Có dịp tới Nairobi, tôi liền đến thăm Wanyangerri trong bệnh viện dành cho dân bản xứ.
Đồn điền có rất đông lưu dân đâm ra ở bệnh viện này hầu như lúc nào cũng có ai đó từ đồn điền đang nằm điều trị, thành thử tôi đã trở thành khách quen*, và dần dà thân thiết với bà y tá trưởng cùng các nhân viên phục vụ. Tôi chưa từng gặp ai trang điểm dày và đậm như bà: dưới chiếc mũ ni trắng là bộ mặt to bè hệt như thứ búp bê bằng gỗ của Nga tên Katinka, khi vặn một con ra bên trong lại chứa một con khác. Bà cũng tốt bụng và giỏi giang như bạn kì vọng từ Katinka. Thứ Năm hằng tuần, tất cả giường bệnh được chuyển ra ngoài khoảnh sân vuông vắn giữa các khối nhà để nhân viên lau dọn, thông khí từng phòng. Đó là một ngày vui ở bệnh viện. Từ mảnh sân bạn có một góc nhìn tuyệt đẹp ra bình nguyên Athi khô nẻ gần kề, và xa xa là đỉnh non Donyo Sabouk xanh lơ cùng dải đồi Mua trải dài. Cảnh tượng các bà già Kikuyu của đồn điền nằm giữa chăn nệm trắng tinh nom kì khôi chẳng kém gì bạn bắt gặp mấy con la già tàn tạ hay gia súc kéo xe đầy nhẫn nại nằm trên đó vậy; bản thân họ, nhận thức được tính chất hài hước của hoàn cảnh, cũng nhoẻn miệng cười với tôi, nhưng là cái cười chua chát hệt như của những con la già, bởi người bản xứ rất sợ bệnh viện.
Tiếng Pháp trong nguyên tác: habituée de la maison .
Lần đầu ở bệnh viện, Wanyangerri run bần bật và hoảng loạn cực độ đến mức tôi đã nghĩ có khi chết lại là lối giải thoát tốt nhất cho cậu. Wanyangerri khiếp đảm mọi thứ, la khóc suốt quãng thời gian có tôi ở bên, và van vỉ xin được trở về đồn điền; cậu co giật, run rẩy dưới lớp băng.
Gặp lại sau một tuần, Wanyangerri giờ đã trấn tĩnh, tự chủ và chững chạc tiếp đón tôi. Tuy nhiên cậu cũng bộc lộ thái độ vui mừng khi thấy tôi, và người hộ lí bảo cậu rất sốt ruột mong tôi tới nhằm báo cho tôi, theo cách nhổ ra từng từ qua cái ống cắm trên miệng, đầy vẻ quả quyết, là hôm qua cậu vừa bị giết, và sẽ còn bị giết hại tiếp trong vài ngày tới.
Từng tham dự cuộc chiến tại Pháp và vá mặt cho nhiều người, vị bác sĩ điều trị đã rất nỗ lực và đạt được thành công ở ca của Wanyangerri. Ông đặt một đai kim loại vít cố định vào phần xương mặt còn lại thay thế xương hàm, kéo những mảnh da thịt rách nát khâu thành một thứ giống cái cằm cho đứa bé. Bác sĩ thậm chí, Wanyangerri bảo tôi, còn lấy một mảnh da nơi cổ đắp lên chỗ vá. Cuối giai đoạn điều trị, khi lớp băng được tháo ra, bộ mặt đứa trẻ nom khác hẳn, kì dị giống đầu thằn lằn vì không có cằm. Tuy nhiên Wanyangerri đã có thể ăn bình thường và nói được, tuy từ sau tai nạn cậu đâm ra nói ngọng chút đỉnh. Quá trình điều trị diễn ra nhiều tháng trời. Khi gặp, Wanyangerri thường xin một ít đường, nên tôi hay mang theo mấy thìa đường đựng trong gói giấy.
Ở trong bệnh viện, dân bản xứ, nếu không bị tê liệt hay đờ người vì kinh khiếp điều chưa từng biết, sẽ kêu ca như vạc, và nghĩ ra đủ trò đào thoát. Chết là một trong số cách đó; họ chẳng hề sợ nó. Người Âu châu xây dựng và trang bị cho các bệnh viện cũng như đang làm việc tại đó, và gặp vô số phiền toái với các bệnh nhân cần đến vũ lực mới đưa được vào bệnh viện chữa trị, chua chát than thở là dân bản xứ chẳng có chút biết ơn nào, bất chấp bạn làm những gì cho họ.
Dân da trắng cảm thấy bực bội, bất lực trước lối nghĩ này ở người bản xứ. Quả thực dẫu bạn có làm gì họ cũng sẽ vẫn vậy; việc bạn làm có thể gây nên chút hiệu ứng nào đó nhưng hết sức vặt vãnh, và điều bạn làm sẽ biến mất chẳng để lại chút dư âm; họ không hàm ơn cũng chẳng hận thù bạn, và dẫu có muốn, bạn cũng chẳng thay đổi được gì chuyện này. Đây là thứ phẩm tính đáng sợ; nó dường như thủ tiêu sự tồn tại của ta với tư cách con người, và bắt ta nhận lãnh vai trò ta không hề lựa chọn, như thể ta là một hiện tượng thiên nhiên, như thể ta là thời tiết vậy.
