Trở về từ một trong những chuyến viễn hành săn bắn của mình, Denys Finch-Hatton ở đồn điền được một thời gian ngắn, nhưng khi tôi bắt đầu tháo gỡ đồ đạc chuyển đi và thấy chẳng thể lưu lại thêm nữa thì anh dọn qua tá túc tại nhà của Hugh Martin ở Nairobi. Từ đây hôm nào anh cũng lái xe ra đồn điền ăn tối cùng tôi. Giai đoạn cuối, lúc tôi bán đồ bán đạc, hai đứa tôi lấy một thùng đựng đồ làm ghế, một thùng khác làm bàn và cứ vậy ngồi chơi đến khuya.
Đã mấy bận Denys và tôi trò chuyện cứ như tôi thực sự sắp rời khỏi đất nước này. Bản thân nhìn nhận châu Phi như nhà mình, anh thấu cảm với tôi và vì thế đau cái đau tôi, thậm chí cả lúc cười đùa khi tôi buồn vì phải xa lìa người của mình.
“Thật em cảm thấy chẳng thể sống thiếu thằng nhỏ Sirunga sao?” anh hỏi.
“Vâng, quả có thế,” tôi đáp.
Tuy nhiên hầu hết thời gian bên nhau, chúng tôi nói chuyện và hành xử như thể tương lai ấy chẳng hề hiện hữu. Denys không hề để mối lo cho tương lai làm mình bận lòng, bởi tựa như anh chắc chắn, nếu muốn, sẽ có thể viện đến những nguồn lực bí ẩn mà chúng tôi chưa hề biết. Denys hòa nhập đầy tự nhiên vào chiến thuật của tôi khi buông xuôi mọi thứ, thây kệ mọi người nói nghĩ tùy thích. Lúc anh tới, việc ngồi trên các kiện hành lí giữa căn nhà trống dường như trở nên điều bình thường, theo sở thích. Denys trích dẫn một bài thơ:
“Em phải phổ điệu buồn,
Thành một khúc ca vui
Chẳng đến đây vì lòng thương hại
Anh tìm đến chỉ bởi niềm vui*.”
Những tuần lễ ấy chúng tôi thường bay các chặng ngắn trên rặng Ngong hoặc lượn vài vòng dưới Khu bảo tồn hoang thú. Một sáng Denys tới đồn điền kéo tôi đi bay từ sớm, mặt trời chỉ mới vừa mọc, và chúng tôi bắt gặp một con sư tử trên phần đất bằng phía Nam của rặng núi.
Anh từng đề cập chuyện gói ghém chỗ sách đã để ở nhà tôi suốt nhiều năm rồi mang đi, nhưng chẳng bao giờ làm cả.
“Em cứ giữ hết đi,” anh nói, “giờ anh chả có chỗ nào chứa cả.”
Ý thơ từ bài Song (Bài hát) của thi sĩ Perry Bysshe Shelley.
Denys không biết sẽ tá túc ở đâu sau khi tôi bán nhà. Một bận, theo lời đề xuất dai dẳng của người bạn, anh thậm chí đã bỏ công lái xe tới Nairobi xem vài căn nhà trệt nhỏ đang cho thuê, rồi ghê tởm với những điều mục kích được tới độ lúc trở về chẳng muốn đả động gì đến, và trong bữa tối, vừa cất lời mô tả mấy nơi đó cùng đồ nội thất bên trong ra sao cho tôi nghe, anh đã liền ngưng bặt giữa chừng và ngồi lặng đi, vẻ gớm ghiếc và buồn bã lộ trên gương mặt, một điều hiếm thấy ở anh. Denys vừa tiếp xúc với một dạng tồn tại mà chỉ ý niệm về nó thôi cũng đã khiến anh không chịu nổi.
Tuy nhiên đó là sự bài xích hoàn toàn khách quan, không mang tính cá nhân bởi anh đã quên bẵng việc chính mình cũng dự định tham gia vào kiểu tồn tại ấy, và khi tôi đề cập điều này, anh liền ngắt lời. “Ôi chao, về phần mình,” Denys bảo, “anh sẽ hạnh phúc mĩ mãn với một túp lều ở Khu bảo tồn Masai, hoặc kiếm một ngôi nhà trong xóm Somali là được.”
Dịp ấy cũng là lần duy nhất anh đề cập tương lai của tôi tại châu Âu. Anh nghĩ tôi sẽ hạnh phúc ở đó hơn đây, và sẽ thoát khỏi thứ văn minh đang dần lan tràn ở châu Phi. “Em biết sao không, miền đất châu Phi này giỏi giễu nhại lắm.”
Denys sở hữu một mảnh đất ven biển, cách Mombasa ba mươi dặm về hướng bắc, bên bờ phá Takaunga. Nơi đây có các phế tích của khu dân cư Ả Rập, với một tháp giáo đường rất khiêm nhường, một cái giếng nước - một cấu trúc bằng đá xanh phong hóa dựng lên từ mặt đất phèn, còn ở trung tâm là mấy cây xoài già. Trên mảnh đất ấy Denys dựng một căn nhà con con và tôi đã từng ở đó. Quang cảnh chốn này chứa đầy cái bao la, sạch tinh, siêu phàm và hoang vu của đại dương với Ấn Độ Dương ngay trước mặt, còn phá nước sâu Takaunga mở xuống phía Nam, cùng dải bờ biển hiểm trở, liền mạch với đá san hô màu xám nhạt và màu vàng trải ra hết tầm mắt.
