Châu Phi Nghìn Trùng

Lượt đọc: 1551 | 2 Đánh giá: 9/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 5
giã biệt

Cùng thời điểm này các vị cao niên trong vùng quyết định tổ chức một Ngoma bô lão cho tôi.

Thời xưa Ngoma của bô lão là những ngày lễ trọng đại, nhưng nay họa hoằn lắm họ mới nhảy múa, và trong suốt thời gian sống tại châu Phi tôi chưa từng được xem lễ hội dạng này lần nào. Tôi mong được tận mắt chứng kiến một lần bởi Ngoma này vốn được người Kikuyu hết lời ngợi ca. Được đăng cai Ngoma bô lão là niềm vinh dự lớn cho đồn điền và cư dân ở đây xôn xao bàn tán về ngày hội từ lâu trước khi nó thực sự diễn ra.

Chính Farah, vốn vẫn coi thường các Ngoma của dân bản địa, lần này cũng phải giật mình trước quyết định của các vị cao niên. “Đám ấy họ đều trọng tuổi cả, Memsahib ạ,” anh bảo, “rất già lão rồi.”

Những chú sư tử trẻ trung người Kikuyu nói với niềm tôn kính và thái độ khiếp sợ trước cuộc biểu diễn sắp tới của các vũ công già nua, điều mà chẳng mấy khi ta thấy ở họ.

Có một sự thể tôi không hề biết - Ngoma bị chính quyến cấm. Tôi cũng không rõ lí do của lệnh cấm. Người Kikuyu hẳn đã biết chuyện này nhưng bỏ qua, có thể họ suy diễn trong giai đoạn nhiễu nhương này có thể làm những điều bình thường không được phép, hoặc do ngập chìm trong tâm trạng phấn khích cao độ về ngày Ngoma nên họ thực sự đã quên khuấy. Chẳng buồn để tâm tới lệnh cấm, họ thậm chí còn không thèm giữ mồm giữ miệng về buổi lễ hội.

Cảnh tượng các bô lão vũ công đổ về đồn điền thật hùng tráng, vô song. Có chừng trăm vị, tới đồng thời, chắc họ đã tề tựu bên ngoài rồi mới nhất loạt tiến vào đồn điền. Các ông lão bản xứ là những con người lạnh lùng, thường khoác mền hay quấn lông thú, nhưng tại đây họ để mình trần, như thể đang nghiêm nghị tuyên cáo một sự thật đáng sợ. Phục trang và lớp phẩm màu chiến tranh ở họ rất chừng mực, dẫu vài người đội trên đầu thứ trang sức to kết bằng lông đại bàng đen mà các vũ công trẻ vẫn thường mang. Chẳng cần trang điểm, chỉ nội con người họ đã cực kì ấn tượng. Không như các nhan sắc già nua trên sàn khiêu vũ châu Âu luôn cố công để có một vẻ ngoài tươi trẻ, ở đây toàn bộ giá trị và ý nghĩa cuộc nhảy múa, với họ và cả với khán giả, nằm ở cái già nua ở các vũ công. Trên người họ vẽ các sọc phấn kì dị mà tôi chưa từng thấy thứ gì tương tự, chạy dọc theo cẳng tay cẳng chân cong queo, như thể chúng, bằng nét vẽ chân thật trần trụi, nhằm làm nổi rõ những nhánh xương cứng quèo, giòn dễ gẫy, dưới làn da. Trong đám rước khai mạc đang chậm rãi tiến vào, lối các vũ công di chuyển lạ lùng tới độ tôi tự hỏi điệu vũ gì mình đang được xem đây.

Trong lúc đứng chiêm ngưỡng cảnh tượng, một ảo giác từng chiếm lĩnh hồn tôi dạo trước giờ lại trở về: Tôi chẳng phải người sửa soạn rời đi, tôi nào sở hữu năng lực để rời bỏ châu Phi, mà chính miền đất này đang từ từ, nghiệt ngã rút dần khỏi tôi, giống như đại dương khi triều xuống. Đoàn diễu hành đang ngang qua - thực tế là các vũ công sung sức, mềm mại của ngày hôm qua, hôm kia, lớp người đang tàn úa, đang lướt ngang, khuất xa mãi mãi trước mắt tôi.

Tất cả họ kia, vẫn di chuyển nhẹ nhàng, theo một lối riêng, trong một điệu nhảy, những con người từng sát cánh cùng tôi, và tôi sát cánh cùng họ, trong niềm mãn nguyện.