Người Somali nhập cư khác dân bản địa ở phương diện này. Họ bị ảnh hưởng rất mạnh bởi cách đối đãi của bạn, trên thực tế bạn khó lòng cử động mà không gây ảnh hưởng gì đến những con người nóng nảy, nồng nhiệt, đầy lòng tự hào của miền sa mạc theo cách này hay cách kia, và rất thường xuyên, không phải là không khiến họ tổn thương sâu sắc. Họ có cảm quan mãnh liệt về lòng biết ơn và cũng sẽ nuôi hận thù đời đời kiếp kiếp. Một lợi ích, cũng như hành động lăng mạ hay khinh thường, luôn được khắc sâu trong tim họ, như khắc lên đá. Họ thờ phụng đấng tiên tri Mohammed và, giống mọi người Hồi giáo, có một hệ thống luân lí để dựa theo đó mà phán xét bạn. Bạn có thể tạo dựng hay phá hủy thanh danh trước dân Somali chỉ trong một giờ đồng hồ.
Người Masai ở đây giữ một vị trí đặc biệt trong các bộ tộc bản địa. Luôn khắc cốt ghi xương, họ có thể cảm ơn bạn, và tiếp tục hằn thù bạn. Tất thảy dân Masai đều bài xích người da trắng và ác cảm thâm căn cố đế này sẽ chỉ xóa bỏ chừng nào chính chủng tộc này bị xóa sổ.
Còn các sắc dân không mang thành kiến như Kikuyu, Wakambas, hay Kavirondos lại chẳng hề có nguyên tắc hay chuẩn mực nào. Họ tin đa phần con người đều sở hữu khả năng thực hiện hầu như mọi chuyện, và bạn chẳng thể khiến họ kinh ngạc dầu muốn đi chăng nữa. Nếu bạn tạo được chút ảnh hưởng tới ai đó trong số họ, ta có thể nói ngay đó đích thị là một anh chàng Kikuyu nghèo mạt rệp hoặc có đầu óc lệch lạc. Để mặc họ với bản tính tự nhiên cùng tập quán sắc tộc, họ sẽ nhìn nhận hoạt động của chúng ta như các hoạt động của tự nhiên vậy. Không phán xét bạn, nhưng họ là những quan sát viên tinh tường. Cộng dồn các kết quả quan sát ấy là hình ảnh bạn trong mắt họ, tiếng thơm hay hung danh của bạn.
Về mặt này lớp người cùng khổ ở châu Âu giống dân Kikuyu. Họ không phán xét bạn, tuy nhiên cộng dồn bạn. Nếu họ ưa thích hay quý trọng bạn, thì cũng theo cách người ta yêu Chúa; không phải bởi những gì bạn làm với họ, tuyệt đối không dựa trên những gì bạn đối đãi với họ, mà do chính con người bạn.
Một bữa la cà thăm thú trong bệnh viện, tôi bắt gặp ba bệnh nhân mới, một người đàn ông có nước da đen nhánh cùng cái đầu bò mộng và hai thiếu niên, cả ba đều được băng ở cổ họng. Khoa ấy có một nhân viên điều dưỡng lưng gù và rất hay chuyện, thường hồ hởi giãi bày cho tôi các ca bệnh lí thú nhất trong khoa của anh ta. Khi thấy tôi dừng chân bên giường mấy người bệnh mới, anh liền tiến đến, sốt sắng thuật lại chuyện của họ.
Họ là người Nubia* thuộc tập đoàn quân Cây Súng Vua Phi Châu*, những chiến binh da đen đến từ Kenya. Hai thiếu niên là hai tay trống, còn người đàn ông thổi kèn. Trải qua nhiều xung đột căng thẳng trong đời, người đàn ông dần mất hết trí minh mẫn, điều này thường xảy ra với người bản xứ. Ban đầu ông ta xả đạn bừa bãi trong doanh trại, khi đạn hết liền lôi hai cậu thiếu niên vào trong một căn lều quây tôn múi rồi cố công cắt cổ họ cùng cổ mình. Anh điều dưỡng viên tiếc cho tôi không được tận mắt chứng kiến cảnh họ nhập viện, toàn thân đẫm máu, và quả quyết tôi sẽ chắc mẩm họ sắp chết. Giờ cả ba đều thoát cơn nguy kịch, và kẻ sát nhân cũng đã lấy lại thần trí.
Tộc người sống tập trung chủ yếu ở phía bắc Sudan, miền nam Ai Cập, ngoài ra còn một bộ phận nhỏ sinh sống tại Kenya.
Gọi tắt là K.A.R, hoạt động từ 1902-1960, có chừng 300.000 quân, chủ yếu gồm người bản xứ từ các thuộc địa của Anh tại châu Phi do các sĩ quan quân đội Anh được cử sang chỉ huy.
Trong lúc nhân viên y tế thuật lại câu chuyện liên quan tới mình, ba người bệnh trên giường dõi theo vô cùng chăm chú. Họ ngắt lời anh để chỉnh lại các chi tiết chính xác hơn. Chốc chốc hai thiếu niên, nói năng rất chật vật, còn quay qua người đàn ông nằm ở giường giữa yêu cầu ông này xác nhận lời họ, tin chắc ông ta sẽ phụ họ một tay cho tôi được nghe một câu chuyện ấn tượng nhất có thể.
