Kinanjui, vị thủ lĩnh tối cao cai quản hơn một trăm ngàn dân Kikuyu, sống cách đồn điền chừng chín dặm về hướng Đông Bắc, trong Khu bảo tồn Kikuyu, gần Hội truyền giáo Pháp quốc. Đó là một ông già tinh khôn nhiều mánh lới, phong thái đường bệ và cao sang, dẫu chẳng phải xuất thân dòng dõi thế gia mà được người Anh dựng lên từ nhiều năm trước, khi họ không còn duy trì nổi mối quan hệ cơm lành canh ngọt cùng lãnh tụ hợp pháp của người Kikuyu trong vùng.
Là bạn bè, Kinanjui đã nhiều bận ra tay giúp đỡ tôi. Manyatta của ông, tôi từng vài dịp cưỡi ngựa đến quấy quả, cũng bẩn thỉu và đầy ruồi nhặng hệt như của dân thường Kikuyu. Nhưng nó to rộng hơn hẳn mọi khu trại tôi từng thấy, vì với địa vị thủ lĩnh, Kinanjui đã dành toàn tâm toàn ý cho thú vui hôn nhân. Khu trại tíu tít các bà vợ của ông ở đủ mọi lứa tuổi, từ những bà phù thủy chống gậy, gầy đét chẳng còn răng tới các thiếu nữ mảnh mai, mắt nai, mặt bầu bĩnh, tay chân đeo vòng đồng lóng lánh. Con cái ông khắp nơi, lốc nhốc bu đen từng đám như ruồi. Những cậu con trai ông dáng thẳng đuỗn, đầu trang trí lòe loẹt, lông bông phất phơ gây đủ chuyện rắc rối. Một bận Kinanjui kể thời điểm ấy ông có năm mươi lăm con trai đang là Morani .
Lâu lâu vị thủ lĩnh già, khoác một tấm áo choàng lông tuyệt mĩ, được hai hay ba thượng nghị sĩ râu tóc bạc phơ cùng mấy anh con trai-chiến binh tháp tùng, lại cuốc bộ tới đồn điền của tôi trong một chuyến viếng thăm thân tình, hoặc để xả hơi sau bộn bề chính sự. Kinanjui sẽ ngồi suốt chiều ngoài trảng cỏ, trên một trong mấy chiếc ghế bành hiên đã được khuân ra đó, mồm phì phèo chỗ xì gà tôi sai người mang cho ông, cùng bộ sậu hội đồng thành viên và cận vệ ngồi chồm hỗm trên cỏ vây quanh. Khi được tin ông tới, đám gia nhân và lưu dân kéo đến túm năm tụm ba và giải khuây cho ông bằng các sự kiện xảy ra trong đồn điền, tất cả cấu thành một dạng câu lạc bộ chính trị họp dưới tán cây. Trong những buổi tiếp xúc ấy, Kinanjui áp dụng một chước riêng: lúc cho rằng cuộc luận bàn đang kéo dài quá đỗi, ông sẽ ngả người trên ghế, trong lúc vẫn giữ điếu xì gà lập lòe đỏ, nhắm mắt thở sâu và chậm, chìm vào nhịp ngáy đều khe khẽ, tựa một kiểu ngủ quy ước mà có lẽ ông đã rèn luyện hầu áp dụng tại Hội đồng địa hạt của mình. Một đôi lần tôi chuyển thêm một chiếc ghế ra ngồi đàm đạo cùng ông, và những dịp ấy ông cho xua hết mọi người xung quanh đi, hầu chứng tỏ giờ là lúc bàn chuyện quốc gia đại sự. Ở thời điểm tôi quen biết ông, Kinanjui đã chẳng còn là con người ngày trước nữa, cuộc đời đã vắt kiệt ông. Song lúc chuyện trò thoải mái và cởi mở, với riêng tôi, ông bộc lộ một đầu óc độc đáo, một tinh thần phong phú, táo bạo và giàu tưởng tượng; Kinanjui đã suy tưởng về cõi nhân sinh và có nhận định riêng, kiên định về nó.
Vài năm trước, có một sự việc đã bồi đắp nên tình bạn gắn bó giữa chúng tôi.