Các ông lão chẳng hề hé môi, thậm chí với nhau, họ đang dồn sức cho những nỗ lực phía trước.

Đúng lúc các vũ công vừa đứng vào hàng lối chuẩn bị cho điệu nhảy thì một anh lính bản xứ từ Nairobi tới trao cho tôi một bức thư thông báo lễ Ngoma này không được phép diễn ra.

Chưa hề nghĩ tới sự tình lại xoay chuyển sang như vậy nên lúc đầu tôi không hiểu ra sao và phải đọc đi đọc lại lá thư đôi ba phen. Quá ấn tượng trước tầm mức trọng đại của lễ hội mình đang ngáng trở, bản thân anh lính đưa thư cũng không dám hò hé trước các bô lão hay gia nhân của tôi hoặc tỏ vẻ khệnh khạng, vênh vác theo kiểu đám lính bản xứ vốn khoái phô trương quyền thế với thường dân bản địa vẫn hay làm.

Trong suốt phần đời ở châu Phi của mình, tôi chưa từng nếm trải thời khắc nào chua cay đến thế. Trước cảnh trái ngang xảy đến với mình, bão lòng tôi cũng chưa bao giờ sục sôi đến thế. Tôi thậm chí không có ý định thốt ra lời nào: lúc này sự vô nghĩa, cái hư ảo của ngôn từ mới rõ ràng, hiển nhiên làm sao.

Các vị bô lão Kikuyu đứng đó như bầy cừu già, những ánh mắt từ dưới các cặp mí nhăn nheo đóng đinh lên mặt tôi. Họ chẳng thể, liền tức thời, từ bỏ mục tiêu mọi trái tim đã đặt cả vào, vài đôi chân còn mơ hồ nhún nhún; họ tới để nhảy và cần phải được nhảy. Sau cùng tôi đành thông báo buổi Ngoma của chúng ta phải hủy bỏ tại đây.

Tôi biết trong đầu họ mẩu tin này sẽ chứa một thông điệp khác, nhưng không hiểu họ sẽ cắt nghĩa thành ra sao. Có lẽ họ lập tức nhận thấy Ngoma đã dừng hẳn bởi người xem là tôi chẳng còn tồn tại. Cũng có thể họ nghĩ, trên thực tế có một lễ hội khác, một Ngoma vĩ đại vô song mà hào quang của nó khả dĩ xóa sổ mọi thứ, đã được tổ chức và giờ đây khi nó kết thúc mọi thứ cũng tan theo.

Một chú chó bản địa trên trảng cỏ trước nhà, tận dụng không khí tĩnh lặng nhất thời sủa lên ông ổng, và thanh âm cứ vang mãi trong đầu tôi:

“… Bao nhiêu chó nhỏ đều xúm nhau vào!

Con Khôn, con Trắng, con Ngoan, kìa, nó đang sủa ta đấy*.”

Được giao đảm đương việc phát thuốc lá cho các bô lão sau lễ hội, Kamante, với tài xoay xở trong mọi tình huống khó khăn, cho đây là thời điểm thích hợp bèn lẳng lặng bưng ra một quả bầu lớn chứa đầy thuốc lá hít. Farah vẫy cậu trở lại nhưng là người Kikuyu, Kamante hiểu rõ các bô lão nên cậu vẫn bước dấn lên. Thuốc lá là thứ có thật. Chúng tôi bắt đầu chia thuốc cho mọi vị bô lão. Lát sau tất cả bô lão lũ lượt rời đi.