“Chẳng phải chú sùi hết cả bọt mép, hú hét ầm cả lên sao?” họ hỏi ông. “Có đúng chú đã bảo cắt nhỏ hai đứa bọn con thành nhiều mẩu to chỉ bằng châu chấu không nào?”
“Đúng, quả có thế thật,” kẻ sát nhân đáp, mặt mày ảo não.
Lâu lầu tôi lại bị kẹt ở Nairobi nửa ngày, do đợi đến giờ họp bàn chuyện làm ăn, hay chờ chuyến tàu hỏa chạy từ cảng biển chuyển thư châu Âu gửi qua về chậm. Vào những dịp chẳng biết làm gì ấy, tôi thường lái xe tới bệnh viện của dân bản xứ chở vài bệnh nhân đang kì hồi phục đi chơi loanh quanh. Dịp Wanyangerri nằm viện, ngài toàn quyền Edward Northey có nhốt một cặp sư tử non trong dinh toàn quyền chuẩn bị đưa về sở thú London. Hai con thú được các bệnh nhân rất quan tâm; họ nhất loạt đòi tới xem. Tôi đã hứa với mấy bệnh nhân K.A.R khi nào khỏe sẽ cho họ tới xem, song chẳng ai chịu đi trước mà chờ cả toán hồi phục cùng đi một thể. Tay kèn phục hồi chậm hơn cả, một trong hai thiếu niên thậm chí còn xuất viện trước cả khi người đàn ông đủ sức khỏe đồng hành cùng tôi. Dẫu đã xuất viện, cậu trai ngày nào cũng lui tới thăm hỏi tình hình ông lính kèn, nhằm chắc chắn không lỡ mất chuyến tham quan. Buổi chiều nọ, tôi bắt gặp cậu ta phía ngoài bệnh viện, cậu bảo ông lính kèn vẫn đau đầu dữ dội nhưng điều đó nằm trong tiên liệu vì cái đầu ấy chứa đầy ác quỷ.
Sau cùng cả ba cũng được tới trước chuồng thú, mải mê đứng ngắm nghía. Điên tiết vì bị nhìn chòng chọc quá lâu, một con sư tử đột nhiên nhỏm dậy, vươn người gầm lên khiến cả ba khán giả giật mình, và cậu trai nhỏ tuổi nhất vội nấp sau ông lính kèn. Lúc xe quay về, cậu bảo người lính kèn: “Con sư tử đó cũng ác ôn hệt chú đận đó.”
Trong suốt thời gian kể trên, vụ việc của Wanyangerri vẫn nằm yên bên ngoài đồn điền. Quyến thuộc của cậu thảng hoặc ghé ngang hỏi thăm tôi diễn tiến sức khỏe Wanyangerri, nhưng, ngoại trừ đứa em, dường như tất cả đều sợ đến bệnh viện thăm cậu. Kaninu cũng lảng vảng quanh nhà tôi vào chiều tối, tựa một con chồn già ra ngoài thám thính, đánh tiếng hỏi thăm tình hình của thằng bé. Farah và tôi, lúc chỉ có hai người, lâu lâu lại ước lượng những nỗi thống khổ ông đang phải gánh, rồi chuyển đổi thành số cừu.
Cũng vẫn Farah, vài tháng sau vụ tai nạn, tìm đến thông báo cho tôi một diễn biến mới của vụ việc.
Ở những dịp như vậy, anh sẽ tiến vào lúc tôi đang dùng bữa tối, đứng thẳng ở cuối bàn làm bổn phận giúp tôi sáng mắt. Farah nói tốt cả tiếng Anh và tiếng Pháp, tuy nhiên luôn mắc những lỗi nhất định chỉ riêng anh bị. Farah sẽ dùng từ “exactly (chính xác)” ở chỗ của “except (ngoại trừ)” - “toàn bộ đàn bò đã về chuồng, chính xác mỗi con xám” - và thay vì sửa lỗi tôi bắt đầu dùng luôn cách diễn đạt đó khi trao đổi với Farah. Mặt mũi thần thái của Farah rất vững tin và nghiêm trang, nhưng anh thường vào chuyện khá mập mờ:
“Thưa Memsahib,” anh nói, “chuyện là về thẳng Kabero.” Đây là tựa đề của cả tiết mục. Tôi chờ xem điều kế tiếp là gì.
Sau một lát im lặng, Farah trở lại chủ đề đó. “Hẳn Memsahib đinh ninh,” anh nói, “Kabero đã đi tong và bị lũ linh cẩu chén mất xác. Song thằng nhãi đó không chết đâu. Nó đang náu mình chỗ dân Masai đấy.”
Tâm trạng giận vui lẫn lộn, tôi hỏi sao anh biết, “Ồ, tôi biết thừa đi chứ,” Farah đáp, “Kaninu có vô khối con gái lấy người Masai. Khi ấy Kabero không thể nghĩ ra bất kì ai giúp được mình chính xác người Masai, nó bèn chạy tới chỗ anh rể. Quả tình nó đã trải qua một đêm tệ hại, vắt vẻo trên một cái cây bị lũ linh cẩu ngồi canh phía dưới. Giờ nó đang sống cùng dân Masai. Một phú ông Masai, có cả trăm bò mà lại không con, muốn thu nhận Kabero. Kaninu tỏ tường việc này, và từng nhiều bận mò đi bàn bạc cùng người Masai. Nhưng ông ta sợ không dám cho bà biết. Kaninu đinh ninh, nếu người da trắng biết chuyện, Kabero sẽ bị treo cổ tại Nairobi.”
