Giờ chỉ còn trơ trọi mình tôi giữa đồn điền. Nơi đây cũng không còn thuộc về tôi nữa, nhưng bên mua bằng lòng cho tôi ở lại ngôi nhà bao lâu tùy ý và, bởi các nguyên do pháp lí, cho tôi thuê với giá một shilling mỗi ngày.
Việc bán đồ đạc trong nhà khiến Farah và tôi khá bận rộn. Chúng tôi bày toàn bộ đồ sứ và cốc thủy tinh ra bàn ăn cho khách mua xem; sau đó, lúc bàn ăn đã bán, chúng tôi bày xuống sàn nhà thành mấy dãy dài. Chú chim trong chiếc đồng hồ cúc cu treo tường vẫn báo giờ đầy ngạo nghễ trên mấy dãy cốc chén ấy, cho đến một ngày chính chiếc đồng hồ cũng bị bán và chú chim bay đi mất. Một hôm ban ngày vừa bán sạch mớ cốc thủy tinh rồi đến tối liền nhận ra sai lầm, thế là sáng sau tôi vội vã lái xe vào Nairobi thương lượng với người phụ nữ đã mua xin được hủy giao kèo. Tôi không có chỗ cất số cốc này, nhưng những ngón tay và bờ môi của bao bằng hữu tri kỉ đã chạm vào chúng, từ chúng tôi cũng đã uống bao nhiêu rượu vang tuyệt hảo được họ tặng, chúng cũng đang lưu giữ âm vọng của các tâm tình bên bàn ăn thuở nào, và tôi chẳng hề muốn lìa xa chúng. Sau cùng, tôi nghĩ cốc thủy tinh là thứ rất dễ vỡ.
Tôi có một bức bình phong cũ bằng gỗ, trước giờ luôn được đặt cạnh lò sưởi, trên đó vẽ những hình người Trung Hoa, hoàng đế Hồi giáo và người da đen dắt chó. Tối tối, lúc lửa đã cháy đều, các hình bóng này sẽ bước ra minh họa cho những câu chuyện tôi kể cho Denys. Sau khi ngắm nghĩa chẳng nỡ rời mắt, tôi đành xếp tấm bình phong vào cái hộp, trong ấy các nhân vật sẽ có thể nghỉ ngơi một đỗi.
Cùng thời gian này, Phu nhân McMillan đang bước vào giai đoạn hoàn tất công trình tưởng niệm người chồng quá cố, Ngài Northrup McMillan, tại Nairobi. Đây là một tòa nhà rất đẹp, có thư viện với nhiều gian đọc sách. Bà lái xe tới đồn điền, rầu rầu ôn chuyện ngày xưa, và mua lại hầu hết mớ đồ đạc tôi đưa từ Đan Mạch qua cho thư viện. Tôi mừng rỡ khi mấy cái tủ, rương hòm đẹp mắt, thiết kế hợp lí và bề ngoài ấm cúng ưa nhìn sẽ được bên nhau, trong môi trường của sách vở và học giả, giống một nhóm mấy phụ nữ, giữa thời kì cách mạng, tìm được chốn nương náu ở một trường Đại học.
Sách của mình tôi đem đóng vào thùng rồi dùng để ngồi hoặc làm bàn. Sách ở xứ thuộc địa, đối với cuộc sống bạn, đóng một vai trò khác ở châu Âu: chúng chi phối cả một phương diện đời bạn; vì lẽ đó, tùy theo chất lượng, bạn sẽ thấy cảm kích, hay phẫn nộ với chúng nhiều hơn mức độ cảm nhận khi còn sống tại các nước văn minh.
Các nhân vật hư cấu trong sách chạy kè kè bên ngựa bạn cưỡi trong đồn điền, hay thơ thẩn bước đi giữa những nương ngô. Giống các chiến binh dày dạn, họ tìm ngay ra điểm chiếm đóng phù hợp cho mình. Vào buổi sáng sau tối đọc cuốn Crome Yellow *, tôi đã mua nó tại hiệu sách ở Nairobi dù chưa bao giờ nghe nói đến tên tác giả và thích thú như thể tìm thấy một hòn đảo mới xanh mướt giữa đại dương, tôi đang tế ngựa băng qua thung lũng của Khu bảo tồn động vật hoang dã, một chú linh dương nhỏ nhảy vọt ra, và lập tức biến thành con nai cho vợ chồng Ngài Hercules và cả bầy ba mươi con chó mặt xệ lông đen pha nâu vàng săn đuổi. Mọi nhân vật của Walter Scott* đều đang tại gia, trong xứ này, và có thể gặp họ ở bất kì đâu; tình trạng tương tự xảy ra với Odysseus và người của mình, kì lạ làm sao nhiều nhân vật của Racine* cũng vậy. Peter Schlemihl*đã dạo bước trên núi Ngong bằng đôi hài bảy dặm, ong mật Clown Agheb* trú ngụ trong mảnh vườn mé bên sông của tôi.
Tiểu thuyết của nhà văn Anh Aldous Huxley.
Những thứ khác đã bị bán, tháo gỡ đóng gói rồi gửi đi, đâm ra ngôi nhà, ngày qua ngày trong mấy tháng đó, dần dà trở nên chính nó *, đẹp đẽ tựa một vỏ sọ người, một địa điểm trú ngụ rộng rãi mát mẻ, sở hữu tiếng vọng, và cỏ ngoài bãi mọc lan tới tận bậc cửa. Vào thời điểm cuối các gian phòng trơ trụi chẳng còn gì và trong tình trạng đó, khi ấy theo tôi nhận xét, chúng dường như phù hợp để ở hơn cả trước kia.
