tiền cuốc xe mà không nói một lời. Khi tôi cảm ơn bác đã giúp đỡ tôi, bác nhìn đi chỗ khác, «Quên chuyện đó đi,» bác nói, «có nghĩa lý gì đâu.»
Bác buông tay khỏi bánh lái, nhìn hai bàn tay một cách thất thế, như thể là chúng làm cho bác thất vọng lắm. Rồi bác buông thõng tay xuống.
«Tôi chẳng làm được việc gì giúp anh cả, Mack ạ,» bác nói, «và sự thực là như vậy.»