Farah luôn nói về dân Kikuyu bằng giọng khinh khi. “Vợ lũ Masai,” anh ta kể, “không sinh được con nên được nhận trẻ Kikuyu làm con nuôi là chúng mừng thôi rồi. Chúng còn rình bắt cóc trẻ nữa. Tuy nhiên thằng lỏi Kabero,” Farah tiếp, “khi lớn lên vẫn sẽ quay về đồn điền thôi, bởi nó chẳng muốn sống nay đây mai đó như người Masai. Đám Kikuyu quá biếng nhác cho lối sống ấy.”
Từ đồn điền, năm qua tháng lại ta có thể dõi theo định mệnh bi thảm dần dần tới chỗ diệt vong của bộ tộc Masai bên kia sông. Họ là những chiến binh đã bị cấm tham chiến, là con sư tử đang chết dần với những móng vuốt bị chặt cụt, là một chủng tộc bị hoạn. Họ bị tước giáo mác, cả những chiếc khiên lớn sặc sỡ cũng chả còn, giờ lũ sư tử ngang nhiên bám theo bầy gia súc của họ trong Khu bảo tồn thú hoang, ở đồn điền, có lần ba chú bò rừng non đã biến thành loại bò kéo cày và xe hàng hiền lành được nhốt ngoài sân xưởng chế biến. Một đêm lũ linh cẩu ngửi thấy mùi máu đã mò tới ăn thịt chúng. Tôi nghĩ, đây đích thị là số mệnh người Masai.
“Bà vợ Kaninu,” Farah bảo, “đang rất đau khổ vì sẽ mất đứa con trai trong nhiều năm.”
Tôi không cho gọi Kaninu, bởi phân vân chẳng biết những gì Farah kể thực hay hư, tuy nhiên ở lần kế tiếp thấy ông lảng vảng gần nhà tôi bèn bước ra nói chuyện. “Kaninu này,” tôi hỏi, “Kabero vẫn còn sống hả? Nó đang ở chỗ người Masai có phải không?” Bạn chẳng đời nào tìm nổi một người bản xứ còn chưa sẵn sàng ứng phó trước mọi động thái từ phía bạn, và Kaninu lập tức òa khóc vì nỗi mất con. Tôi đứng nghe, nhìn ông một lát đoạn bảo: “Này ông Kaninu, hãy đưa Kabero tới đây. Nó sẽ không bị treo cổ đâu. Mẹ nó sẽ được giữ con tại đồn điền.” Chẳng ngừng than khóc để lắng nghe, nhưng Kaninu hẳn đã chộp được cái từ treo cổ đầy xui xẻo của tôi; tiếng rền rĩ giờ trở nên xót xa hơn và ông chìm đắm vào những kể lể về triển vọng của Kabero, về việc ông yêu quý cậu nhất trong số các con.
Kaninu con đàn cháu đống và vì trại ấp sát nhà tôi thành ra đám con cháu thường xuyên có mặt quanh quẩn gần đây. Trong số này có một cậu nhỏ là cháu ngoại Kaninu, con trai một trong các cô con gái Kaninu đem gả vào Khu bảo tồn Masai, nhưng nay đã mang theo con trai quay về. Đứa bé tên Sirunga. Việc sở hữu cả hai dòng máu mang cho đứa trẻ một sinh khí đẹp lạ lùng, một nguồn suối hoang dã các sáng kiến và ý thích bất chợt khiến nó chẳng còn giống con người bao lăm mà như một ngọn lửa nhỏ sáng rực, một cánh chim đêm, một tiểu thần của đồn điền. Tuy nhiên Sirunga mắc bệnh động kinh, do đó lũ trẻ khiếp sợ và xua đuổi nó khỏi các trò chơi, gọi nó là Sheitani - loài quỷ - nên tôi đã nhận nó vào giúp việc nhà. Bị bệnh nên chẳng làm lụng được gì nhưng Sirunga mang lại cho tôi vô vàn niềm vui trong vai trò chú hề hay người pha trò và bám gót tôi mọi lúc mọi nơi tựa một cái bóng màu đen chẳng lúc nào chịu yên. Thừa biết lòng yêu tôi dành cho thằng bé, và cho tới khi ấy vẫn chứng kiến sự tình với nụ cười một người ông, giờ Kaninu liền tận dụng tối đa lợi thế này. Ông hùng hồn tuyên bố thà hiến Sirunga cho báo ăn cả mười bận còn hơn để mất Kabero, giờ đây Kabero cũng mất rồi thành thử dẫu Sirunga có chết cũng chả khác gì, bởi cậu con cưng Kabero là quả táo trong mắt ông*, máu ở tim ông.
Nếu Kabero quả thật đã chết, đây hẳn là David đang nhỏ lệ vì con trai Absalom*, một bi kịch tốt nhất đừng xới lên. Song nếu như thằng nhỏ còn sống và náu mình ở chỗ người Masai thì điều này còn hơn cả một bi kịch, nó là chuyện lựa chọn chiến đấu hay bỏ chạy, một cuộc tranh đấu vì sự tồn vong của đứa trẻ.