Tôi bảo Farah: “Nhà mình nhẽ ra tứ thời phải để trống trải thế này mới phải.”
Farah hiểu rõ tôi muốn nói gì, bởi dân Somali ai ai cũng phần nào là người khổ hạnh. Giai đoạn này Farah dồn toàn tâm toàn ý đỡ đần tôi mọi việc có thể; nhưng anh cũng ngày càng giống một người Somali thực thụ, như hồi được gửi tới đón tôi ở Aden buổi đầu cập bến châu Phi. Rất lo cho mấy đôi giày tã của tôi, Farah thổ lộ là ngày nào cũng khấn khứa để chúng trụ được đến Paris.
Water Scott (1771-1832), nhà văn Anh.
Jean Racine (1639-1699), nhà viết kịch Pháp.
Nhân vật trong truyện vừa Câu chuyện huyền hoặc của Peter Schlemihl hay Người đã bán đi cái bóng của mình của nhà văn Đức gốc Pháp Adelbert von Chamisso (1781-1838).
Sáng tác của nhà thơ Anh Edith Sitwell (1887-1964).
Tiếng Đức trong nguyên bản: das Ding an sich .
Trong những tháng ấy, ngày nào Farah cũng bận mấy bộ cánh diện nhất. Anh có vô khối quần áo đẹp: mấy tấm áo gi-lê Ả Rập có đính các sợi dây vàng ròng mà tôi cho, chiếc áo gi-lê đỏ tươi viền vàng cực kì tao nhã mà Berkeley Cole tặng, cùng nhiều khăn lụa turban màu sắc bắt mắt. Thường khi anh chỉ cất chúng trong rương, để dành mặc vào những dịp đặc biệt. Nhưng giờ Farah chưng ra những gì bảnh nhất. Anh lẽo đẽo theo tôi, đằng sau ở khoảng cách một bước chân, trên đường phố Nairobi, hay đứng chờ trên cầu thang dơ dáy ở các tòa nhà công quyền hoặc văn phòng luật sư, trong trang phục lộng lẫy như vua Solomon. Để hành xử như vậy bạn phải là người Somali.
Giờ tôi còn phải an bài số phận bầy ngựa và chó của mình. Từ đầu tôi định bắn chết chúng, song có nhiều bạn bè viết thư xin mang về nuôi. Sau đó, mỗi lần cưỡi ngựa ra ngoài cùng lũ chó, tôi lại thấy dường như bất công nếu bắn chúng khi vẫn còn tràn trề sức sống thế này. Nan đề này khiến tôi lần lữa nhiều ngày và tôi chẳng nhớ nổi đã khi nào, trong bất cứ chuyện gì, mình lại thay đổi xoành xoạch quyết định như vậy. Sau rốt tôi quyết định giao chúng cho bạn bè.
Tôi cưỡi chú ngựa yêu Rogue vào Nairobi. Nó đi rất chậm, hết nhìn hướng Bắc lại ngoảnh về đằng Nam. Tôi nghĩ Rogue hẳn thấy lạ lắm khi theo đường cái tới Nairobi rồi chẳng quay lại nữa. Sau khi hì hục mãi mới đưa được Rogue vào tàu ngựa trên tàu hỏa đi Naivasha, tôi đứng trong toa và cảm nhận, lần cuối, cái mõm mượt như lụa của chú cọ lên tay, lên mặt mình. Ta sẽ không để mi đi, Rogue ơi, trừ phi mi chúc phúc cho ta. Hai đứa mình đã cùng nhau lần mò tìm ra lối mòn dẫn xuống sông giữa nhằng nhịt các shamba và lều trại dân bản địa, để rồi mi lẹ bước như một con la trên lối xuống dốc đứng, trơn trượt ấy, và giữa dòng nâu của con sông hôm ấy, ta đã thấy đầu mình và đầu mi sát kề nhau. Cầu chúc cho mi lúc này, đang thảnh thơi tung tẩy giữa thung mây gặm hoa cẩm chướng bên phải, nhá hoa cải bên trái.
David và Dinah, cặp chó săn hươu non tơ tôi sở hữu lúc ấy, đều thuộc dòng giống con Pania, tôi đem giao cho người bạn ở một nông trại gần Gil-Gil, chỗ chúng sẽ có cơ đi săn thỏa thích. Cả hai rất khỏe, nghịch ngợm, và lúc được đưa lên một chiếc ô tô chở khỏi đồn điền, chúng thở phì phò, hai cái đầu thò ra ngoài xe, áp sát vào nhau, lưỡi thè lè, như thể đang theo dấu một loài thú mới hay ho nào đó. Những cặp mắt tinh tường, những đôi chân lanh lẹ và những con tim nồng nhiệt đã rời bỏ nhà tôi và thảo nguyên, để hít thở, đánh hơi và khoan khoái chạy nhảy nơi vùng đất mới.
Một số người của tôi giờ cũng bắt đầu rời khỏi đồn điền. Vì không còn cây cà phê, và xưởng chế biến cũng chẳng tồn tại nữa, Pooran Singh nhận ra mình thất nghiệp. Ông không muốn nhận công việc khác ở châu Phi, và cuối cùng quyết định quay về Ấn Độ.