Tôi nghĩ các bà các mẹ trong đồn điền là những người đau lòng hơn cả trước việc tôi ra đi. Trải qua đời cơ cực, các bà già Kikuyu trở nên dữ dội khó nhằn tựa đá, giống lũ la già sẽ cắn ta nếu có cơ hội. Bệnh tật khó giết họ hơn giết cánh đàn ông - như những gì tôi ghi nhận trong vai trò bác sĩ tại đồn điền, và họ cũng hoang dã hơn, thậm chí tình trạng không còn có thể thán phục thứ gì ở họ cũng triệt để hơn. Họ sinh cả lô cả lốc và cũng từng chứng kiến nhiều đứa con lìa đời; họ chẳng còn sợ hãi thứ gì. Loạng choạng dưới bó củi đốt nặng tới tạ ba được giữ thăng bằng chỉ nhờ một sợi dây cương vắt ngang trán cũng không khiến họ khuất phục; họ nai lưng mài mặt trên shamba rắn đanh của mình từ sớm tinh mơ tới tối mịt. “Từ trên cao đó nó rình mồi, mắt nó quan sát nhìn thật xa. Tim nó chắc như cối đá, rắn tựa thớt dưới của cối xay. Nó khinh chê cái sợ. Khi đập cánh bay lên, nó nhạo báng ngựa và kị sĩ. Nó há sẽ cầu ơn huệ của ngươi? Và há sẽ nói với ngươi những lời êm ái?*” Thế mà con người họ vẫn chất chứa cả nguồn năng lượng và ngời lên sinh khí. Các bà lão luôn quan tâm háo hức trước mọi điều xảy ra ở đồn điền, và sẽ lặn lội cả mươi dặm đường để xem một Ngoma của lũ thanh niên; một câu bông đùa, hay một li tembu, sẽ khiến gương mặt nhăn nheo móm mém tan chảy trong nụ cười rạng rỡ. Thứ sức mạnh ấy, và tình yêu cuộc sống nơi họ, với tôi dường như không chỉ rất đáng ngưỡng mộ, mà còn mang vẻ quyến rũ khô cằn đầy mê hoặc.

Trích vở Vua Lia (Hồi 3, Lớp VI), bản dịch của Thế Lữ.

Các bà già ở đồn điền và tôi luôn là bạn. Chính họ gọi tôi bằng cái tên Jerie; cánh đàn ông hay con trẻ - trừ các bé còn lẫm chẫm - không bao giờ dùng cái tên này. Jerie là tên dành cho phụ nữ Kikuyu, nhưng mang chút ý nghĩa đặc thù - một cô gái được sinh ra trong gia đình Kikuyu lúc anh chị cô đều đã khôn lớn cả, sẽ được đặt tên này, và tôi đồ rằng cái tên Jerie hàm chứa cả tình yêu thương.

Giờ đây những người bà, người mẹ ở đồn điền đang tiếc nuối việc tôi sẽ phải chia tay họ. Tôi còn lưu giữ trong lòng hình ảnh một phụ nữ Kikuyu vô danh ở những ngày cuối cùng ấy, bởi tôi không biết cô, có lẽ cô sống ở khu trại của Kathegu, là vợ hay góa phụ của một trong số đông các con trai ông ta. Trên lối mòn thảo nguyên cô tiến về phía tôi, lưng mang một bó đòn người Kikuyu vẫn dùng cất mái lều - với họ đây là công việc của phụ nữ. Những cây đòn dài chừng bốn thước rưỡi được bó lại ở hai đầu, và khối nặng nghễu nghện hình trụ ở giữa phình ra khiến người mang nó có hình hài một con thú thời tiền sử, hay một con hươu cao cổ. Mớ đòn cô mang đều đen xì và cháy xém, bám đầy muội khói lều qua bao năm; điều đó có nghĩa cô đã dỡ nhà mình và đang chuyển vật liệu xây dựng tới một nền đất mới. Lúc giáp mặt tôi cô đứng chắn ngang đường, thân bất động, chú mục vào tôi y như cung cách của một con hươu cao cổ trong bầy ta vẫn gặp ngoài thảo nguyên mà cuộc sống, cảm xúc, nghĩ suy đều vô phương thông tỏ với chúng ta. Được một thoáng cô chợt bật khóc, nước mắt chảy ròng ròng trên mặt, giống một con bò tiểu ngay trước bạn, giữa thảo nguyên. Cả hai chúng tôi đều chẳng thốt nửa lời, và vài phút sau cô nhường đường rồi chúng tôi tách ra, bước về hai hướng ngược nhau. Tôi đồ rằng sau cùng cô đã gom góp được chút vật tư cho chỗ cư trú mới, và tôi mường tượng đến cảnh cô xắn tay vào việc, cột những cây đòn kia lại với nhau và dựng cho mình một cái mái che mưa che nắng.

Kinh Cựu Ước, sách Job 39-29,41-24, 39-22 (ESV), 39-18,41-3.

Bầy trẻ mục đồng, vốn chưa một lần thấy căn nhà vắng bóng tôi, trái lại, rất háo hức, chờ mong sự kiện tôi sắp ra đi. Với chúng có lẽ thật khó khăn, và bạo gan để mường tượng một thế giới không tôi, ngang ngửa chuyện Chúa trời thoái vị vậy. Chúng nhô lên khỏi lớp cỏ mọc cao, lúc tôi đi ngang, đoạn hét váng lên: “Bao giờ Msabu đi? Còn mấy ngày nữa Msabu đi thế?”