Tôi đã tận mắt chứng kiến, trên thảo nguyên, lũ linh dương vận dụng mánh lới này khi tôi vô tình tiến vào chỗ chúng giấu linh dương con mới sinh. Chúng sẽ tiến lại trước bạn, bật cao, nhảy cẫng lên hay giả vờ bị què không chạy được, tất cả nhằm lôi kéo sự chú ý của bạn khỏi con non. Và thình lình, ngay dưới vó ngựa, bạn phát giác ra con non, còn chưa tự di chuyển được, cái đầu nhỏ vươn ra ngang trên mặt cỏ, đang rúc xuống để thoát chết trong lúc mẹ nó nhảy tưng tưng vì con. Chim chóc cũng diễn trò trá hình đánh lạc hướng tương tự hòng cứu lũ con non, đập cánh phành phạch hay xoải cánh chao liệng, thậm chí còn khôn khéo giả tảng trúng thương bằng cách lê cái cánh gãy trên mặt đất.
Còn tại đây Kaninu đang diễn tuồng với tôi. Lẽ nào trong ông già Kikuyu này vẫn còn tràn trề ngần ấy ngọn lửa hăng hái và ba trò múa may quay cuồng khi cho rằng mạng sống của con trai mình đang bị lâm nguy? Khi nhảy múa, xương ông kêu lục cục, thậm chí ông còn đổi cả giới tính và khoác lên mình diện mạo của một bà già, một ả gà mái, một ả sư tử cái - trò này rành là một hoạt động của nữ nhi. Đó là màn diễn kì quặc, tuy nhiên đồng thời cực kì đáng kính trọng, giống việc đà điểu đực ấp trứng thay cho con mái. Chẳng trái tim phụ nữ nào có thể tiếp tục dửng dưng trước mánh khóe này.
Thánh Thi chương 17: Cầu Chúa bảo hộ con như quả táo trong mắt Người; hãy chở che con dưới bóng cánh của Người.
Theo Kinh Thánh, Absalom là con thứ ba của David, vua Israel, nhưng khởi loạn chống lại vua cha nên bị giết chết.
“Kaninu này,” tôi bảo ông; “khi nào muốn Kabero có thể quay về đồn điền và nó sẽ không hề hấn gì đâu. Nhưng ông phải đích thân dẫn nó tới gặp tôi.” Kaninu chết lặng, đầu cúi gằm và ủ rũ dời gót như thể hiện ông đã mất nốt người bạn cuối cùng trên trần gian.
Tôi cũng xin nói rõ ở đây là Kaninu đã nhớ như in và làm theo những gì được dặn. Năm năm sau, lúc tôi hầu như đã quên bẵng toàn bộ sự việc, một ngày nọ, thông qua Farah, ông xin được gặp tôi. Tôi thấy Kaninu đứng bên ngoài nhà, trên một chân, thần thái rất đường hoàng, nhưng dưới đáy sâu con tim ông lại thấp thỏm. Kaninu xởi lởi bảo: “Kabero nhà tôi quay về rồi đấy.” Dạo ấy đã học được nghệ thuật giữ im lặng nên tôi chẳng thốt nửa lời. Cảm nhận gánh nặng trong thái độ nín thinh của tôi, ông già Kikuyu đổi chân, mí mắt run run. “Thằng con tôi, Kabero, đã quay về đồn điền,” ông lặp lại. Tôi hỏi: “Nó rời đám Masai về rồi sao?” Lập tức lấy việc khiến tôi cất lời là bằng chứng rằng hai bên đã hòa giải, tuy chưa cười nhưng tất tật nếp nhăn ma mãnh trên mặt Kaninu đã sắp xếp lại cho một nụ cười. “Vâng thưa Msabu, vâng, nó đã từ chỗ người Masai trở về, ông bảo, “về để làm việc cho bà.” Trong thời gian Kabero biến mất, chính quyền đã áp dụng Kipanda, quy định quản lí hộ khẩu đối với dân bản xứ trên khắp cả nước, nên giờ chúng tôi sẽ phải mời một cảnh sát viên từ Nairobi tới nhằm biến cậu thành một nhân khẩu hợp pháp trong đồn điền. Kaninu và tôi định ra một ngày.
Tới ngày đó, Kaninu và con trai có mặt từ rất lâu trước viên cảnh sát. Kaninu đưa con lại giới thiệu cho tôi với thái độ phấn khởi, tuy nhiên trong thâm tâm ông hơi e dè cậu con mới tìm lại được này. Kaninu có lí do để cảm thấy vậy bởi Khu bảo tồn Masai tiếp nhận chú cừu bé bỏng của đồn điền, và giờ đem trả chúng tôi một con báo trẻ trung. Kabero hẳn phải mang trong người dòng máu Masai, tập quán và kỉ luật trong cuộc sống Masai tự chúng không thể làm ra dạng biến hóa cỡ này. Cậu ta đứng đó, từ đầu đến chân là một chàng Masai thực thụ.