Vốn là bậc thầy trong lĩnh vực khoáng chất nhưng ngoài đời Pooran Singh lại giống một đứa trẻ. Ông chẳng thể ngộ ra, dù chỉ mơ hồ, rằng đồn điền đã tới hồi kết; ông đau xót sụt sùi, dòng nước mắt chảy dài xuống chòm râu đen, và quấy nhiễu tôi nhiều ngày nhằm cố gắng trì kéo tôi ở lại đồn điền, cùng nhiều đề xuất giúp đồn điền tiếp tục vận hành. Thường tự hào về hệ thống máy móc của chúng tôi, dẫu thực trạng chúng có thế nào chăng nữa, giờ Pooran Singh như bị cột vào khối động cơ hơi nước và chiếc máy sấy cà phê trong xưởng, đôi mắt đen dịu dàng ngấu nghiến ngắm từng con ốc trên mấy cỗ máy. Sau rốt, nhận thức ra tình thế vô vọng, ông tức thời buông xuôi, dẫu vẫn ngậm ngùi, nhưng đã chấp nhận và ở mấy dịp gặp nhau ông nói nhiều tới chuyến đi trước mắt. Lên đường, Pooran Singh chẳng đem hành lí cồng kềnh ngoại trừ chiếc hộp nhỏ đựng dụng cụ, thiết bị hàn, như thể trước đấy ông đã gửi trái tim và cuộc sống của mình qua đại dương nên ở đây giờ còn lại có chăng chỉ là tấm thân thon gọn, làn da bánh mật cùng bộ đồ nghề hàn.
Định bụng tặng Pooran Singh một món quà chia tay, và đã thầm hi vọng ông sẽ thích thứ gì đó mình đang có sẵn nhưng lúc nghe tôi ngỏ lời ông lại mừng quýnh bảo muốn một chiếc nhẫn. Tôi không có nhẫn mà cũng chẳng có tiền mua. Chuyện này xảy ra từ mấy tháng trước, dạo ấy Denys có ghé đồn điền ăn tối và tôi đã thuật lại cho anh nghe. Trước đó Denys có đưa tôi một chiếc nhẫn vàng, nạm đá quý Abyssinia và điều chỉnh được kích cỡ cho vừa mọi ngón tay. Nghe chuyện, nghĩ tôi đang có ý định tặng nó cho Pooran Singh, vì Denys thường phàn nàn bất cứ thứ gì anh tặng là tôi lập tức đem cho những người da màu của mình, anh liền tháo chiếc nhẫn từ tay tôi rồi đeo vào tay mình và bảo sẽ giữ nó cho tới khi Pooran Singh rời đi. Ấy là mấy ngày trước khi anh đi Mombasa, và vì thế chiếc nhẫn đã bị chôn cùng anh. Dầu sao tới thời điểm Pooran Singh ra đi, nhờ bán đồ bán đạc, tôi cũng gom đủ tiền mua ở Nairobi chiếc nhẫn ông muốn. Đây là một chiếc nhẫn vàng nặng trịch, nạm viên đá to sụ màu đỏ nom như miếng thủy tinh. Pooran Singh hạnh phúc đến độ lại nhỏ lệ một lần nữa và tôi tin chiếc nhẫn đã giúp ông vượt qua cuộc chia li sau cuối với đồn điền và những cỗ máy của mình. Bởi ở tuần lễ cuối, ngày nào ông cũng đeo chiếc nhẫn và bất cứ khi nào tới nhà tôi, ông lại giơ bàn tay lên cho tôi xem với nụ cười hiền lành, rạng rỡ. Trên sân ga Nairobi, thứ cuối cùng của ông đập vào mắt tôi là bàn tay đen thon từng thao tác trên đe với nhịp độ mãnh liệt, giờ đang thò ra ngoài toa tàu bản địa đông nghịt, nóng như nung mà Pooran Singh ngồi bên trong trên hộp đồ nghề, và lúc nó vẫy chào từ biệt thì mặt đá đỏ kia lại lấp lóe tựa ngôi sao nhỏ.
Pooran Singh trở về Punjab đoàn tụ người thân. Nhiều năm không gặp nhưng họ vẫn giữ liên lạc bằng việc gửi cho Pooran Singh những tấm ảnh gia đình mà ông giữ gìn cẩn thận trong ngôi lán quây tôn múi kề xưởng máy để rồi đem ra khoe cùng tôi với vẻ rất mực yêu thương, tự hào. Tôi nhận được mấy lá thư của Pooran Singh lúc đã đáp tàu thủy đi Ấn Độ. Thư nào thư nấy đều mở đầu như nhau: “Quý bà thân mến, xin tạm biệt.” và tiếp theo là tin tức cũng như sự kiện xảy ra trên hành trình.
Một tuần sau cái chết của Denys, sáng nọ có một chuyện lạ lùng đã xảy đến với tôi.
Nằm trên giường, suy ngẫm về các biến cố trong mấy tháng qua, tôi cố gắng hiểu thấu chúng. Trong mắt tôi dường như hẳn mình đã đi chệch, theo cách này hay cách khác, con đường nhân sinh bình thường, và lạc vào một vùng xoáy nước không được phép đặt chân. Bất cứ bước ở đâu mặt đất dưới chân tôi cũng chìm sâu còn sao trời thì sa cả xuống. Tôi nghĩ tới bài thơ về Ragnarok* có tả quang cảnh các vì sao rơi xuống, các chú lùn trong hang núi thở dài rồi lăn ra chết vì sợ. Tất cả việc gần đây, tôi bụng bảo dạ, chẳng thể chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên các sự kiện mà người đời thường gọi là vận rủi, mà hẳn phải có quy luật chung. Nếu khám phá ra, nó sẽ cứu vớt tôi: Nếu tìm đến đúng chỗ, tôi thầm nhủ, ta sẽ phát giác mối dây liên kết mọi sự. Tôi nghĩ mình cần trở dậy và truy tìm dấu hiệu chỉ báo.