Ngày ấy ông ghé chơi đúng vào bữa trưa của tôi cùng một người bạn vừa tạt qua đồn điền giữa hành trình lên mạn ngược của anh này khiến tôi chẳng còn thời gian dành cho vị đầu mục của người Kikuyu tận tới khi anh bạn kia lên đường. Kinanjui hẳn chờ được mời đồ uống trong lúc đợi, sau cả chặng dài cuốc bộ dưới mặt trời chói chang, tuy nhiên vì thức uống trong nhà mỗi thứ chỉ còn một ít, nên anh bạn và tôi đã đổ mọi loại rượu mạnh vào thành một cốc đầy. Đinh ninh đồ uống chế ra càng mạnh sẽ càng làm Kinanjui uống chậm hơn, tôi tự mình mang cốc rượu mời ông. Nhưng Kinanjui, sau khi nhấp môi và nở nụ cười, liền dành cho tôi cái nhìn đăm đắm mà tôi chưa từng được nhận từ bất cứ người đàn ông nào và ngửa cổ uống cạn tới giọt cuối.
Nửa giờ sau, lúc xe người bạn vừa khuất dạng, mấy gia nhân hộc tốc vào thông báo: “Kinanjui chết rồi.” Tôi cảm thấy, trong tích tắc, một tấn thảm kịch, một vụ tai ương ập tới như các bóng đen chết chóc đội mồ hiện lên. Tôi tất tả chạy ra.
Kinanjui nằm sõng soài trên mặt đất, dưới bóng râm mái bếp, khuôn mặt đờ đẫn chẳng chút biểu cảm, đôi môi và các ngón tay xanh lè, người lạnh toát như xác chết. Sự thể gần giống chuyện hạ sát một con voi: hành động của bạn vừa khiến sinh vật oai hùng và đường bệ từng dạo chơi trên mặt đất kia, giờ chẳng còn cất bước nổi nữa. Kinanjui giờ nom thấp kém hẳn, vì đám Kikuyu đã dội nước lên ông từ đầu đến chân, và lột bỏ tấm áo choàng da khỉ to sụ. Toàn thân trần như nhộng, ông nom giống một con thú đã bị đoạt mất thứ phẩm vật mà vì thế bạn giết nó.
Tôi định cử Farah đi đón bác sĩ, nhưng không sao khởi động nổi chiếc xe, về phần mình, đoàn tùy tùng của Kinanjui lại khẩn khoản yêu cầu chúng tôi cố chờ thêm chút nữa xem sao.
Một giờ sau, lúc tôi, với con tim nặng trĩu, đang sửa soạn đi ra bàn bạc cùng mọi người, thì mấy gia nhân chạy vào báo: “Kinanjui về nhà rồi.” Cơ hồ ông đã đột nhiên bừng tỉnh, quấn tấm áo choàng lên người, cùng đám tùy tùng vây quanh, lội bộ chín dặm về nhà, chẳng từ biệt lấy nửa lời.
Sau đận ấy, tôi tin là Kinanjui có cảm tưởng tôi đã chấp nhận đương đầu với rủi ro, thậm chí bất chấp nguy hiểm - vì bạn không được phép cung cấp rượu cho dân bản xứ - hầu khiến ông vui lòng. Từ đấy ông thường lui tới đồn điền, hút cùng chúng tôi một điếu xì gà, tuy nhiên chẳng hề đả động đến rượu. Nếu Kinanjui yêu cầu hẳn tôi đã sẵn lòng mời, nhưng tôi biết ông sẽ không bao giờ đòi thứ đồ uống ấy nữa.
Hiện tại tôi đã phái người mang thư tới trại của Kinanjui trình bày toàn bộ vụ tai nạn súng và mời ông quá bộ sang đồn điền nhằm khép lại sự việc. Tôi đề nghị bồi thường cho Wainaina số bò bê theo như lời Kaninu kể, rồi hãy chấm dứt mọi chuyện rối ren tại đây. Tôi mong ngóng Kinanjui tới, bởi ông có thứ phẩm chất mà ai ai cũng xem trọng nơi bạn bè - sự hữu dụng.
Bằng lá thư ấy, vụ việc đã bế tắc một thời gian, cuối cùng được khai thông và kết thúc đầy kịch tính.