Chiến binh Masai nom thật thích mắt. Những thanh niên này sở hữu, ở mức tột cùng, thứ hình thái tự thân của trí tuệ mà ta hay gọi là chic - táo tợn và dị hình kiểu hoang dã, đây vốn dĩ là thực tế bất biến ăn nhập với bản chất nội tại cùng lí tưởng phổ quát ở họ. Phong thái họ không phải giả vờ, hay bắt chước cái hoàn hảo ngoại lai mà đâm chồi nảy lộc từ bên trong, là sự diễn đạt về chủng tộc cùng lịch sử họ, và vũ khí hay phục sức rực rỡ họ mang cũng là một phần bản thể họ chẳng kém gì các nhánh sừng ở lũ hươu đực.
Kabero đã học theo lối để tóc dài của người Masai, các dải nhỏ bện thành bím to, có một sợi đai da thuộc quấn quanh đầu ngang chân mày. Cậu cũng tiếp thụ dáng đầu người Masai với cái cằm đưa ra phía trước, như thể đang đặt bộ mặt sưng sỉa, ương ngạnh của mình trên một cái khay. Việc cũng có tác phong cứng đờ, thụ động, và bất kham của mọi Morani khiến Kabero thành ra một đối tượng cho thưởng ngoạn, như một bức tượng hay dáng hình để ngắm nghía, nhưng về phần mình nó lại chẳng thèm ngó ngàng đến bất cứ thứ gì.
Các chàng Morani Masai chỉ sống dựa vào sữa và máu; có lẽ chế độ ăn kiêng này đem lại cho họ làn da mượt mà như lụa. Gò má nhô cao, xương hàm vát mạnh ra đằng trước, mặt họ bành bạnh, óng ả không có tì vết hay nếp nhăn nào; đôi mắt tối chẳng nhìn gì như hai viên đá sẫm màu nạm trên một bức tranh mosaic ; tổng thể chàng Morani trẻ từa tựa bức tranh mosaic . Cơ bắp ở cổ họ phát triển theo dáng vẻ đặc biệt hung hãn, giống cổ rắn lúc bành mang, hay báo đực hoặc bò rừng giữa trận chiến, và vẻ cường tráng ở cổ là biểu hiện nam tính quá hiển nhiên tới nỗi nó đại diện cho một lời tuyên chiến với cả thế giới ngoại trừ phụ nữ. Cái tương phản phi thường, mà cũng có thể là hài hòa tương hợp, giữa khuôn mặt bạnh nhẵn nhụi, cần cổ vạm vỡ, vai rộng tròn trịa, với độ nhỏ hẹp đáng ngạc nhiên ở hông và vùng eo, nét thon gầy của bắp vế và đầu gối cùng đôi chân dài, thẳng, gân guốc đem lại cho họ bộ dạng các sinh vật được trui rèn trong kỉ luật hà khắc của tột đỉnh vơ vét, giành giật, xâu xé.
Người Masai bước đi ngay đơ, đôi bàn chân mảnh dẻ đặt trên cùng một đường thẳng, nhưng cử động cánh tay, cổ tay và bàn tay của họ lại rất mềm mại. Khi một chàng Masai vừa buông dây cung, bạn dường như nghe thấy cả các sợi gân nơi cổ tay dài mảnh dẻ của anh ta ngân lên trong không khí cùng mũi tên.
Người cảnh sát từ Nairobi là một thanh niên vừa chân ướt chân ráo ở Anh qua, nhiệt huyết còn tràn đầy. Nói tiếng Swaheli giỏi tới mức tôi và Kaninu chẳng hiểu mô tê gì, anh chàng dần dà sa đà vào vụ tai nạn súng ngày trước rồi liền tức tốc mở một cuộc thẩm vấn Kaninu khiến ông già Kikuyu chết sững như tượng gỗ. Vặn hỏi chán chê, viên cảnh sát quay qua bảo tôi là anh đồ rằng Kaninu đã bị đối xử rất thậm tệ và toàn bộ vụ việc phải được chuyển lên Nairobi tái điều tra. “Điều ấy đồng nghĩa với mất nhiều năm cuộc đời của anh và tôi đấy,” tôi thốt lên. Người cảnh sát nhã nhặn nhắc nhở tôi các lo ngại kiểu vậy không đáng được xét đến khi ta thực thi công lí. Kaninu nhìn tôi chằm chằm, thời điểm ấy hẳn ông tin mình đã bị gài bẫy. Cuối cùng té ra vụ việc đã hết thời hiệu truy cứu và mọi sự dừng tại đó, ngoại trừ Kabero chính thức được đăng kí hộ khẩu tại đồn điền.
Tuy nhiên tất cả những chuyện kể trên chỉ mãi sau này mới xảy ra. Trong năm năm Kabero sống lang thang cùng tộc người Masai, còn đối với dân cư đồn điền thì đã chết, Kaninu còn phải vượt qua nhiều chông gai nữa. Trước khi khổ nạn của Kaninu chấm dứt, một số thế lực đã nhập cuộc, tóm lấy và nghiền ép ông.