Nhiều người cho đi tìm chỉ báo là việc làm rồ dại. Nguyên cớ là bởi bạn phải thực sự ở trong một tâm trạng đặc thù mới đi làm chuyện ấy, và chẳng có mấy người rơi vào tâm trạng này cả. Đi tìm chỉ báo trong tâm trạng ấy bạn sẽ luôn thấy câu trả lời; nó hiện ra như hệ quả tự nhiên của cuộc tìm kiếm vậy. Tương tự thế, một tay chơi thiện nghệ nhặt mười ba lá bài ngẫu nhiên sẽ nhìn ra một thế bài liên hoàn và ở nơi người khác chẳng biết đánh cách nào thì anh ta lại thấy được cơ hội giành thắng lợi hiển hiện ngay trước mắt. Liệu có chiến thắng nào náu bên trong các quân bài kia chăng? Câu trả lời là có, với những tay chơi phù hợp.
Chuỗi sự kiện tận thế trong thần thoại Bắc Âu.
Tôi ra khỏi nhà, thơ thẩn vô định về hướng mấy túp lều gia nhân để tìm kiếm dấu hiệu chỉ báo. Bầy gà đã được thả ra, đang chạy tứ tung giữa các lều. Tôi đứng một lát ngó chúng.
Con gà trống to, lông trắng của Fathima khệnh khạng bước tới trước mặt tôi. Nó bỗng dừng lại, đầu ngoáy ngó, mào dựng lên. Mé bên kia lối đi, từ lớp cỏ chui ra một chú tắc kè hoa nhỏ xíu màu xám, cũng như con gà, đang giữa chuyến thám sát buổi sáng của mình. Con gà xộc thẳng về phía tắc kè - bởi đấy là món ăn của chúng - cục cục mấy tiếng khoái trá. Tắc kè dừng phắt khi thấy gà. Hoảng sợ nhưng đồng thời cũng quả cảm, chú đứng cắm chân xuống đất, hết sức há mồm, và để dọa kẻ thù, trong chớp mắt bắn cái lưỡi hình chùy về phía gà. Tên gà trống đứng im một giây như thể ngạc nhiên, rồi mau lẹ và quyết đoán, cái mỏ như búa kia mổ xuống rứt phăng lưỡi con tắc kè.
Toàn bộ cuộc chạm trán giữa hai con vật diễn ra trong mười giây. Tôi xua con gà của Fathima đi, nhặt cục đá đập chết tắc kè, bởi chú đừng hòng sống nổi nếu không còn lưỡi: tắc kè dùng lưỡi để bắt côn trùng làm thức ăn.
Khiếp đảm bởi cảnh tượng vừa chứng kiến - bởi dẫu ở hình thái thu nhỏ nó vẫn là sự việc xấu xa, khủng khiếp - đến mức tôi phải quay về, ngồi phịch xuống ghế đá kê ở hàng hiên. Tôi ngồi chết lặng mãi khiến Farah phải mang trà ra đặt lên bàn. Cúi gằm xuống mấy phiến đá tôi chẳng dám ngước lên nữa, thế gian này sao đầy hiểm nguy rình rập đến vậy.
Dần dà qua mấy ngày kế tiếp, từng chút từng chút một, trí não tôi nhận ra mình đã nhận được câu đáp mang tính biểu tượng khả dĩ nhất cho lời cầu khẩn. Tôi đã được hồi đáp đầy trân trọng và khác biệt theo một cách lạ lùng. Những đấng cao xanh tôi thỉnh cầu đã xem trọng phẩm giá tôi còn hơn cả chính tôi, và họ có thể đưa ra lời đáp nào khác đây? Rõ ràng hiện tại không phải giờ khắc của vỗ về cưng nựng và đấng cao xanh đã chọn cách làm ngơ trước tiếng cầu xin của tôi. Các thần linh đã cười tôi, một tiếng vọng từ rặng núi theo sau tiếng cười ấy, lời phán truyền của các vị thần nằm giữa điệu kèn trumpet, giữa những con gà trống và tắc kè hoa, ha ha!
Tôi cũng rất vui khi sáng đó đi ra ngoài đúng lúc để cứu tắc kè hoa khỏi một cái chết chậm chạp, đau đớn.
Cũng vào khoảng thời gian này - nhưng là trước thời điểm tôi gửi ngựa đi - Ingrid Lindstrom từ nông trại ở Njoro ghé tới đồn điền ở cùng tôi vài ngày. Đây là nghĩa cử đẹp đẽ của tình bằng hữu vì phải khó khăn lắm Ingrid mới dứt khỏi được trăm công nghìn việc trong nông trại mình. Chồng chị, để kiếm tiền trả cho mảnh đất ở Njoro, đã nhận làm việc cho một công ty lớn chế biến dứa sợi tại Tanganyika và hiện cũng đang đổ mồ hôi sôi nước mắt ở vùng đất chỉ có độ cao hai ngàn bộ kia; điều này như thể vì nông trại Ingrid phải chịu để chồng đi làm tôi làm mọi. Chính vì lẽ đó hiện tại chị đang một mình vật lộn điều hành khu trại vốn chẳng thể bỏ bê không coi sóc dẫu chỉ vài ngày vì vừa mở rộng khu nuôi gia cầm cũng như vườn rau, lại đang có đàn lợn cùng mấy ổ gà tây mới nở. Ấy vậy mà vì tôi Ingrid đã giao phó hết thảy cho Kemosa, rồi lao tới đồn điền như cách chị sẽ lao vào giúp một người bạn đang bị cháy nhà, và lần này chị đến không có Kemosa theo cùng, điều mà trong tình thế hiện tại có lẽ tốt cho Farah. Ingrid thấu hiểu và cảm nhận bằng cả trái tim, với một mãnh lực nhận thức như bằng các tế bào cơ thể chị, việc một nữ nông gia phải từ bỏ trang trại, dứt áo ra đi là thế nào.