Cuối cùng, khi ngày tôi ra đi đã tới, tôi học được bài học kì lạ rằng mọi sự hoàn toàn có thể xảy ra theo cách ta không sao mường tượng nổi vào trước đó, ngay lúc đó hay thậm chí sau này nhìn lại. Hoàn cảnh có thể chất chứa xung lực vận động để đưa đến các sự kiện vượt khỏi óc tưởng tượng hay khả năng nắm bắt của con người. Khi ấy bản thân bạn giữ liên hệ với sự việc đang diễn ra theo cách chăm chăm bám sát nó, giống người mù đang được dắt đi, bước từng bước thận trọng nhưng dò dẫm, không biết đích đến. Các sự tình xảy đến với bạn và bạn cảm nhận chúng đang diễn ra, nhưng ngoại trừ thực tế này, bạn chẳng hề có mối liên hệ nào với chúng, và cũng không có đáp án cho ngọn nguồn hay ý nghĩa của chúng. Bầy thú thực hiện màn biểu diễn xiếc, tôi tin, cũng trong tình cảnh tương tự. Những ai từng trải qua các sự kiện như vậy, ít nhiều, có thể nói đã trở về từ cõi chết - một chuyến đi ngoài tầm tưởng tượng, nhưng trong phạm vi trải nghiệm của con người.

Từ Nairobi, sớm tinh mơ Gustav Mohr lái xe tới đưa tôi ra ga tàu. Đó là một sớm mai mát mẻ nhưng không gian cùng cảnh vật đều ảm đạm. Thần sắc Gustav Mohr nom cũng nhợt nhạt, mí mắt giật giật, và tôi nhớ tới lời vị thuyền trưởng già trên con tàu đánh cá voi ở Durban* có lần từng giảng giải cho tôi về tính cách dân Na Uy chẳng hề nao núng trước cơn bão nào nhưng hệ thần kinh lại không chịu nổi những ngày trời yên biển lặng. Hai chúng tôi cùng ngồi uống trà bên chiếc bàn đá cối xay, như bao lần trước đây. Từ đó, về hướng Tây, trước mặt chúng tôi là rặng Hill, với chút sương xám lãng đãng trong các hẻm núi, đang uy nghiêm trải qua một thời khắc nữa trong cuộc đời muôn triệu năm của mình. Tôi thấy lạnh tê tái như thể đang có mặt trên ấy.

Mấy cậu gia nhân của tôi vẫn ở trong căn nhà trống, nhưng có thể nói cuộc sống họ đã dời đến chỗ khác, gia đình và đồ đạc của họ cũng đều chuyển đi cả rồi. Nhóm phụ nữ của Farah và Saufe đã tới khu dân cư Somali ở Nairobi bằng chuyến xe tải ngày hôm qua. Đồng hành với tôi đến tận Mombasa sẽ là Farah và Tumbo, con trai của Juma, bởi đây là điều chú bé mong muốn nhất trên đời, và khi được quyền chọn quà chia tay là một con bò hay chuyến đi thì chú liền lựa chọn chuyến đi.

Sau khi từ giã từng gia nhân, lúc tôi cất bước ra khỏi nhà, họ, những người vốn được chỉ dạy tường tận phải luôn đóng chặt cửa nẻo, đã để mọi cánh cửa mở toang sau lưng tôi. Đây là hành động đặc trưng của người bản xứ, như thể muốn nói tôi sẽ trở lại, hoặc có lẽ muốn nhấn mạnh sự thực nhà đã trống trơn chẳng còn gì mà phải đóng im ỉm, các cánh cửa giờ hãy mở toang ra đón gió. Farah lái xe chở tôi chầm chậm, áng chừng tương đương nhịp bước lạc đà, theo con đường uốn lượn, cho tới lúc ngôi nhà khuất khỏi tầm mắt.

Thành phố lớn thứ ba ở Nam Phi.