Về những thế lực ấy tôi chẳng thể nói gì nhiều. Thứ nhất bởi chúng thuộc về một thế giới huyền bí, sau nữa bởi dạo đó có nhiều điều xảy đến đã cuốn phăng Kaninu cùng số mệnh ông ta khỏi suy nghĩ tôi, và khiến mọi chuyện ở đồn điền, trong tâm trí tôi, thảy đều là các hình ảnh nền mơ hồ, giống như bóng núi Kilimanjaro xa vời, lúc thấy lúc không. Người bản xứ sẵn lòng chấp nhận những giai đoạn sao nhãng này của tôi, như thể thực ra tôi đã bị dịch chuyển khỏi thế giới của họ qua sống ở một hành tinh khác, và sau này họ thường nhắc tới chúng như những bận tôi đi xa. Họ kể: “Cây cổ thụ bị đổ,” hay “Con tôi bị chết, dạo bà ở cùng người da trắng.”
Lúc sức khỏe Wanyangerri đủ để xuất viện, tôi đưa cậu về đồn điền, và từ đấy tôi chỉ còn lâu lâu mới nom thấy cậu, ở một vũ hội hay trên thảo nguyên.
Vài ngày sau khi Wanyangerri trở về, cha cậu Wainaina và bà nội cậu tìm đến nhà tôi. Wainaina nhỏ thó, tròn trĩnh, điều hiếm gặp ở sắc dân Kikuyu bởi hầu hết đều gầy nhom. Ngoài việc có bộ râu lưa thưa, ông này còn một điểm đặc biệt nữa là chẳng thể nhìn thẳng vào mặt bạn. Wainaina mang lại ấn tượng của kẻ điên sống ẩn dật trong hang, chỉ mong được yên thân một mình. Cùng đi với ông là bà mẹ, một cụ bà Kikuyu.
Phụ nữ bản xứ cạo trọc đầu, và thật đáng ngạc nhiên xiết bao ở mức độ bạn mau chóng tiếp thu quan niệm những cái đầu tròn nhỏ, trọc lốc, giống một loại quả hạch sẫm màu kia là biểu hiện của nữ tính thực thụ, còn nhúm tóc trên đầu phụ nữ lại mang vẻ phi nữ tính hệt như một chòm râu. Trên lớp da héo hon ở chỏm đầu bà mẹ già của Wainaina có vài lọn tóc bạc, và do đó, cũng ngang như một người đàn ông râu ria chẳng buồn cạo, bà đem lại ấn tượng phóng dật, buông tuồng. Tì người lên cây gậy dành phần nói cho Wainaina, nhưng sự im lặng của bà cụ vẫn tóe ra những tia lửa; cả con người bà ta đầy một nguồn khí hắc ám, thứ mà ông con trai chẳng di truyền được chút nào. Hai con người này trên thực tế là Uraka và Laskaro*, tuy nhiên mãi về sau tôi mới biết.
Hai mẹ con cất công lê bước ghé nhà tôi với một mục đích hòa bình. Wanyangerri, Wainaina bảo tôi, giờ chẳng còn nhá nổi ngô nữa. Họ nghèo rớt, chỉ có chút bột, cũng chẳng có bò mà vắt sữa. Liệu tôi có thể, đến chừng nào vụ việc của Wanyangerri được giải quyết, cho ông chút sữa bò nhà mình? Nếu không họ chẳng còn biết phải làm sao giữ cho thằng bé sống sót tới lúc nhận được khoản bồi thường. Farah đang bận rộn ở Nairobi vì một mối tranh chấp trong gia đình, và không có anh tôi đã bằng lòng cho Wanyangerri hàng sáng đến lĩnh một bình sữa của đàn bò nhà, rồi chỉ thị cho mấy cậu gia nhân, chẳng rõ vì sao lại tỏ vẻ không bằng lòng cách sắp đặt ấy, cho thằng bé được nhận sữa.
Sau hai tuần, cũng có thể ba tuần, một tối Kaninu tìm đến tôi. Ông thình lình xuất hiện trong gian phòng tôi đang ngồi đọc sách, bên bếp lửa, sau bữa tối. Bởi dân bản địa nói chung thích giao thiệp ngoài trời nên cách ông khép chặt cánh cửa ngay khi bước vào khiến tôi chuẩn bị tâm lí cho các trao đổi đầy bất ngờ. Nhưng bất ngờ đầu tiên lại là Kaninu bị cấm khẩu. Cái lưỡi giảo hoạt và đường mật như đã bị cắt mất, và căn phòng, có Kaninu bên trong, vẫn lặng như tờ. Ông già Kikuyu cao lớn giờ nom thật ốm yếu, ngỡ như chẳng có ai bên dưới tấm áo choàng vậy. Tựa cả người vào cây gậy, đôi mắt mờ đục như mắt tử thi, Kaninu liếm liếm cặp môi khô nẻ.
Hai nhân vật trong trường ca châm biếm Atta Troll của Heinrich Heine (1797-1856). Uraka là nữ phù thủy tài ba chỉ bằng một cái liếc mắt có thể làm sữa trong vú bò khô cạn. Con bà, Laskaro, là một xác chết được mẹ dùng thuốc thần cứu tỉnh và sau đó cũng được mẹ giúp diệt trừ yêu quái gấu.