Lúc ở bên nhau, chúng tôi chẳng bàn chuyện quá khứ hay tương lai, cũng không đả động tên của bất kì bạn bè hay mối quen biết nào, tâm trí hai đứa đều bị cột chặt vào mối tai ương hiện tại. Chúng tôi sóng bước la cà chỗ này chỗ nọ trong đồn điền, gọi tên từng thứ lúc đi ngang, tựa như đang thầm kê biên tổn thất của tôi, hay như thể Ingrid đang thay mặt tôi tập hợp dữ liệu cho một hồ sơ kêu oan đưa ra trước số mệnh. Từ trải nghiệm bản thân, Ingrid thừa biết chẳng hề có thứ hồ sơ như vậy, nhưng dẫu sao ý tưởng về nó luôn là một nguồn sinh lực cho phụ nữ.
Thơ thẩn xuống khu trại bò, hai chúng tôi ngồi trên rào chắn đếm bò lúc chúng vào chuồng. Chẳng cần viện đến câu từ, tôi lưu ý Ingrid: “Chị hãy tính cả đàn bò này vào,” và chị, không thốt lời nào, đáp rằng: “Đúng, cả bò nữa,” rồi ghi vào hồ sơ của mình. Chúng tôi vòng qua tàu ngựa, cho chúng ăn đường, và khi lũ ngựa ăn xong, tôi xòe lòng tay nhớp nháp, dính đầy nước bọt cho Ingrid xem mà kêu lên rằng: “Lũ ngựa này nữa.” Chị nặng nhọc thở ra: “Đúng, cả ngựa nữa,” và ghi vào hồ sơ. Giữa mảnh vườn ven sông của tôi, Ingrid không sao chấp nhận nổi thực tế là tôi sẽ phải bỏ lại những giống cây từng cất công đưa từ châu Âu qua; hai bàn tay chị xoắn vào nhau bên trên mấy bụi bạc hà, ngải đắng, oải hương và sau đó nói tới nói lui chuyện cây cỏ, như thể đang cân nhắc một kế hoạch giúp tôi có thể thu xếp mang chúng theo.
Chúng tôi dành buổi chiều ngắm đàn bò châu Phi lèo tèo vài con của tôi, đang gặm cỏ trên trảng trống. Tôi liệt kê tuổi, đặc tính, sản lượng sữa của chúng còn Ingrid xuýt xoa rền rĩ sau từng số liệu tựa như bị đánh vậy. Chị tỉ mỉ xem xét từng con, không phải bằng con mắt mua bán, bởi tôi đã đem cả bầy chia cho gia nhân, mà để định giá và cân đong mất mát của tôi. Chị xoắn lấy mấy chú bê mượt mà, thơm tho - bản thân Ingrid, sau nỗ lực trường kì, cũng đưa được về nông trại mình mấy con bò, con bê - và bất chấp mọi lí do cũng như trái với ý muốn bản thân, chị vài lần kín đáo liếc tôi đầy trách cứ bởi nỗi đã bỏ lại lũ bê.
Tôi tin, một người đàn ông đang bước cạnh một anh bạn có cõi lòng nát tan vì vừa mất hết tất cả, nếu mang trong đầu câu: “Ơn Chúa may không phải ta,” hẳn sẽ thấy mình thật tồi và gắng rũ bỏ suy nghĩ kia. Nhưng nếu đó là hai người bạn gái, sự thể quyết sẽ khác và người đang bộc lộ niềm xót xa trước nỗi đau của bạn cũng sẽ không mang suy nghĩ áy náy như vậy. Lúc ấy đương nhiên người tốt số hơn sẽ liên tục nhủ thầm cũng một câu: “Ơn Chúa, không phải mình.” Điều này chẳng hề gây ra mối bất hòa giữa hai người, ngược lại nó mang họ tới gần nhau hơn, đem lại một sắc thái thân tình hơn. Cánh mày râu, tôi nghĩ, chẳng thể đố kị hay hãnh diện vì hơn người khác theo cách nhẹ nhàng, hữu hảo đến thế. Nhưng dĩ nhiên cô dâu vẫn cứ đắc ý trước các phù dâu, hay sản phụ chờ sinh luôn ghen tỵ với bà mẹ đã có con và họ chẳng hề thấy khó xử vì vậy. Bà mẹ vừa mất đứa con có thể đưa cho bạn mình xem áo xống đứa trẻ dẫu biết bạn đang thầm nhủ: “Ơn Chúa, không phải mình,” - và với cả đôi bên đây là việc tự nhiên, hợp nhẽ. Ingrid cùng tôi cũng vậy. Khi sóng bước khắp đồn điền, tôi biết Ingrid đang nghĩ tới nông trại của chị, mừng rỡ bởi hạnh vận đang đồng hành cùng mình, và tận lực níu giữ suy nghĩ này, thế nhưng sự thể chẳng hề khiến hai đứa tôi khó xử. Bỏ qua mấy tấm áo manh quần vải kaki sờn cũ bận trên người, thực tế chúng tôi là đôi bạn gái thần thoại, người trắng kẻ đen, một chỉnh thể đồng nhất, cặp genie * của cuộc đời làm nông xứ châu Phi.