Khi triều rút, bạn có thể rời nhà tiến sâu ra biển vài dặm, như trên một quảng trường mênh mông có bề mặt lát đá đôi chút gập ghềnh, để nhặt lấy những con sò hoặc sao biển to dài, dáng hình kì dị. Ở đây, các ngư dân Swaheli, đóng khố đội khăn turban đỏ hoặc xanh, giống thủy thủ Sindbad bước ra đời thực, lang thang bán dạo giống cá gai nhiều màu, vài loại trong số này ăn rất ngon. Bờ biển dưới ngôi nhà có một dãy hõm hàm ếch để bạn ngồi tránh nắng và ngắm làn nước xanh lấp lánh đằng xa. Khi triều lên, nước dâng ngập các hõm ấy mấp mé mặt móng ngôi nhà, và từ lòng đá san hô rỗng, biển hát và thở dài theo cách kì lạ nhất, như thể mặt đất dưới chân bạn đang sống vậy; những con sóng dài ào ạt đổ tới phá Takaunga giống một đạo quân hung mãnh.
Tôi xuống Takaunga đúng độ trăng tròn, và vẻ đẹp của những đêm yên ả, sáng ánh trăng nơi đây toàn bích tới độ con tim ta phải run lên thán phục. Bạn an giấc với cửa nẻo mở toang ra biển bạc; làn gió ấm nghịch ngợm xào xạc cuốn chút cát vào mặt sàn lát đá. Một đêm có đoàn thuyền buồm Ả Rập đi sát bờ, lướt êm ru theo ngọn gió mùa, từng cánh buồm nâu sẫm xếp hàng dưới trăng.
Đôi lần Denys nói về việc biến Takaunga thành mái ấm ở châu Phi của mình, thành điểm khởi hành các chuyến săn. Nghe tôi mở lời đề cập chuyện phải rời bỏ đồn điền, anh liền mời tôi tới nhà anh dưới đó, giống như anh đã trú ở nhà tôi trên cao nguyên. Nhưng dân da trắng chẳng thể sống lâu dài sát biển trừ phi có đủ tiện nghi, mà Takaunga lại quá thấp và quá nóng với tôi.
Năm tôi rời khỏi châu Phi, tháng Năm Denys đi xuống Takaunga một tuần. Anh dự tính cất một căn nhà lớn hơn rồi trồng thêm xoài trên mảnh đất ấy. Denys dùng máy bay để tới đó và trên đường trở về định vòng qua Voi* xem có còn voi ở đó cho các chuyến đi săn sắp tới chăng. Dân bản địa đang kháo nhau có một đàn voi di chuyển từ miền Tây tới đây và có một con voi đực khổng lồ, to gấp đôi kích thước thông thường, đang thơ thẩn một mình giữa những bụi cây nơi ấy.
Thị trấn phía Nam, cách Nairobi hơn 300 km.
Tự coi mình là con người phi thường lí trí, Denys lại chịu tác động của một dạng tâm trạng và dự cảm điềm xấu rất đặc biệt. Dưới ảnh hưởng của chúng, nhiều khi anh trở nên lầm lì câm nín suốt mấy ngày thậm chí cả tuần, nhưng lại chẳng tự nhận ra được và luôn ngỡ ngàng lúc tôi hỏi có chuyện gì không ổn hay sao. Vào ngày hôm trước chuyến đi ra miệt duyên hải kia, Denys lại sa vào tình trạng đầu óc để tận đẩu đâu, như thể anh chìm sâu trong những suy tưởng; tuy nhiên lúc tôi nói vậy anh cười giễu tôi.
Tôi đòi được bay cùng vì thích ngắm biển. Lúc đầu Denys bằng lòng nhưng rồi đổi ý thoái thác. Anh không mang em theo được, hành trình vòng qua Voi sẽ rất cực nhọc, Denys bảo, có thể phải hạ cánh, ngủ giữa rừng núi hoang vu, do vậy cần đem theo một cậu trai bản xứ. Tôi nhắc chuyện trước anh từng nói sẽ đưa tôi bay khắp châu Phi. Quả có thế, anh bảo, nếu thật sự có voi ở Voi, anh sẽ chở tôi tới để xem chúng, sau khi tường tận các điểm hạ cánh và cắm trại trên đường. Đây là lần duy nhất Denys cự tuyệt những lời khẩn khoản đòi bay theo của tôi.
Denys ra đi thứ Sáu ngày mùng tám:
“Hẹn em thứ Năm tới,” anh nói trước khi đi, “Anh sẽ về kịp để ăn trưa cùng em.”
Khởi động chiếc ô tô của mình để ra sân bay Nairobi; sau khi đã khuất dạng ở khúc cua của con đường trước nhà, Denys đột ngột trở lại để cầm theo tập thơ trước đó đã đưa tôi xem. Đứng gác một chân lên bậc xe, Denys dò ngón tay trên trang giấy, đọc cho tôi bài thơ hai đứa đang bình luận dở.
“Ngỗng xám của em đây rồi,” anh bảo:
“Tôi thấy ngỗng xám trên bình nguyên
Cả bầy dập dờn giữa không trung -
Trực chỉ từ chân trời này qua chân trời kia
Với mảnh hồn kiên định phát ra từ cuống họng -
Và sắc lông xám bạc tựa dải khăn quàng lên những khung trời vô tận
Và quấn quanh các tia nắng trời rắc rải mọi nếp đồi.*”
Và anh giơ tay vẫy chào tôi rồi lái xe đi, mãi mãi.