Cuối cùng ông cất tiếng, chỉ để thông báo, rề rà và thiểu não, rằng mọi sự giờ tệ hại quá. Sau một chút ông mập mờ nói thêm, như thể đây hoàn toàn là chuyện nhỏ nhặt đáng bỏ ngoài tai, việc ông đã trả cho Wainaina mười con cừu. Và hiện tại Wainaina, Kaninu kể tiếp, còn muốn đòi thêm một con bò cùng bê con, và ông cũng chủ bụng sẽ giao tiếp cho anh ta. Sao ông làm vậy, tôi hỏi Kaninu, khi hội đồng chưa phán quyết gì? Kaninu không đáp, thậm chí chẳng buồn nhìn tôi. Tối nay ông là một lữ khách, một người hành hương không còn chốn nương náu nào để tới. Ông đến nhà tôi, chỉ bởi tiện đường đi, nhằm thuật lại sự tình, và giờ sẽ rời khỏi. Trong mọi lí do tôi chỉ có thể nghĩ tới việc ông đang bị bệnh, im lặng một lát tôi bảo mai có thể đưa ông vào viện. Nghe vậy Kaninu thoáng liếc qua tôi, một ánh nhìn đau đớn: tay bợm già giờ lại bị giễu gạt sâu cay. Tuy nhiên trước khi bỏ đi, Kaninu làm một điệu bộ lạ thường như thể đưa tay lên mặt gạt lệ. Nếu quả Kaninu trào được lệ, thì cũng lạ lùng ngang việc gậy của người hành hương trổ bông*, và kì quái hơn nữa trong cả buổi gặp ông ta chẳng hề viện đến mánh này. Tôi tự hỏi chuyện gì diễn ra tại đồn điền trong thời gian đầu óc mình ở nơi khác vậy. Lúc Kaninu đi khỏi tôi liền gọi Farah tới hỏi.
Lắm khi Farah chẳng hứng bàn chuyện dân bản xứ, như thể họ quá thấp kém để anh phải nhai đi nhai lại, còn tôi cũng phải nghe mãi. Sau cùng Farah cũng chấp thuận kể tôi nghe, tuy nhiên trong suốt thời gian ấy, ánh mắt anh hướng ra trời sao bên ngoài cửa sổ, sau lưng tôi. Nguyên do Kaninu sợ mất mật là bởi mẹ Wainaina, bà phù thủy già ấy, đã yểm bùa ông ta.
Truyền thuyết kể rằng Joseph xứ Arimathea - người truyền đạo Công giáo vào Anh quốc, khi tẩm liệm Chúa, đã dùng chén Thánh hứng máu Người và mang về Glastonbury (Anh). Tại đây, khi Joseph ngủ, gậy của ông đã mọc thành cây táo gai rồi lập tức đơm bông. Ngày nay, khác với giống táo thông thường, táo gai vùng này ra hoa hai lần trong năm - vào tháng 5 và dịp Giáng Sinh. Tín đồ cho đó là biểu trưng mừng sinh nhật Chúa.
“Nhưng này Farah,” tôi nói, “Kaninu hẳn thừa tuổi và trí khôn để không tin vào bùa chú chứ nhỉ.”
“Không đâu Memsahib,” Farah chậm rãi. “Tôi nghĩ bà già Kikuyu kia thực sự làm được những điều ấy đấy.”
Bà ta từng bảo Kaninu đàn bò của ông ta sẽ sống để thấy mọi chuyện nhẽ ra đã tốt đẹp hơn nếu Kaninu ngoan ngoãn nghe lời giao chúng cho Wainaina ngay từ đầu. Giờ đây lũ bò của Kaninu đang từng con một bị mù. Và trước trải nghiệm đớn đau này, con tim Kaninu dần tan nát, giống hệt xương cốt cơ bắp tôi nhân thời xưa chịu nhục hình bị vật nặng đè lên người cho đến chết.
Farah nói về ma thuật Kikuyu bằng giọng khô khốc, âu lo, như về bệnh lở mồm long móng ở đồn điền, thứ bản thân ta sẽ không mắc phải, nhưng lại khiến chúng tôi mất cả đàn gia súc.
Tối ấy tôi ngồi mãi tới khuya, miên man nghĩ về thuật phù thủy trong đồn điền. Thoạt tiên nó có bộ dạng thật xấu xí, như thể bất đồ nhỏm dậy từ nấm mộ cổ, mò tới dí bẹt mũi lên mấy ô cửa sổ nhà tôi. Nghe văng vẳng tiếng linh cẩu hú gào đằng xa, dưới mạn bờ sông, tôi nhớ ra người Kikuyu cũng có các ma sói, những bà già hóa ra linh cẩu khi màn đêm buông. Biết đâu bà mẹ Wainaina giờ đang lóc cóc chạy dọc bờ sông, nhe hàm răng trắng nhởn trong gió đêm. Tới đây, ma thuật trở nên gần gũi với tôi, như một điều hợp lẽ; ban đêm, tại Phi châu, có vô số thứ quanh quất bên bạn.
“Bà già đáo để thật,” tôi nhủ thầm bằng tiếng Swaheli, “biết làm phép cho bò của Kaninu bị mù, lại sai khiến được cả mình nuôi hộ cháu bà ấy mỗi ngày một chai sữa bò.”
Tôi nghĩ: “Tai nạn kia và mọi hệ quả phát sinh từ đó, đang xâm nhiễm vào dòng máu đồn điền và đây là lỗi của ta. Ta phải kêu gọi các nguồn sức mạnh mới, nếu không cả đồn điền sẽ sa vào một cơn mộng dữ, cơn ác mộng. Ta biết phải làm gì rồi: Cầu viện Kinanjui.”