Mấy hôm sau Ingrid từ biệt tôi đáp tàu hỏa về Njoro.
Chẳng còn ngựa để ra ngoài rong ruổi, các chuyến đi dạo không mang theo chó của tôi giờ trở nên cực kì im ắng và đủng đỉnh, nhưng dẫu sao tôi vẫn mừng là còn chiếc ô tô bởi có nhiều việc đòi hỏi phải chạy đi chạy lại trong những tháng ấy.
Thứ hồn phách siêu nhiên trong văn học dân gian các dân tộc vùng Vịnh.
Số phận các lưu dân khiến lòng tôi nặng nề như đeo đá. Bên mua dự định nhổ sạch cà phê rồi phân lô bán đất xây nhà, nên chẳng màng gì tới lưu dân, và ngay khi hoàn thành thương vụ, họ đã thông báo tất cả mọi người sẽ phải rời khỏi đồn điền trong vòng sáu tháng. Quyết định này quá đột ngột cho lưu dân, làm nảy sinh hoang mang bởi họ vẫn sống trong ảo tưởng mảnh đất là của mình. Nhiều lưu dân sinh ra tại đồn điền, còn lại đều tới đây cùng cha ông từ khi còn nhỏ.
Để được ở trên đất này, lưu dân biết họ phải làm công cho tôi mỗi năm một trăm tám mươi ngày với mức thù lao ba mươi ngày nhận mười hai shilling , các sổ sách, chi phiếu vẫn được lưu giữ tại văn phòng đồn điền. Họ cũng biết trách nhiệm trả khoản thuế lều cho chính quyền, mười hai shilling mỗi lều, một gánh nặng oằn vai cho những người chẳng có gì trên trần gian ngoại trừ hai, ba mái lều cỏ - tùy vào số vợ, vì người chồng Kikuyu phải lo cho mỗi vợ một túp lều riêng. Lưu dân đồn điền, lâu lâu lại bị đe sẽ trục xuất khi phạm lỗi nên phần nào hẳn cảm thấy vị thế của họ chẳng phải hoàn toàn bất khả xâm phạm. Lưu dân thậm ghét khoản thuế lều thành thử khi thay mặt chính quyền đi thu tôi luôn gặp nhiều khó khăn và phải nghe không ngớt lời kêu ca. Nhưng họ vẫn luôn xem các chuyện này như những nỗi thăng trầm thường gặp trong cuộc sống, và chẳng bao giờ từ bỏ hi vọng sẽ bằng cách này hay cách khác tránh né được. Người bản xứ đã không hề mường tượng đến sự tồn tại một luật lệ cơ bản có tính phổ quát, tới thời khắc thích hợp sẽ hiện ra theo cách thức chết chóc, nghiền nát với họ. Bởi vậy, trong một thời gian, lưu dân coi các quyết định từ chủ đất mới là một thứ ngáo ộp họ có thể gan dạ phớt lờ.
Dẫu không phải tất cả, nhưng trên một số phương diện, người bản xứ dành cho dân da trắng một vị thế giống như vị thế dân da trắng vẫn dành cho Chúa trời của mình. Lần nọ, ở bản hợp đồng tôi kí với nhà buôn gỗ người Ấn có khái niệm: một hành vi của Chúa. Tôi không quen cách diễn đạt này nên vị luật sư thảo bản hợp đồng đã gia công giảng giải cho tôi thế này.
“Không, không phải vậy” ông ta bảo, “Quý bà vẫn chưa hoàn toàn nắm được nghĩa của thuật ngữ này. Hành vi của Chúa là thứ không đoán định được, cũng chẳng hề tuân theo quy tắc hay phép suy luận nào.”
Cuối cùng, tính hiển nhiên chẳng thể hồ nghi của lệnh trục xuất đã đưa các toán lưu dân ủ rũ tới nhà tôi. Họ nhận thức cái án này như hệ quả của việc tôi rời khỏi đồn điền - vận xui của tôi đang loang ra, phủ bóng đen lên cả họ. Không hề trách cứ tôi chuyện ấy, bởi đây là đề tài đã được hai bên bàn thảo từ trước, họ chỉ hỏi giờ phải đi đâu.
Vì nhiều lí do tôi khó có thể giải đáp chất vấn này. Theo luật, dân bản xứ không được tự mua đất, và như tôi được biết cũng chẳng đồn điền nào đủ lớn để thu dung họ. Tôi nói đã hỏi thăm vấn đề này và được thông báo là họ cần vào trong Khu bảo tồn Kikuyu tìm đất. Các lưu dân trịnh trọng hỏi liệu có chắc sẽ tìm được đủ đất hoang trong Khu bảo tồn cho cả bầy gia súc đem theo không? Tiếp nữa họ lại hỏi liệu có chắc sẽ tìm được một vùng đủ cho cả đoàn, bởi người đồn điền muốn được ở cùng nhau, chứ không thích bị chia tách.