Hạ cánh ở Mombasa, máy bay Denys gãy một cánh quạt. Anh đánh điện tới Nairobi xin tiếp tế các phụ tùng cần thiết và hãng Hàng không Phi châu cử một nhân viên đem đến Mombasa. Sửa máy bay xong xuôi, lúc sắp sửa một lần nữa cất cánh Denys rủ cậu nhân viên nọ cùng bay. Nhưng cậu ta từ chối. Quen với việc bay, trước giờ từng bay cùng nhiều người, cả với Denys, trong khi Denys lại là một phi công giỏi, có tiếng tăm trong dân bản xứ ở lĩnh vực này cũng như mọi phương diện khác, vậy mà lần ấy cậu thanh niên kia đã cự tuyệt bay cùng anh.
Mãi sau này, chuyện trò cùng Farah ở Nairobi, cậu ta kể: “Khi ấy có cho cả trăm rupee em cũng chẳng bay cùng Bwana Bedar.” Bóng đen số phận, thứ bản thân Denys cảm nhận được trong những ngày cuối cùng ở Ngong, giờ hiển hiện rành rành trước mắt con người bản xứ kia.
Vậy là Denys mang theo Kamau, gia nhân của anh, tới Voi. Kamau tội nghiệp rất sợ bay. Hồi ở đồn điền cậu từng kể với tôi từ lúc máy bay cất cánh tới khi hạ xuống đất Kamau chỉ gằm mặt nhìn chăm chăm vào bàn chân mình, mỗi lần bất chợt thoáng thấy khung cảnh bên ngoài từ độ cao ghê gớm ấy là cậu lại thót cả tim.
Bài thơ Ngỗng hoang (Wild geese) của thi sĩ Anh Iris Tree (1897-1968).
Thứ Năm tôi mong ngóng Denys quay về, trong bụng tính anh sẽ bay từ Voi lúc bình minh, mất hai giờ để tới Ngong. Rồi chẳng thấy Denys đâu trong khi sực nhớ ra một số việc cần phải làm ở Nairobi nên tôi lái xe vào thành phố.
Ở châu Phi, mỗi bận hễ ốm mệt hay quá lo lắng, tôi lại bị một ám ảnh kì lạ đeo bám. Đó là dường như xung quanh tôi mọi thứ đều đang lâm vào hiểm nguy hay bất trắc, và giữa lúc tai ương như thế chính tôi, vì lí do này khác, lại đứng nhầm phe, do đó bị cả thiên hạ nghi ngờ, e ngại.
Trong thực tế cơn ác mộng này là hồi ức về thời chiến tranh. Bởi dạo đó vài năm liền, người ở xứ thuộc địa này tin rằng trong thâm tâm tôi là kẻ ủng hộ bọn Đức, và nhìn tôi với ánh mắt ngờ vực. Mối tị hiềm này xuất phát từ thực tế chẳng bao lâu trước khi nổ ra chiến tranh tôi, do suy nghĩ chân thành ngây thơ, đã lên tận Naivasha mua sắm ngựa cho người đứng đầu quân Đức ở Đông Phi, tướng Paul von Lettow. Ông ta, trên chuyến tàu cùng tới châu Phi, đã nhờ tôi mua giúp mười con ngựa giống Abyssinia, nhưng lúc chân ướt chân ráo mới qua tâm trí tôi còn để ở nhiều thứ khác thành thử nhãng đi, tới mãi sau này khi ông liên tục viết thư bàn chuyện ngựa giống tôi mới thu xếp lên mạn Naivasha mua chúng cho ông. Liền sau đó chiến tranh bùng nổ nhanh tới độ số ngựa này chẳng bao giờ được chuyển đến tay người Đức. Tuy nhiên tôi không thể lẩn tránh được sự thật là vào thời điểm nổ ra chiến tranh lại đang mua sắm ngựa cho quân Đức. Mối hiềm nghi tôi phải gánh, tuy nhiên không kéo dài tới cuối cuộc chiến mà chấm dứt khi cậu em tôi tự nguyện tham gia lực lượng Anh rồi được tặng thưởng huân chương chữ thập Victoria trong trận tổng tấn công Emiens*; phía Bắc Roye. Sự kiện này thậm chí được loan tin trên tờ East African Standard dưới hàng tít: Một tấm huân chương chữ thập của Đông Phi.
Một trong những trận đánh quan trọng nhất trong thế chiến thứ nhất xảy ra trên đất Pháp.
Dạo ấy tôi chẳng mấy để tâm đến tình thế bị ghẻ lạnh, bởi nhìn từ bất kì góc độ nào tôi cũng không hề thân Đức và tự cho hoàn toàn có thể giãi bày ngọn ngành nếu cần. Nhưng sự việc hẳn hằn sâu hơn tôi tưởng, và nhiều năm sau, mỗi bận mệt mỏi hay bị sốt, cảm giác này lại ập tới. Trong mấy tháng sau cuối ở châu Phi, lúc vạn sự quanh tôi đều hỏng bét, đôi khi tâm trạng này thình lình bủa vây tôi giống như một thứ bóng tối, và khiến tôi khiếp đảm nghĩ đến chứng loạn thần.
Tại Nairobi ngày thứ Năm ấy, cơn ác mộng kia đột ngột xâm chiếm tôi, và càng lúc càng dâng lên mãnh liệt đến nỗi tôi thầm hỏi phải chăng mình bắt đầu phát điên. Chẳng rõ tự đâu, có một nỗi buồn sâu thẳm bao trùm thành phố cũng như những người tôi gặp, và đồng thời ai cũng ngoảnh mặt đi với tôi. Không ai dừng chân chuyện trò cùng tôi, thậm chí bạn bè lúc thấy tôi cũng chui tọt vào ô tô, lái đi. Ngay cả ông lão Duncan, dân Scotland, chủ hiệu tạp hóa mà tôi là khách hàng lâu năm, đồng thời là bạn nhảy trong buổi vũ hội ở phủ toàn quyền, thấy tôi bước vào cửa hiệu thì nhìn tôi vẻ hốt hoảng rồi bỏ đi mất dạng. Tôi bắt đầu cảm thấy trống vắng ở Nairobi như giữa một hoang đảo.