Một chiều lúc cưỡi ngựa trở về nhà, tôi trông thấy một chiếc ô tô đang phóng bạt mạng, thậm chí lượn ở khúc cua trên con đường dẫn tới nhà tôi chỉ trên hai bánh. Đó là chiếc xe màu đỏ tươi, có nhiều chi tiết mạ kền bóng nhoáng. Biết đây là xe của lãnh sự quán Mĩ tại Nairobi, tôi tự hỏi không hiểu việc khẩn cấp gì lại buộc ngài lãnh sự phóng đến nhà mình bằng tốc độ kinh hoàng đến vậy. Nhưng lúc tôi rời khỏi yên ngựa phía sau nhà, Farah ra báo có thủ lĩnh Kinanjui tới. Ông đến bằng ô tô riêng, mới tậu của lãnh sự quán Mĩ hôm trước, và không muốn bước xuống chừng nào tôi chưa được thấy ông trong xe.
Ra ngoài tôi bắt gặp Kinanjui đang đường bệ ngồi ngay đuỗn, bất động trong xe, hệt một bức tượng thần. Ông đóng tấm áo khoác thùng thình bằng da khỉ lông xanh, đầu mang mũ chỏm người Kikuyu làm từ dạ dày cừu. Vóc dáng ông luôn rất ấn tượng, cao to, tráng kiện tịnh không chút mỡ thừa; bộ mặt cũng vậy, tự đắc, thon dài, xương xẩu, trán vát kiểu người da đỏ. Kinanjui có cái mũi to, nổi bật tới độ nó dường như tâm điểm của cả người ông, tựa hồ vóc dáng đồ sộ kia chỉ để rước cái mũi khắp đó đây. Giống vòi voi, cái mũi vừa tọc mạch một cách táo tợn vừa vô cùng thính nhạy và khôn ngoan, dữ dội lúc tấn công cũng như trong phòng thủ. Và con voi, sau cùng, cũng giống Kinanjui, có một cái đầu quý phái bậc nhất dẫu nom không được thông minh cho lắm.
Kinanjui không mở miệng, thậm chí chẳng nháy mắt khi tôi cất lời tán thưởng chiếc xe, ông chỉ bệ vệ ngồi đăm đăm dõi về phía trước, quyết cho tôi thấy được nét bán diện của ông, kiểu khuôn mặt nhìn nghiêng thường được dập lên huy chương. Thấy tôi bước quanh đầu xe, ông cũng xoay đầu cốt sao tôi luôn thấy được bộ mặt vương giả nhìn nghiêng của mình, có lẽ lúc này hình đầu đức vua* trên đồng rupee đang chiếm ngự hồn ông. Sau tay lái là một trong những cậu con của Kinanjui, và chiếc xe nóng giãy. Khi nghi lễ kết thúc, tôi mời Kinanjui ra khỏi xe. Ông đường bệ sửa lại tấm áo choàng trên người rồi tụt xuống, và ngay ở khoảnh khắc ấy, Kinanjui bước trở lui hai nghìn năm vào trong một phiên xét xử của người Kikuyu.
Sát chân tường phía Tây nhà tôi có kê một ghế đá, trước nó đặt chiếc bàn đá lấy từ cối xay bột. Cái bàn này có lịch sử hết sức bi thảm: nó chính là thớt trên chiếc cối ở xưởng xay bột của hai chủ xưởng người Ấn Độ bị sát hại. Sau vụ giết người ấy, không ai còn dám tiếp quản xưởng, nó bị bỏ phế im lìm suốt một thời gian dài, và tôi cho mang phần thớt trên lên nhà làm mặt bàn, bởi nó gợi nhớ về Đan Mạch cố hương. Hai chủ xưởng Ấn Độ từng kể với tôi chiếc cối của họ có xuất xứ từ Bombay vượt biển qua đến đây, do đá châu Phi không đủ cứng để xay. Mặt trên thớt cối có một hình chạm cùng vài vệt nâu loang rộng mà đám gia nhân quả quyết là vệt máu của hai người Ấn và sẽ chẳng bao giờ cọ sạch được. Bàn đá thớt cối xay này ở chừng mực nhất định, được coi là trung tâm đồn điền, bởi tôi thường ngồi sau nó trong mọi sự vụ cùng dân bản xứ. Trên băng ghế đá đặt sau thớt cối ấy, tôi và Denys Finch-Hatton từng vừa đón năm mới vừa ngắm trăng non, sao Kim cùng sao Hỏa nằm sát bên nhau thành cụm trên nền trời; cảnh tượng huy hoàng, tôi chẳng bao giờ thấy lại ấy, bạn sẽ khó lòng tin nổi là có thực.
Tức là George V, Vua Anh quốc và các xứ thuộc địa (thời đó bao gồm cả Ấn Độ).