Đi ngang đầm nước, tôi hỏi Mohr liệu còn thời gian để dừng chân chốc lát, rồi chúng tôi xuống xe, hút một điếu thuốc bên bờ đầm. Chúng tôi thấy mấy con cá bơi dưới nước, những người sẽ bắt và ăn cá ở đây chẳng hề biết tới Già Knudsen và giá trị của chúng. Tại đây chú nhỏ bị bệnh động kinh Sirunga, cháu ngoại Kaninu, xuất hiện để từ biệt tôi lần cuối, dẫu những ngày cuối cùng chú đã không ngừng quanh quẩn bên nhà tôi cũng chỉ để làm vậy. Khi chiếc xe chuyển bánh, Sirunga mắm môi mắm lợi chạy theo, tựa như bị cơn gió cuốn đi cùng đám bụi, và nom chú mới nhỏ bé làm sao, giống hệt đốm lửa nhỏ cuối cùng lóe lên từ lò sưởi của tôi. Sirunga chạy một mạch tới tận giao cắt đường vào đồn điền và đường cái quan. Tôi đang e chú chạy theo cả trên đường cái, vì nếu vậy có khác nào phải chứng kiến đồn điền bị xé lẻ và thổi bay tan tác như trấu. Nhưng rồi chú bé dừng chân nơi giao lộ - rốt cuộc Sirunga vẫn thuộc về đồn điền. Chú đứng đó ngong ngóng theo chúng tôi, tới tận lúc tôi chẳng còn thấy lối rẽ vào đồn điền nữa.

Trên đường xuôi về Nairobi, chúng tôi bắt gặp cơ man châu chấu đậu trên cỏ, trên mặt đường, vài con còn bay vù vù cả trong xe, xem ra lũ chúng lại sửa soạn quay về hoành hành ở vùng này một lần nữa.

Nhiều bạn bè đã tới sân ga tiễn chân tôi. Nặng nề và bình thản, Hugh Martin cũng có mặt, và lúc anh bước tới nói lời chia tay, tôi nhìn ra ngài Tiến sĩ Pangloss của đồn điền quả là hiện thân của cô độc, hình bóng của anh hùng, người đã mua niềm cô độc bằng hết thảy những gì mình có, và từ góc độ nào đó là một biểu tượng Phi châu. Chúng tôi bịn rịn chia tay: tình bạn đã mang lại cho cả hai nhiều kỉ niệm vui và những dịp luận bàn uyên thâm. Đức ông Delamere, hơi già đi, trắng ra chút đỉnh, và mái tóc đã cắt ngắn hơn dịp thưởng trà cùng tôi trong Khu bảo tồn Masai đận tôi xuống đó cùng đoàn xe bò tải hàng dạo chiến tranh vừa bùng nổ, nhưng như ngày ấy ông vẫn cực kì nhã nhặn và ân cần lịch thiệp. Gần như tất cả dân Somali cư trú ở Nairobi đều có mặt trên sân ga. Cụ lái buôn gia súc Abdallah tiến lên trao cho tôi chiếc nhẫn bạc nạm ngọc lam mang lại vận may. Bilea, gia nhân của Denys, trịnh trọng nhờ chuyển lời thăm hỏi tới anh trai của chủ nhân bên Anh quốc, người khi xưa từng cho anh trú tạm trong nhà mình. Lúc lên tàu, Farah kể là cánh phụ nữ Somali thực ra đã đến nhà ga trên các xe tay phu kéo, nhưng do thấy đàn ông Somali tụ họp đông quá nên e ngại và vừa quay về mất rồi.

An ổn vào đến toa, tôi đưa tay qua cửa sổ bắt tay Gustav Mohr. Lúc này, khi chỉ trong giây lát đoàn tàu sẽ khởi hành, thực ra bánh tàu đang bắt đầu lăn, Gustav mới lấy lại được bình tĩnh. Anh những mong san sẻ cho tôi chút dũng khí đến độ trở nên bối rối, khuôn mặt đỏ bừng, cặp mắt nhạt màu nhìn tôi đăm đăm.

Ở Samburu, trong lúc đầu máy được tiếp thêm nước, tôi xuống tàu cùng Farah dạo trên sân ga. Từ đây, xa trông về hướng Tây Nam, tôi vẫn thấy rặng Ngong. Dải sơn mạch trập trùng nét lượn sóng cao sang, thuần một sắc lơ đứng sừng sững giữa miền đất bằng phẳng xung quanh. Nhưng do khoảng cách quá xa nên bốn đỉnh núi giờ nom nhỏ nhoi, khó phân định, và khác hẳn hình thế vẫn thấy từ đồn điền. Cũng bởi nhìn từ xa, dáng núi dần trở nên mềm mại và thanh thoát hơn.

HẾT


Nguồn: TVE 4U
Được bạn:Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 12 tháng 11 năm 2025

« Lùi
Tiến »