Tôi chẳng còn ai trò chuyện vì đã bỏ lại Farah ở đồn điền đón chờ Denys. Người Kikuyu không được việc trong các tình huống như thế này, bởi quan niệm về thực tại, và chính thực tại cuộc sống họ, khác với của chúng ta. Thế nên tôi dự định ăn trưa cùng Phu nhân McMillan ở Chiromo, và nghĩ sẽ tìm thấy dân da trắng tại đấy để tâm tình, và bình tâm trở lại.
Tôi lái xe tới ngôi nhà cổ kính, đáng yêu kiểu Nairobi ở Chiromo, nằm cuối con đường dài trồng tre, và gặp một nhóm khách dự bữa trưa tại đây. Nhưng tình cảnh ở Chiromo cũng hệt như trên các con phố Nairobi. Người nào dường như cũng buồn hắt hiu, ngưng bặt câu chuyện khi tôi đến nơi. Ngồi kế tôi, ông bạn già Bulpett chỉ cụp mắt nhìn xuống và thốt ra có vài từ. Tôi gợi chuyện về những chuyến leo núi của ông tại Mexico, hòng phá tan bóng tối đang phủ nặng lên mình, song ông lão chừng như chẳng còn nhớ gì nữa.
Tôi bụng bảo dạ: Hỡi ơi nhân tình thế thái, những người này không phải dành cho ta thì quay về đồn điền vậy. Lúc này Denys hẳn đã ở đó. Chúng tôi sẽ trò chuyện và cư xử có đầu có cuối; trí óc tôi sẽ lành mạnh trở lại, nhận biết và thông tỏ được mọi sự tình.
Nhưng dùng xong bữa trưa, phu nhân McMillan gọi tôi vào gian phòng khách nhỏ, thông báo vụ tai nạn ở Voi. Máy bay Denys lật ngược rồi rơi, anh thiệt mạng.
Đúng như tôi nghĩ lúc trước, chỉ nội cái tên Denys cũng đã khiến sự thật bộc lộ, tôi hiểu và vỡ ra mọi cớ sự.
Sau này, vị Hạt Trưởng ở Voi có viết thư thuật lại cho tôi chi tiết vụ tai nạn. Denys qua đêm ở chỗ ông ta, đến sáng thì cùng cậu gia nhân cất cánh bay về đồn điền. Vừa đi anh đã vòng trở lại, bay là là cách mặt đất chỉ chừng sáu chục thước. Máy bay đột ngột chao đảo, sa vào tình trạng xoắn trôn ốc và bổ nhào xuống như một con chim. Lúc chạm đất máy bay bốc cháy, hơi nóng khiến những người đổ xô đến đều phải dừng bước. Sau khi dùng cành cây và đất dập được đám cháy, mọi người thấy máy bay đã vỡ vụn còn hai người bên trong đều tử nạn.
Nhiều năm sau ngày hôm đó, xứ thuộc địa coi cái chết của Denys là một mất mát chẳng thể vãn hồi. Lớp người khai khẩn bình dân dành những tình cảm tốt đẹp cho anh - một sự nể trọng các giá trị nằm ngoài tầm hiểu biết của họ. Thông thường người ta đề cập đến anh như một vận động viên; họ bàn tán thành tích hiển hách mà vận động viên crickê hay tay gôn Denys Finch-Hatton đã gặt hái, những điều cá nhân tôi chưa từng nghe nói, chỉ đến sau khi anh qua đời tôi mới được biết danh tiếng nổi như cồn của anh trong mọi môn thể thao. Và lúc ca tụng anh như một nhà thể thao, người ta luôn nói thêm anh rất mực thông minh. Nhưng trên hết thảy họ thực sự nhớ tới Denys vì tính cách chẳng hề kiêu căng hay tính toán giành lợi lộc cho bản thân, một bản tính chân thành vô điều kiện mà ngoài anh ra tôi chỉ thấy ở những kẻ khờ. Nhìn chung, tại xứ thuộc địa, các phẩm chất này không được tuyên dương làm gương, song sau khi chủ nhân chết đi, có lẽ lại được được thán phục thành thực hơn những nơi khác.
Người bản xứ biết rành Denys hơn dân da trắng và cái chết của anh là một tổn thất lớn cho họ.
Tại Nairobi, biết tin Denys chết, tôi tìm mọi cách đến Voi. Hãng hàng không gửi Tom Black xuống điều tra vụ tai nạn, và tôi lái xe tới sân bay xin ông này cho đi cùng. Tuy nhiên khi tôi đến nơi thì máy bay của Tom Black vừa cất cánh trực chỉ hướng Voi.
Ngoài ra có thể dùng đường bộ nhưng đã vào mùa mưa nên tôi cần tìm hiểu tình hình đi lại ra sao. Trong lúc ngồi đợi thông tin tình trạng đường xá, tôi nhớ lại Denys từng nói muốn được chôn ở núi Ngong. Thật lạ lùng trước đấy tôi chẳng hề nghĩ tới điều này, đầu óc tôi không có chút ý niệm nào của việc họ sẽ đem anh đi chôn. Giờ sự thể ấy hiện về rõ nét tựa một bức tranh đang mở ra trước mắt tôi vậy.