Giờ đây tôi lại an tọa trên băng ghế đá, có Kinanjui ở bên trái. Phía phải tôi Farah đang chăm chú đứng nhìn đám người Kikuyu lố nhố tụ tập quanh ngôi nhà, cũng như mấy tốp vẫn còn lũ lượt kéo tới khi tin tức Kinanjui có mặt vừa loang khắp đồn điền.
Thái độ kì quái của Farah đối với dân bản xứ mang đậm tính hình ảnh. Chẳng khác phục trang hay nét mặt các chiến binh Masai, thái độ ấy không phải mới nảy sinh hôm qua, hôm kia mà là sản phẩm sau biết bao thế kỉ. Những thế lực bồi đắp nên nó cũng từng dựng lên các công trình vĩ đại bằng đá, nhưng đã rã thành cát bụi tự thuở nào.
Lần đầu tới xứ này, cập bến ở cảng Mombasa, bạn sẽ bắt gặp, chen giữa những cây Baobab già nua màu xám trắng - thứ nom chẳng ra bất kì loại thực vật Trái Đất nào mà giống khối hóa thạch rỗng xốp của loài mực ống khổng lồ - là tàn tích bằng đá xám của nhà cửa, tháp giáo đường, giếng nước. Bạn cũng thấy những phế tích tương tự suốt dọc đường dẫn ra miền duyên hải, Takaunga, Kalifi và Lamu*. Đây là những gì còn sót lại của các thị trấn do thương lái Ả Rập chuyên buôn ngà voi và nô lệ xây cất nên.
Các thị trấn trên bờ Ấn Độ Dương của Kenya.
Những con thuyền một buồm của thương lái Ả Rập tỏ tường mọi luồng lạch châu Phi, và dong theo những lối mòn xanh thẳm ấy tới khu chợ trung tâm Zanzibar*. Chúng quen thuộc các thủy lộ này từ thời Aladdin gửi tới cho Đức Vua bốn trăm nô lệ da đen* mang theo đầy ngọc ngà châu báu và Hoàng hậu mở yến tiệc thiết đãi tình nhân da đen của mình giữa lúc đức ông chồng đi săn, và vì thế mà bị hành quyết.
Chắc hẳn những thương nhân vĩ đại này, lúc trở nên giàu có, đã mang theo hậu cung dọn tới Mombasa và Kalifi, sống tại các ngôi làng nằm kề mép sóng bạc đầu của đại dương, với những khu vườn hoa rực rỡ, trong khi vẫn cử các thương đoàn của mình lên mạn ngược.
Đó là bởi những vùng nội địa hoang dã khắc nghiệt kia, các thảo nguyên khô cháy cùng những dải đất không tên chẳng một giọt nước, xứ sở của những cây gai tán rộng mọc ven sông, và của những loài hoa dại nhỏ xíu song thơm gắt mọc trên đất mùn đen sậm, đem về của cải cho họ. Tại đây, trên nóc nhà Phi châu, người phu khôn ngoan, dáng vóc uy nghiêm, đang thồ nặng ngà voi lầm lũi bước. Anh đắm chìm trong suy tư và chỉ muốn được yên thân. Nhưng anh bị đeo bám, và tấn công bằng những mũi tên độc từ đám Wanderobo* lùn tịt và đen đúa, hay từ dân Ả Rập trang bị súng hỏa mai khảm bạc dài ngoằng; anh bị bẫy và sa xuống hố sâu chỉ vì mớ ngà dài, nâu nhạt và trơn mướt mà có người ngồi tận Zanzibar đang khao khát.
Ngoài ra trên đây còn có một tộc người rụt rè, yêu hòa bình. Họ phát rẫy, đốt nương và trồng khoai lang cùng ngô trên một phần nhỏ diện tích đất rừng. Không mấy giỏi đánh nhau, hay phát minh ra bất cứ thứ gì, họ chỉ muốn được sống yên ổn, và cũng, là món hàng được thị trường rất chuộng - như ngà voi vậy.
Hòn đảo của Tanzania, Đông Phi, cách Mombasa chừng 250 km.
Ở nhiều bản khảo dị, con số này chỉ là bốn mươi người.
Bộ lạc sống trên núi Kenya, ngọn núi cao thứ hai ở châu Phi.