Tôi ngạc nhiên thấy lưu dân nằng nặc đòi được sống bên nhau vì trước giờ họ chẳng thể chung sống hòa bình và luôn nói về nhau bằng những lời lẽ không mấy tốt đẹp. Ấy vậy mà hiện chủ nhân các đàn gia súc lớn, nhóm chuyên ăn to nói lớn, đi đứng nghênh ngang như Kathegu, Kaninu, Mauge, giờ lại tay trong tay, thật sự như vậy, kéo đến đây cùng đám bần nông nghèo mạt rệp, chuyên đời khúm núm rụt rè như Wawern hay Chotha và tất cả đồng lòng nhất trí bám rịt lấy nhau hệt như bám chặt mấy con bò của mình. Tôi cảm giác họ không chỉ đang đòi chỗ cư ngụ mà còn đòi quyền được sống.
Lúc bị chúng ta tước đoạt đất, thứ người bản xứ mất mát thực ra còn hơn cả đất. Đó còn là quá khứ họ, cội rễ họ, nhân thân họ. Nếu ta lấy đi thứ họ đã quen được nhìn, và mong được thấy, có thể nói ta cũng cướp đi luôn cặp mắt họ. Không tương thích lắm với con người văn minh nhưng nguyên lí này lại rất đúng cho người sơ khai hay thú vật, và các đối tượng này sẽ vượt những chặng đường dài, chẳng quản mọi hiểm nguy gian khó, để tìm lại mình trong môi trường sống quen thuộc thuở nào.
Dân Masai, dạo bị lùa từ miền đất cũ nằm trên mạn Bắc tuyến đường xe lửa tới Khu bảo tồn Masai ngày nay, đã mang theo tên núi, tên sông, tên thảo nguyên chốn cũ đem đặt cho núi sông thảo nguyên ở xứ sở mới. Điều này khiến lữ khách rối trí. Đem theo cội rễ bị cắt rời như phương thuốc chữa trị, trong hoàn cảnh bị đày ải, người Masai gắng lưu giữ quá khứ bằng công thức.
Lúc này, cũng từ chính thứ bản năng tự vệ ấy, các lưu dân của tôi đang bám chặt lấy nhau. Nếu phải rời bỏ vùng đất của mình, bên cạnh họ quyết phải có những người biết về nó - các chứng nhân cho thân phận họ, để rồi họ còn có thể, trong nhiều năm, kể mãi về địa lí và lịch sử của đồn điền và thứ gì người này quên sẽ được người khác nhớ. Hiện tại họ đã cảm nhận được gánh nặng của diệt vong đè trên đầu.
“Đi đi Msabu.” họ bảo tôi, “hãy vì chúng tôi tới chính quyền* xin phép cho chúng tôi mang theo tất tật gia súc tới nơi ở mới, và xin phép để tất tật chúng tôi được sống cùng nhau tại đó.”
Mấy lời thỉnh cầu này khởi đầu một chặng hành hương dằng dặc hay cũng có thể nói là một chuyến đi cầu cạnh xin xỏ chiếm trọn mấy tháng cuối ở châu Phi của tôi.
Tiếng Swaheli trong nguyên bản: serikali .
Hòng thực hiện sứ mệnh người Kikuyu giao phó, ban đầu tôi tìm tới Hạt Trưởng Nairobi và Kiambu, rồi đến Sở nội vụ và Sở địa chính, và sau cùng gõ cửa cả Ngài Toàn Quyền Joseph Byrne, người cho tới lúc đó tôi vẫn chưa từng diện kiến bởi ông vừa từ Anh quốc qua. Lúc cuối tôi thậm chí quên cả mục đích ban đầu. Con nước thủy triều hết xô tấm thân vô lực của tôi vào bờ rồi lại cuốn tít ra khơi. Nhiều đận tôi phải chầu chực ở Nairobi suốt ngày, hoặc chạy tới lui trong ngày hai ba bận. Mỗi khi trở về, tôi luôn bắt gặp vài lưu dân đóng đô cạnh nhà mình; chẳng bao giờ hỏi han tin tức, họ chỉ dõi theo từ xa để truyền cho tôi, thông qua ma thuật bản địa, sự dẻo dai không biết mệt trên suốt cuộc hành trình.
Các viên chức chính phủ rất mực kiên nhẫn, nhiệt tình giúp đỡ. Mọi trở ngại trong vấn đề này chẳng phải họ dựng lên: Quả tình rất khó tìm ra một vùng đất đủ lớn, chưa ai sinh sống, trong Khu bảo tồn Kikuyu, cho tất cả người lẫn gia súc.
Hầu hết viên chức đều sống tại xứ thuộc địa này đã lâu nên thấu hiểu dân địa phương. Họ chỉ bóng gió gợi ý nên khuyên dân Kikuyu bán bớt gia súc bởi họ hiểu nếu để tùy thích người Kikuyu sẽ chẳng đời nào làm vậy và việc đưa cả bầy gia súc lớn tới một vùng đất chật chội luôn làm nảy sinh, trong những năm kế tiếp, nhiều xung đột liên miên với các bộ tộc láng giếng trong Khu bảo tồn, khiến Hạt Trưởng sở tại phải vào tháo gỡ.