Lúc còn một lòng một dạ nghĩ mình sẽ sống chết với châu Phi, tôi có chỉ cho Denys một địa điểm trong rặng Ngong, trên sườn của đỉnh thứ nhất thuộc địa phận Khu bảo tồn động vật hoang dã, và nói đây là chỗ một mai mình sẽ táng thân. Chiều tối ấy, lúc cùng ngồi ngắm rặng núi từ nhà tôi, Denys bảo nếu thế anh cũng muốn được chôn tại đấy. Từ đó, trong những lần lái xe vào núi, đôi bận Denys lại bảo: “Nào hãy vào tận chỗ mộ phần của chúng ta.” Một bận cắm trại trong núi tìm trâu rừng; chúng tôi đã có một buổi chiều cuốc bộ men sườn núi để nhìn chỗ ấy gần hơn. Từ đó tầm nhìn của ta được mở ra đến vô tận trước cảnh vật bao la, hùng vĩ và trong ánh tà dương bữa ấy, chúng tôi đã lặng ngắm cả Mount Kenya lẫn Kilimanjaro. Denys vừa nằm dài trên cỏ ăn một quả cam vừa bảo muốn được ở lại đây. Điểm an táng tôi nằm cao hơn một chút. Từ cả hai điểm chôn cất đều thấy được nhà tôi trong cánh rừng thấp thoáng tít đằng Đông. Nơi xa ấy là chỗ hôm sau chúng tôi sẽ quay về và sống đó mãi mãi, tôi từng nghĩ, bất chấp chân lí phổ quát Tất Cả Đều Phải Chết.
Hay tin Denys qua đời, Gustav Mohr, từ đồn điền của mình, chạy tới nhà tôi, rồi không thấy tôi ở đó liền tất tả đi Nairobi tìm gặp. Chẳng bao lâu sau, Hugh Martin cũng tới hội họp với hai chúng tôi. Tôi kể họ nghe di nguyện của Denys về địa điểm an táng trong núi, rồi họ đi đánh điện cho người ở Voi. Trước khi tôi quay về đồn điền, hai người thông báo thi thể Denys sẽ được chở tới bằng tàu hỏa sáng hôm sau, nên tang lễ sẽ tiến hành trong núi vào buổi chiều. Tôi phải chuẩn bị huyệt mộ cho kịp thời điểm đó.
Gustav Mohr cùng tôi trở về đồn điền để ngủ lại đặng còn đỡ đần tôi sáng hôm sau. Chúng tôi sẽ phải vào núi trước bình minh để quyết định vị trí và kịp đào huyệt.
Trời mưa suốt đêm, buổi sáng lúc chúng tôi rời khỏi nhà cũng có một trận mưa phùn. Trên đường, các vệt bánh xe do gia súc kéo đầy những nước. Xe chạy vào núi như lạc giữa biển mây. Chúng tôi chẳng còn thấy bình nguyên bên dưới phía trái, hay sườn hoặc các đỉnh núi bên phải. Chiếc xe tải chở nhóm gia nhân theo sau tầm chỉ mươi thước cũng mịt mờ mất dạng, và càng theo con đường dẫn ngược lên thì màn sương mù càng dày thêm. Dựa vào biển báo đặt cạnh đường, chúng tôi biết mình đã tới Khu bảo tồn, nên sau khi đi thêm vài trăm thước nữa, cả đoàn bèn lục tục xuống xe. Bỏ lại chiếc xe tải cùng đám gia nhân chờ trên đường, hai chúng tôi dò dẫm tìm địa điểm chôn cất. Khí trời buổi sớm lạnh buốt mười ngón tay.
Vị trí huyệt mộ không được quá xa con đường, hay tọa lạc chỗ quá dốc khiến xe tải không tới được. Chúng tôi sóng bước một quãng, nói chuyện về sương mù rồi bị chia tách, đi theo những lối khác nhau, và chỉ ít giây là chẳng còn thấy nhau nữa.
Xứ núi mênh mông miễn cưỡng khai mở quanh tôi rồi lập tức đóng lại. Hôm ấy hệt một ngày mưa xứ Bắc. Farah bước cùng tôi với cây súng săn ướt nhẹp: anh lo chúng tôi có thể tình cờ xộc thẳng vào giữa một đàn trâu rừng. Mọi cảnh vật sau màn sương, lúc chúng tôi tới gần, thảy như đều đột ngột hiện ra ngay trước mắt và nom to lớn đến hoang đường. Những bụi ô liu dại màu xám, những đám cỏ cao vượt đầu người, tất cả đều đẫm nước và bốc mùi nồng hắc - dù mang áo mưa, đi ủng cao su nhưng chỉ thoáng chốc tôi đã ướt sũng như thể vừa lội ngang một dòng suối. Đất trời nơi đây vô cùng tĩnh lặng, chỉ những lúc mưa nặng hạt hơn mới vẳng nghe tiếng rào rào từ mọi hướng. Khi màn sương tách ra, tôi thấy một dải xám xanh trước mặt, tựa như một phiến đá - đây hẳn là một trong mấy đỉnh núi xa xa - tuy nhiên chỉ thoáng sau nó lại bị che phủ bởi mưa và sương xám giăng khắp lối. Tôi cứ thế mải miết đi rồi rốt cuộc cũng phải ngưng bước bởi chẳng thể tìm được gì cho đến lúc trời quang hơn.