Những giống chim ăn thịt, tuy ít nhưng to hơn, cũng tụ tập trên này:
“Bầy chim tang tóc chuyên ăn người…
bu đen một vùng; vài con vừa bỏ lại một đầu lâu trọc lốc
trên giá treo cổ cả đám đứng hong mỏ nâu
Lũ chim vút lên từ cột cờ cũ mòn, như lột bỏ lớp vỏ đen của nó…*
Dân Ả Rập mò tới. Họ nhạy bén, lạnh lùng, ham nhục dục, xem nhẹ cái chết và dành hết thời gian rảnh rỗi cho thiên văn, đại số, cùng hậu cung của mình. Đồng hành cùng họ là những người anh em ngoài giá thú Somali - xốc nổi, tối ngày cãi lộn, hay kiêng khem và tham lam. Họ bù đắp khuyết thiếu ở nguồn gốc xuất thân bằng cách trở thành tín đồ Hồi giáo đầy cuồng nhiệt, và trung thành trước Đấng Tiên Tri Muhammad hơn cả đám con trong giá thú. Dân Swaheli cũng bám theo. Đám người này tôi đòi từ trong bản chất, có con tim của kẻ tôi đòi, độc ác, dâm đãng, tắt mắt, cực kì nhạy bén và là kho chuyện đùa, càng già càng phì ra.
Sâu trên cao nguyên, lũ chim bản địa ăn thịt người đón đợi họ. Dân Masai tìm đến, lặng lẽ tựa những bóng đen cao gầy, vác giáo dài khiên nặng, luôn ngờ vực kẻ lạ, tay vấy máu, sẵn lòng bán anh em của mình.
Mọi giống chim săn hẳn đã đậu lại rồi cùng chuyện trò bàn bạc. Farah thuật lại cho tôi nghe thời xưa, trước khi đưa đàn bà con gái từ quê nhà qua, trong số các bộ tộc sống nơi đất này, trai tráng Somali chỉ có thể kết duyên cùng con gái Masai. Đây quả là mối lương duyên lạ lùng về nhiều góc độ. Bởi người Somali luôn mang đức tin, còn dân Masai lại chẳng hề có tôn giáo, hay chút hứng thú nào với bất cứ thứ gì nằm cao hơn mặt đất. Người Somali sạch sẽ, rất chịu khó tắm gội và làm vệ sinh, trong khi Masai là bộ tộc ở bẩn. Người Somali cũng rất coi trọng trinh tiết cô dâu, còn các cô gái Masai lại xem nhẹ tiết hạnh của mình. Farah lập tức chỉ ra lí do. Người Masai, anh bảo, chưa bao giờ là nô lệ. Không thể biến họ thành tôi tớ, thậm chí không sao cấm cố họ được. Chỉ trong vòng ba tháng họ sẽ bỏ mạng trong tù nếu bị đưa vào nên luật pháp Anh tại đây không quy định bỏ tù mà chỉ phạt tiền người Masai. Việc vô phương giữ dân Masai sống được dưới gông cùm đã khiến họ, trường hợp duy nhất trong các bộ tộc bản địa, nằm cùng nhóm với sắc dân nhập cư Somali quý tộc.
Trích tập thơ Truyền thuyết những thế kỉ (La légende des siècles) của Victor Hugo, tiếng Pháp trong nguyên tác.
Lũ chim ăn thịt đồng loạt ném những ánh mắt hau háu về đám gặm nhấm hiền lành của vùng cao này. Dân Somali giữ vai trò riêng ở đây. Không giỏi khi tùy ý hành động, bởi họ đều rất dễ bị kích động, và dù ở đâu chăng nữa, hễ cứ được tùy tâm hành xử y rằng họ sẽ phí hoài thời gian và xương máu vào chuẩn mực luân thường đạo lí của bộ tộc. Tuy nhiên họ lại là các phó tướng tài ba, và có lẽ những tư bản gia Ả Rập xưa thường để người Somali đảm đương những phận sự hiểm nguy hay các chuyến vận chuyển nhiều cam go khi bản thân vẫn ở yên Mombasa. Vì thế mối liên hệ của dân Somali với người bản địa cũng gần hệt như giữa đàn chó chăn cừu với bầy cừu. Chúng canh lũ cừu không biết mệt, hàm răng sắc nhọn luôn nhe ra. Liệu đàn cừu có sống nổi tới bờ biển? Hay là chúng sẽ bỏ trốn? Dân Somali ham tiền và vật chất, họ sẽ bỏ ăn bỏ ngủ vì khoản thù lao, và sau hành trình thiên lí trở về chỉ còn da bọc xương.