Nhưng khi nghe chúng tôi trình bày đến yêu sách thứ hai của lưu dân muốn được ở cùng nhau, giới chức có thẩm quyền lại bảo điều ấy không thực sự cần thiết, “Ôi chao, đừng bàn chuyện cần với chả cần,” tôi nghĩ bụng, “kẻ hành khất khốn cùng cũng có nhu cầu mọn của mình chứ*, và một số câu khác đại ý thế. Suốt đời tôi luôn tin ta có thể phân loại con người khi tưởng tượng cách họ sẽ cư xử với vua Lia ra sao. Bạn đừng hòng nói lí với vua Lia, cũng hệt như với một ông già Kikuyu, và cứ đụng chuyện là ông ta luôn đòi hỏi rất nhiều nhưng ông ấy là vua cơ mà. Sự thực chẳng phải người châu Phi chuyển giao đất nước cho dân da trắng trong một hành động cao cả gì mà là người da trắng đã chiếm đất nước này rồi gọi là bảo hộ, vậy nên tình huống này ít nhiều khác biệt câu chuyện giữa vị vua già cùng mấy cô con gái kia. Nhưng tôi xin nhắc chỉ mới đây thôi, thời kì mọi người giờ vẫn còn nhớ, dân bản xứ từng toàn quyền với đất đai của mình và chẳng hề nghe nói tới người da trắng cùng luật lệ của họ. Trong cuộc mưu sinh đầy bất an dạo ấy, chân lí đất là của họ vẫn tồn tại bất di bất dịch. Một phần dân bản địa bị lái buôn nô lệ lôi đi, bán tại các chợ nô lệ, nhưng số còn lại vẫn bám trụ. Những người bị đưa đi, trong kiếp tôi mọi tha hương khắp các xứ sở Đông phương, vẫn luôn đau đáu nhớ về vùng cao nguyên này, bởi chính đây là đất đai của họ. Người già châu Phi da đen mắt sáng cũng hệt voi già châu Phi mắt sáng da đen; bạn thấy cả hai đứng trên mặt đất, trĩu nặng những vết hằn từ thế giới bên ngoài, và trong trí não mơ hồ cũng chất chồng ấn tượng hằn sâu ấy; cả hai chính là đặc trưng của miền đất này. Hai giống loài này hẳn đều thẫn thờ, ngơ ngác trước quang cảnh bãi bể nương dâu khắp xung quanh, và có lẽ sẽ hỏi bạn họ đang ở đâu, và bạn sẽ phải dùng lời Kent mà đáp: “Ở ngay trên nước của Người, thưa chủ nhân*.”
Trích bi kịch Vua Lia (Hồi 2, Lớp IV), tác giả William Shakespeare.
Trích vở Vua Lia (Hồi 4, Lớp VII), bản dịch của Thế Lữ.
Mãi sau cùng, khi bắt đầu có cảm giác sẽ phải tới lui Nairobi để bàn cãi bất tận cùng cánh viên chức chính phủ đến hết đời, đột nhiên tôi nhận tin báo thỉnh cầu của mình được chấp thuận. Chính phủ đồng ý cấp một rẻo đất của Khu bảo tồn rừng Dagoretti cho lưu dân đồn điền. Tại đó họ có thể thiết lập một khu định cư, chẳng mấy xa chốn cũ, và vẫn có thể gìn giữ thể diện cùng tên tuổi cộng đồng sau khi đồn điền biến mất.
Người đồn điền tiếp nhận phán quyết với một xúc cảm sâu xa, kín đáo. Dựa vào vẻ mặt người Kikuyu, ta vô phương phán đoán liệu họ từng luôn tin tưởng sẽ nhận được quyết định tốt lành này hay đã hoàn toàn mất hết hi vọng. Ngay khi sự việc ngã ngũ, họ lập tức đề xuất các kiến nghị và kế hoạch rắc rối trong nhiều khía cạnh mà tôi thoái thác lắng nghe. Vẫn túc trực cạnh nhà nhưng nay dân bản xứ dành cho tôi những ánh nhìn khác lạ. Mang trong lòng niềm xác tín vào vận mệnh, sau lần thành công, họ có thể bắt đầu tin tưởng vạn sự đang tới hồi thái lai, và tôi sẽ vẫn tiếp tục sống tại đồn điền.
Dàn xếp ổn thỏa số phận lưu dân khiến tôi thấy nhẹ cả lòng, cảm giác mãn nguyện đến vậy thật hiếm khi đạt được.
Đôi ba ngày sau, trong óc tôi chợt nảy ra ý nghĩ rằng việc của mình ở đất nước này xong cả rồi và hiện là lúc có thể lên đường. Công đoạn thu hoạch cà phê đã hoàn tất, xưởng máy nằm im lìm, căn nhà rỗng tuếch, lưu dân cũng đã có vùng đất của họ. Những cơn mưa đã tạnh, cỏ giờ vươn cao khắp miền thảo nguyên cũng như trên rặng núi.
Kế hoạch tôi vạch ra lúc đầu: bỏ hết mọi thứ vụn vặt để gìn giữ những gì quan trọng sống còn với mình hóa ra đã thất bại. Từng chút từng chút chấp nhận giao ra mọi thứ đang có, như thể nhằm cứu chuộc đời mình, để rồi đến lúc trắng tay, chính tôi trở nên nhẹ bẫng, trở thành đối tượng để số phận dễ dàng quét phăng.
Dạo ấy đương dịp trăng tròn, ánh trăng vằng vặc rọi vào căn phòng trống và in bóng khung cửa sổ lên mặt sàn. Tôi nghĩ vầng trăng có khi đang ngó xuống tự hỏi tôi định nán lại bao lâu ở chốn hết thảy đều đã rời đi. “Ô không sao,” trăng nói, “chút thời gian chẳng nghĩa lí gì với ta.”
Tôi ước gì ở lại được để tận mắt thấy lưu dân ổn định tại nơi ở mới. Nhưng khảo sát vùng đất mới sẽ tốn vô khối thời gian và cũng chưa chắc khi nào họ có thể chuyển về đó.