Gustav Mohr tìm tới sau ba bốn lần réo gọi hòng xác định tôi đang ở đâu. Mặt mày cùng hai tay anh đầm đìa nước mưa. Anh thông báo chúng tôi đã mò mẫm trong sương suốt cả tiếng đồng hồ, và nếu giờ còn chẳng quyết định chỗ đặt mộ thì sẽ không kịp giờ.
“Nhưng giờ còn chưa nhận ra mình đang ở đâu,” tôi nói, “mà ta chẳng thể an táng anh ấy vào chỗ bị mấy đỉnh núi che khuất tầm mắt được. Hãy ráng đợi thêm chút nữa đã.”
Chúng tôi đứng lặng yên giữa đám cỏ cao, tôi lấy một điếu thuốc ra hút. Ngay lúc tôi vừa quăng đi mẩu thuốc còn sót lại thì sương mù tản ra ít nhiều, và một thứ vật chất xám lạnh, trong veo bắt đầu điền đầy cả thế gian. Chúng tôi có thể nhìn ra mình đang ở đâu trong khoảng thời gian mươi phút. Thảo nguyên trải dài phía dưới, và mắt tôi giờ có thể lần theo con đường mình vừa đi qua: nó lượn theo sườn núi, bò lại chỗ chúng tôi đang đứng rồi tiếp tục uốn mình trườn ra xa. Tít về hướng Nam, bên dưới những lớp mây vần vũ, là dãy núi xanh ở chân đỉnh Kilimanjaro. Quay nhìn lên mạn Bắc, trời hửng hơn, trong một thoáng không trung bị các tia sáng nhạt màu cắt xiên qua và có một vệt nắng bạc dựng thẳng đứng trên vai ngọn Mount Kenya. Đột nhiên, gần gặn hơn nhiều, ngay phía Đông bên dưới chân chúng tôi, là chấm đỏ duy nhất, bé xíu giữa cả một miền rặt sắc xám cùng xanh - mái ngói nhà tôi giữa rừng. Chẳng phải tìm kiếm thêm nữa, chúng tôi đã ở đúng chỗ. Lát sau, mưa lại tiếp tục rơi.
Từ nơi đang đứng chúng tôi trèo lên thêm tầm hai chục thước, chọn một vuông đất hẹp từa tựa bậc thềm, dùng la bàn vạch chỗ đặt huyệt theo hướng Đông-Tây. Tôi gọi tốp gia nhân, phân công họ dùng phảng dọn cỏ rồi đào xuống nền đất ướt. Mohr kéo theo vài người để lập một con đường dẫn vào mộ. Họ san đất cho phẳng, cắt cành cây trải xuống vì đất rất trơn trượt, chúng tôi không thể mở con đường tới sát chân mộ vì thế đất ở đó rất dốc. Ở đây tuyệt đối tĩnh lặng, nhưng lúc gia nhân bắt tay vào việc, tôi nghe trong núi có tiếng dội, nó đáp lại những nhát thuổng, giống như có một chú cùn con đang hoắng lên dấm dẳng.
Vài chiếc ô tô từ Nairobi đã tới, và chúng tôi cử một cậu gia nhân đi xuống dẫn đường cho họ, vì giữa một vùng rộng lớn người ta sẽ chẳng thể nhìn ra nhúm người đứng bên một huyệt mộ chìm khuất giữa các lùm cây. Một nhóm người Somali từ Nairobi cũng vừa đến nơi, họ bỏ lại trên đường cái mấy cỗ xe lừa kéo rồi chậm chạp leo lên, mỗi tốp ba hay bốn người, than khóc theo kiểu đặc thù Somali, làm động tác ôm đầu và ngoảnh mặt đi như thể lẩn tránh cuộc đời. Bạn bè của Denys, ở các địa phương nằm sâu trong đại lục, nhận được tin buồn cũng đã lái xe từ Naivasha, Gil-Gil, và Elmenteita sang, bùn đất bám kín xe sau chặng đường trường. Trời trở nên trong hơn, và giờ nền trời trên đầu chúng tôi in rõ bốn đỉnh cao vút của rặng núi.
Xế trưa Denys được đưa từ Nairobi đến, theo lộ trình anh vẫn đi Tanganyika săn bắn dạo trước, bằng một cỗ xe lăn bánh chậm chạp trên con đường lầy lội. Xe dừng lại sát dốc đất cuối cùng, cỗ quan tài hẹp phủ cờ được chuyển khỏi thùng xe. Quan tài được hạ xuống huyệt mộ cũng là lúc xứ núi nơi đây chuyển khác, trở thành cảnh nền trang trí cho ngôi mộ, cũng im lìm như chính nó; rặng núi đứng nghiêm trang, thông tỏ điều chúng tôi đang làm bên trong nó rồi lát sau nó nhận lãnh vai trò cử hành buổi tang lễ, như ấy là công việc riêng giữa nó với anh, biến lũ chúng tôi thành đám người ngoài đứng nhìn, lọt thỏm nhỏ nhoi giữa cảnh trí.
Denys từng quan sát và lần theo hết thảy những nẻo đường miền cao nguyên Phi châu này, và hơn bất kì người da trắng nào, anh tỏ tường đất đai cùng các mùa nơi đây, thực vật và những loài hoang thú, các loại gió cũng như những thứ mùi. Anh đã quan sát sự biến đổi thời tiết ở miền cao nguyên, cư dân của chúng, mây trời và những vì sao đêm. Giữa chốn thâm sơn cùng cốc này, vừa mới đây thôi tôi còn thấy anh, đứng đầu trần dưới mặt trời chiều, phóng mắt khắp vùng đất, và giương ống nhòm nghiên cứu cặn kẽ về nó. Anh đã thấu suốt đất nước này, và trong mắt lẫn trong tâm trí anh, nó được biến cải, được đánh dấu bằng các điểm mốc của riêng anh, rồi trở thành một phần của anh. Giờ châu Phi đón nhận anh và sẽ biến đổi, đồng nhất anh vào nó.