Nếp sống ấy vẫn tồn tại trong máu họ. Khi đồn điền có dịch cúm Tây Ban Nha*, dù đang sốt run lẩy bẩy nhưng Farah vẫn theo tôi đi khắp làng trên xóm dưới mang thuốc phát cho lưu dân, ép họ dùng. Nghe nói sáp nến trị bệnh này rất hiệu quả, anh cũng lặn lội quyết lấy đem về. Cậu em út của Farah tên là Abdullai, dạo ấy đang ở chỗ tôi, mắc cúm rất nguy kịch khiến anh đứng ngồi không yên. Tuy thế, việc này chỉ vỏn vẹn là một mối bận lòng, một vấn đề vặt vãnh. Nhiệm vụ, bánh mì và thanh danh thảy nằm cả ở đội ngũ lao động của đồn điền đâm ra dẫu có sắp chết chó chăn cừu vẫn cứ nai lưng phụng sự bổn phận. Farah cũng thông tỏ những chuyện đang diễn ra trong cộng đồng người bản xứ, mặc dầu tôi chẳng rõ từ đâu anh có được sự hiểu biết ấy, bởi ngoại trừ là người nắm cương vị quản lí họ, anh chẳng hề gần gũi dân Kikuyu.
Do virus cúm A, cũng là nguyên nhân nảy sinh đại dịch năm 1918 khiến hàng chục triệu người trên thế giới thiệt mạng.
Còn đàn cừu, những sắc tộc nhẫn nại, không nanh không vuốt, yếu nhược và chẳng được ai bảo vệ trên trần gian, từng đeo đuổi số phận của mình, giống như họ vẫn đang làm, với thứ thiên bẩm vô tận được gọi là cam chịu. Họ chẳng chết dưới gông cùm, như Masai, hay điên cuồng kháng cự định mệnh như dân Somali mỗi khi cho là mình bị hại, lừa gạt hay xem thường. Họ kết bạn cùng các vị thần ngoại bang, giữa xiềng xích. Trong quan hệ với kẻ ngược đãi mình, họ còn khư khư kiểu tự hào kì quặc. Nhận thức được rằng lợi ích và uy tín của kẻ hành hạ mình phụ thuộc ở chính mình, họ coi bản thân là nhân vật trung tâm của cuộc săn đuổi và mua bán đổi trao, là món hàng. Trên nẻo đường dài của máu và nước mắt, chú cừu, sâu trong trái tim tối tăm ngu dại, đã đúc kết cho mình một triết lí cụt lủn xem thường cả mục đồng lẫn bầy chó. “Cả đêm lẫn ngày mày chẳng được nghỉ ngơi,” họ nói, “lưỡi thè lè, hơi thở hổn hển, thức chong chong nên sáng ra mắt mày bỏng rát. Đều do chúng tao cả đấy. Vì có chúng tao thành thử mới có mày ở đây. Mày tồn tại vì lợi ích của chúng tao, chứ không phải chúng tao tồn tại cho lợi ích của mày.” Người Kikuyu nơi đồn điền đôi khi tỏ thái độ xấc xược trước Farah, theo kiểu một con cừu có bận chồm vào mặt chó nhằm khiến nó phải vọt dậy, truy theo.
Hiện tại Farah và Kinanjui, chó chăn cừu và cừu đực già, gặp nhau tại đây. Vẻ mặt trầm tư, Farah đứng thẳng tắp như một dáng hình lịch thiệp bạn có thể bắt gặp tại bất cứ nơi đâu trên thế giới, với áo choàng lụa cùng gi-lê đen Ả Rập có thêu hoa văn và khăn turban hai màu xanh đỏ. Phía bên kia là Kinanjui, ông già bản xứ, một tảng đất vùng cao châu Phi, đang ngả ngốn trên ghế đá, toàn thân lõa lồ bên dưới tấm áo choàng lông khỉ khoác vai. Họ đối đãi nhau đầy tôn trọng, mặc dầu, khi chẳng có gì cần trao đổi, như tuân thủ một nghi thức nhất định, người này sẽ vờ không thấy người kia.
Nhìn cảnh tượng này thật dễ dàng hình dung hai người, cả trăm năm về trước, hoặc hơn, đang giữa cuộc ngã giá mua bán nô lệ, các thành viên thừa của bộ lạc mà Kinanjui muốn giũ bỏ. Trong đầu Farah sẽ luôn lởn vởn ý định thình lình đánh úp chính viên thủ lĩnh già, miếng mồi béo bở, để gom cả ông ta vào lô hàng. Kinanjui sẽ biết tỏng, tịnh không chút sai lệch, mọi ý nghĩ của Farah, và xuyên suốt buổi thương thảo, sẽ phải đảm đương gánh nặng trách nhiệm, và gánh nặng con tim lo sợ nặng trĩu của mình nữa. Bởi ông vừa là nhân vật trung tâm vừa là món hàng.
Buổi tụ họp dàn xếp vụ tai nạn nổ súng mở màn trong không khí hòa bình. Dân đồn điền thảy đều mừng rỡ được thấy Kinanjui. Các vị lưu dân cao niên bước lên trao đổi vài câu cùng ông trước khi trở lui tìm một chỗ ngồi trên cỏ. Vài bà lão vòng ngoài í ới hét chào: “Jambo Jerie ơi!” Jerie là cái tên Kikuyu những bà già đặt cho tôi, các em nhỏ cũng gọi như thế, tuy nhiên đám tráng niên hay ông già chẳng bao giờ gọi tôi là Jerie cả. Kaninu, đã có mặt giữa đại gia đình của mình, nom như một con bù nhìn được phù phép cho sống, với cặp mắt sáng quắc. Wainaina và bà mẹ già cũng xuất hiện, ngồi hơi tách biệt những người khác.
Tôi thông báo chậm rãi, rành rọt cho mọi người là vướng mắc giữa Kaninu và Wainaina đã dàn xếp ổn thỏa, thỏa thuận đã được ghi ra giấy, nay có Kinanjui tới chuẩn y. Kaninu sẽ giao Wainaina một bò sữa có bê cái kèm theo, và như vậy chuyện này cần được khép lại, vì chẳng ai còn hơi sức đâu chịu đựng thêm được nữa.
Kaninu cùng Wainaina đã được thông báo trước về quyết định này và Kaninu được chỉ thị chuẩn bị sẵn bò, bê. Hành động của Wainaina đều thuộc về thế giới ngầm nên giờ, dưới ánh mặt trời, nom ông ta nhũn ra nhợt nhạt hệt một chú chuột chũi nằm phơi trên mặt đất.
Sau khi đọc xong bản thỏa thuận, tôi kêu Kaninu đưa bò tới. Ông ta đứng lên, giơ cả hai tay rối rít vẫy hai cậu con trai đang trông con bò sau dãy lều gia nhân. Vòng người mở ra khi hai mẹ con con bò được từ từ dắt vào giữa đám đông.
Cũng lúc này không khí buổi tụ họp chợt biến đổi, tựa như có một cơn bão tố tụ lại nơi chân trời và mau chóng tràn lên thiên đỉnh.
Chẳng gì trên trần thế trọng yếu và hút hồn hút vía người Kikuyu bằng một con bò sữa có bê cái lon ton dưới chân. Giết chóc, ma thuật, nhục dục hay các kì quan của dân da trắng, tất thảy đều cháy rụi, bốc hơi khi ở gần lò lửa đam mê gia súc hừng hực của họ, thứ đam mê mang mùi thời kì đồ đá, y như mùi đống lửa dùng hỏa thạch nhóm lên vậy.
Bà mẹ của Wainaina chợt tru tréo một tràng dài, huơ cánh tay với những ngón khô héo về phía con bò. Wainaina phụ họa mẹ, thốt ra những lời lắp bắp và ngắt quãng, như thể ai đó đang phát ngôn thông qua ông, hướng lên cao xanh. Wainaina từ chối con bò, nó chính là con già nhất trong đàn của Kaninu, và con bê đi cùng hẳn thuộc lứa sau rốt bò mẹ có thể sinh hạ.
Phe Kaninu nhao nhao la ó ngắt lời đối phương, liệt kê phẩm chất của con bò bằng những câu ngắn đầy phẫn nộ mà qua đó bạn cảm nhận được nỗi cay đắng cùng cực và thái độ chẳng sá chi cái chết.