Tôi được nghe kể rằng ngài Giám mục ở Nairobi không muốn tới, bởi chẳng đủ thời gian làm phép cho khu đất an táng, nhưng vẫn có một vị mục sư khác tuyên đọc mọi lời phụng vụ trong lễ tang, những câu chữ trước giờ tôi chưa từng nghe, và giữa khung cảnh bao la giọng ông nhỏ, rành rọt như tiếng chim hót trong núi. Tôi nghĩ Denys sẽ dễ chịu hơn giá mọi trò này nhanh kết thúc. Vị thầy tu đọc câu thánh thi: “Ta sẽ ngước mắt trông lên núi*”
Gustav Mohr và tôi còn ngồi nán lại thêm chút nữa, sau khi những người da trắng đã rời đi. Các tín đồ Hồi giáo chờ cho chúng tôi về hết rồi mới bước tới cầu nguyện bên nấm mộ.
Ít ngày sau cái chết của Denys, thành viên đoàn săn của anh kéo về tề tựu tại đồn điền. Họ không nói cớ sao tới đấy, cũng chẳng đòi hỏi điều gì, chỉ ngồi tựa lưng vào tường nhà, đặt ngửa bàn tay trên mặt hè, và hầu như lúc nào cũng lặng thinh trái ngược nếp sống người bản xứ. Malimu và Sar Sita, hai anh phu vác súng và dò dấu thú từng theo Denys ở mọi chuyến săn, hai con người dũng cảm, khôn khéo, không biết chùn bước là gì, cũng đến đây. Họ từng tháp tùng Vương công xứ Wales, sau nhiều năm vẫn được Ngài nhớ tên và tấm tắc khen là cặp đôi khi chung lưng đấu cật thì chẳng thể ai bì. Nhưng ở đây những người theo dấu thú cừ khôi ấy đã bị lạc mất dấu nên đành ngồi bất động. Kanuthia, người lái mô tô của Denys cũng đến. Chàng thanh niên Kikuyu mảnh dẻ, mang cặp mắt cảnh giác của loài khỉ, từng đưa mô tô vượt nhiều nghìn dặm đường gồ ghề hiểm trở, giờ ngồi đây cạnh nhà tôi, giống một chú khỉ trong lồng, lạnh lùng, buồn bã.
Psalm 121:1.
Bilea Isa, gia nhân người Somali của Denys, từ Naivasha cũng lặn lội tìm xuống đồn điền. Anh này từng hai lần theo Denys về Anh, đi học tại đây, và nói tiếng Anh như một quý ông. Mấy năm trước, Denys và tôi đã dự lễ cưới của Bilea ở Nairobi; đấy là một lễ hội huy hoàng kéo dài tận mấy ngày. Lần đó, chàng lữ khách giỏi giang kiêm nhà thông thái đã trở lại với phong tục tổ tiên: bận tấm áo choàng dát vàng, cúi gập người đầu chạm đất chào đón chúng tôi, rồi nhảy điệu múa kiếm cuồng dã với tinh thần liều mạng quên mình của miền sa mạc. Bilea xuống để được nhìn và ngồi bên nấm mồ của chủ nhân. Từ mộ trở về anh hầu như câm lặng rồi lát sau ra ngồi với những người khác, lưng dựa tường nhà, đôi bàn tay đặt ngửa trên nền hè.
Farah đi ra trò chuyện với những con người đang chìm trong nỗi buồn thương ấy. Bản thân anh cũng héo cả ruột gan. Farah nói: “Việc bà rời khỏi đất nước này chẳng đến nỗi tệ lắm bởi giờ còn có Bedar ở lại đây với chúng tôi.”
Các thành viên trong nhóm của Denys lưu lại chừng một tuần lễ, rồi từng người từng người rời khỏi đồn điền.
Tôi thường lái xe ra mộ phần Denys. Theo đường chim bay, nơi ấy cách nhà tôi không quá năm dặm, nhưng do đường đất quanh co nên khoảng cách thực tế lên tới mười lăm dặm. Ngôi mộ nằm cao hơn nhà tôi ba trăm thước, không khí chốn này cũng khác - trong trẻo như nước đựng ở li vậy; những cơn gió hây hây làm tóc bạn tung bay khi bỏ mũ; bên trên mấy đỉnh núi, lớp lớp mây từ mạn Đông lững lờ tràn đến, vẽ nên các khoảng rợp sống động lên miền đất nhấp nhô bao la, rồi tan biến trên thung lũng Rift.
Tôi ra dhuka mua một thước vải trắng, thứ vải người bản xứ gọi là Americani, rồi cùng Farah dựng ba cột cao sau mộ, giăng dải vải lên đó, để từ nhà tôi có thể phân định chính xác vị trí ngôi mộ, một chấm trắng giữa rặng núi xanh.
Những trận mưa tầm tã trút nước ào ào làm tôi sợ cỏ sẽ mọc um tùm phủ kín mộ, làm mất dấu. Bởi thế một ngày chúng tôi chất hết các tảng đá vôi trắng dọc con đường trước nhà, chính chỗ đá Karomenya từng nhọc công gom thành đống tướng trước cửa chính, lên cỗ xe thùng rồi đem chở vào núi. Dọn sạch cỏ xong, chúng tôi xếp đá thành một hình vuông quanh mộ để đánh dấu; giờ thì lúc nào cũng có thể dễ dàng tìm ra vị trí này.
Vì tôi thường xuyên ra thăm mộ, và hay đưa đám trẻ làm trong nhà đi cùng, nên nơi đây trở thành địa điểm thân quen với chúng; lũ trẻ giờ có thể chỉ đường cho những người muốn tìm tới đây. Chúng còn dựng một mái lều nhỏ trong khoảnh rừng gần đó. Vào mùa hè, Ali bin Salim, người bạn cũ của Denys từ Mombasa đến nằm lên mộ và khóc than, theo phong tục người Ả Rập.
Có lần tôi gặp Hugh Martin cạnh nấm mồ và cùng ngồi trên cỏ trò chuyện mãi. Cái chết của Denys để lại một nỗi đau tận đáy lòng Hugh Martin. Nếu có ai giành được chỗ đứng trong cuộc sống lánh đời kì lạ của Hugh Martin, thì ấy là Denys. Hình mẫu lí tưởng là một thứ lạ lùng, bạn chẳng thể ngờ Hugh lại bám lấy một khái niệm như vậy, cũng như chẳng thể nghĩ việc hình ảnh lí tưởng ấy mất đi sẽ để lại hệ quả cho anh, trong chừng mực nào đó, giống như bị mất một bộ phận nội tạng sống còn. Thật vậy, kể từ cái chết của Denys, Hugh già xọm đi và thay đổi thấy rõ, mặt anh giờ đầy vết đỏ, nom phờ phác. Tuy thế vẫn như xưa, Hugh giữ phong thái điềm tĩnh, cười mỉm hệt Phật di lặc, như nắm được một điều cực kì đáng hài lòng mà cả thiên hạ chẳng ai hay. Hugh bảo tối hôm qua anh phấn khích mãi vì vớ được một câu thích hợp để khắc lên bia mộ Denys. Có lẽ đọc được của một tác gia Hi Lạp cổ nên giờ anh nhắc lại cho tôi bằng thứ tiếng ấy rồi dịch ra. Câu đó như sau: “Trong cái chết lửa quyện cốt tro tôi. Nhưng nào có hề chi bởi giờ tôi đã được an lành yên nghỉ.”
Sau này, anh trai Denys, lãnh chúa của Winchilsea, cho dựng một cột đá trên mộ người em, với câu trích từ bài thơ mà Denys hết mực tán thưởng: “Thơ về ông già thủy thủ*.” Bản thân tôi chưa từng nghe đến bài này tới tận dịp được Denys trích đọc cho nghe - ấy là bận chúng tôi đang trên đường tới đám cưới của Bilea. Tôi cũng không được tận mắt ngắm cây trụ đá: nó được dựng lên sau khi tôi rời khỏi châu Phi.
Tại Anh cũng có một công trình tưởng niệm Denys. Tưởng nhớ về anh bạn đồng bối đã bắc một chiếc cầu đá vắt qua con mương chạy giữa hai sân cỏ thi đấu ở Eton. Một bên lan can cầu khắc tên Denys và niên khóa của anh ở Eton, lan can bên kia ghi dòng chữ: “Người từng nổi danh trên những mặt sân này và được nhiều bạn bè yêu mến*.”
Con đường đời Denys nối liền dòng nước mương nằm giữa khung cảnh hiền hòa nước Anh và đỉnh núi châu Phi. Chỉ là ảo tượng quang học khi cho rằng con đường ấy quanh co, lệch lạc - thực ra chính môi trường xung quanh đã méo mó, lệch lạc. Dây cung đã buông trên cây cầu ở Eton, mũi tên vạch nên quỹ đạo của nó, và lao trúng trụ đá trên rặng Ngong.
Sau khi tôi rời châu Phi, Gustav Mohr có viết thư thuật lại một chuyện lạ lùng, tôi chưa từng nghe bao giờ, xảy ra bên nấm mộ của Denys. “Người Masai,” anh viết, “đã báo lên ông trưởng hạt Ngong, rằng nhiều lần, lúc bình minh hay buổi xế chiều, họ bắt gặp sư tử trên mộ Finch-Hatton. Một con đực và một con cái thường đứng hoặc nằm rất lâu trên mộ. Đôi ba người Ấn, trên các xe tải chạy qua đây trên đường tới Kajado, cũng nhìn thấy chúng. Sau khi chị đi, đất quanh mộ đã được san phẳng thành một mặt thềm rộng, tôi tin điểm bằng phẳng này là vị trí tốt cho sư tử bởi từ đó chúng có thể quan sát khắp bình nguyên có đám gia súc và hoang thú bên dưới.”
Sáng tác của thi sĩ Anh Samuel Taylor Coleridge (1772-1834).
Cây cầu ngày nay nằm trong khuôn viên trường Eton College, một ngôi trường nam sinh nội trú tại Eton Berkshire.
Thật quả xứng đáng và hợp lí hợp tình khi sư tử tìm tới mộ của Denys và biến anh thành tượng đài kỉ niệm của châu Phi. “Một ngôi mộ gần xa nức tiếng*.” Ngay cả ngài Nelson* lừng lẫy tôi thầm nhủ, tại quảng trường Trafalgar cũng chỉ có được mấy con sư tử bằng đá.
Câu thơ của William Shakespeare trong bài Fidele’s Dirge.
Tướng Horatio Nelson, phó đô đốc hải quân hoàng gia Anh (1758-1805).