Dân đồn điền chẳng thể ngồi yên mỗi khi có tranh cãi chuyện bò bê. Ai ai cũng có ý kiến riêng. Các ông già tóm chặt tay nhau, thều thào trong những hơi thở hen suyễn cuối để ca ngợi hoặc chê bai con bò. Âm thanh the thé từ các bà vợ già của họ cũng hòa theo và giọng cả hai bè này mỗi lúc mỗi dâng cao hơn, hệt như một bản luân khúc. Đám trai tráng gầm gừ phun vào nhau những nhận định cộc lốc, chết chóc bằng chất giọng trầm. Trong độ hai ba phút, bãi trống cạnh nhà tôi sôi sùng sục như vạc thuốc mụ phù thủy.
Tôi đưa mắt sang Farah và anh ta nhìn lại tôi, nhưng giống một người đang mơ. Farah khi đó nom hệt như thanh gươm đã tuốt lưng chừng vỏ, chỉ trong một khoảnh khắc nữa thôi sẽ lấp loáng tả xung hữu đột giữa đám cãi lộn. Bởi chính dân Somali cũng vừa là chủ nuôi vừa là thương lái gia súc. Kaninu ném về tôi một cái liếc của người chết đuối, kẻ cuối cùng cũng bị dòng nước cuốn phăng đi. Tôi nhìn con bò. Đó là con bò xám mang cặp sừng cong veo, đang đứng nhẫn nại ngay trung tâm vòng xoáy nó tạo ra. Khi mọi ngón tay đều chỉ vào nó, bò mẹ bắt đầu liếm bê con. Tôi nghĩ nom nó có dáng vẻ một ả bò già.
Sau cùng tôi hướng ánh mắt về phía Kinanjui. Tôi chẳng rõ ông có buồn để mắt tới con bò lần nào chưa. Kinanjui tỉnh bơ, thậm chí chẳng chớp mắt lúc tôi nhìn qua. Ông ngồi bất động, tựa một hình hài ngồn ngộn vô tri vô giác đặt cạnh nhà tôi. Kinanjui giờ đã quay qua hướng khác, lánh đám đông la hét, và tôi nhận ra nét bán diện này quả giống bộ mặt một hoàng đế biết bao. Đây là khả năng của dân bản xứ, chỉ sau một cử động duy nhất, đã có thể biến thành một vật chết. Tôi chẳng nghĩ Kinanjui có thể nói hay hành động gì mà không đổ thêm dầu vào nộ hỏa, đâm ra ông lựa chọn ngồi yên nhằm chế ngự họ. Không phải ai cũng làm được như vậy.
Dần dà cơn thịnh nộ tiêu tan, tất cả ngừng gào thét, bắt đầu nói năng theo cách thường nhật và sau cùng từng người chìm vào im lặng. Bà mẹ Wainaina, lúc tưởng không ai để mắt tới mình, chống gậy lê vài bước lại gần con bò hòng nhìn rõ hơn. Farah quay về phía tôi, về lại thế giới văn minh, với một nụ cười chế giễu.
Khi hết thảy trở nên yên tĩnh, chúng tôi triệu các bên liên can trong vụ việc lên đứng quanh chiếc bàn đá, nhúng ngón tay cái họ vào nhớt xe rồi cho điểm chỉ lên văn bản thỏa thuận. Wainaina thực hiện rất miễn cưỡng, khe khẽ rên khi ấn ngón cái xuống, như thể tờ giấy đang thiêu đốt ông ta. Văn tự viết thế này:
“Thỏa ước dưới đây được lập tại Ngong hôm nay, ngày 26 tháng Chín, giữa Wainaina wa Bemu và Kaninu wa Muture. Thủ lĩnh Kinanjui cũng có mặt và chứng kiến từ đầu đến cuối.
Thỏa ước này chứng thực rằng Kaninu sẽ trả cho Wainaina một con bò sữa kèm theo bê cái. Bò và bê này sẽ trao cho con trai Wainaina là Wanyangerri, cậu bé bị bắn bằng súng săn ngày 19 tháng Chạp năm ngoái do lỗi lầm của Kabero con trai Kaninu. Con bò và bê này sẽ là tài sản của Wanyangerri.
Với việc thanh toán bò và bê kể trên, vụ rắc rối này cuối cùng sẽ khép lại ở đây. Tuyệt đối không một ai, kể từ đây, được phép phát ngôn hay đả động tới nó.
Ngong, ngày 26 tháng Chín
Dấu tay Wainaina
Dấu tay Kaninu
Tôi hiện diện ở đây và đã được đọc cho nghe văn tự này
Dấu tay Thủ lĩnh Kinanjui
Tôi đã chứng kiến bò mẹ và bê con được giao cho Wainaina
Nam tước phu nhân Blixen”