Tối ngày mười chín tháng Chạp, trước khi ngủ tôi bước ra bên ngoài xem liệu trời có sắp mưa chăng. Tôi tin nhiều nông gia ở miệt cao nguyên này cũng làm vậy vào giờ đó. Đôi khi, ở một năm may mắn, chúng tôi sẽ nhận được vài trận mưa lớn dịp Giáng Sinh, và đó là điều tuyệt diệu cho lứa trái cà phê mới đậu sau đợt nở hoa trong những cơn mưa rào thoáng qua hồi tháng Mười. Tối ấy không có dấu hiệu nào của mưa. Trời quang, lặng thầm đắc thắng và rực rỡ với muôn sao.
Trời sao vùng xích đạo phong phú hơn của các nước phương Bắc và được ngắm nhìn thường xuyên hơn bởi vào những buổi tối chúng ta ở ngoài trời nhiều hơn. Tại Bắc Âu, đêm mùa đông quá rét cho thú ngắm sao, còn mùa hè lại khó lòng nhìn ra chúng trên khung trời đêm tím nhạt màu hoa violet.
Đêm miền nhiệt đới có không khí thân thiện của một giáo đường Công giáo La Mã so với các nhà thờ Tin lành phương Bắc chỉ cho bạn vào khi có lễ. Gian sảnh vô tận dưới mái vòm vĩ đại này là nơi vạn sự diễn ra, mọi người đến rồi đi. Với Ả Rập và châu Phi, nơi mặt trời ban trưa giết chết bạn, đêm là thời gian ta di chuyển và dành cho công việc. Ở đây các ngôi sao được đặt tên, chúng dẫn đường cho con người trong nhiều thế kỉ, đưa họ theo những vạch đường dài cắt qua sa mạc và đại dương, người này đi về phía Đông kẻ kia lại di chuyển hướng Tây, hoặc phía Bắc, phía Nam. Xe cộ vận hành trơn tru lúc đêm tối, và lái ôtô dưới trời sao thật lí thú làm sao; bạn dần dà có thói quen ấn định các chuyến ghé thăm bạn bè vào dịp trăng tròn kế tiếp. Bạn lên đường đi săn vào lúc trăng non, nhằm tận dụng được toàn bộ những đêm trăng tròn. Và rồi ta cảm thấy lạ lẫm lắm, khi có dịp về thăm châu Âu, thấy thân bằng cố hữu ở các thành thị chẳng hề sống theo chu kì chuyển động của trăng và gần như mù tịt về nó. Vầng trăng lưỡi liềm ló dạng chính là dấu hiệu cho chàng dẫn lạc đà chuyển hàng hóa của Khadija* khởi hành. Ngẩng mặt ngước nhìn trăng, chàng trai là một trong “những hiền triết lấy ánh trăng dệt nên cả hệ vũ trụ.” Hẳn phải thường say sưa nhìn ngắm trăng lắm mới khiến chàng đánh dấu địa điểm cần chiếm bằng hình mặt trăng.
Tôi nức tiếng trong cộng đồng bản xứ, do chỗ nhiều lần ngẫu nhiên bắt gặp trước nhất vầng trăng non như một cánh cung bạc mong manh giữa trời hoàng hôn; đặc biệt có hai hay ba năm liên tiếp, tôi là người đầu tiên nhìn thấy trăng lưỡi liềm trong tháng Ramadan, tháng thiêng của người Hồi giáo.
Vợ của Muhammad - Đấng Tiên Tri của đạo Hồi. Tương truyền bà là thương nhân giàu có nhất thành Mecca, sở hữu nhiều đoàn buôn lạc đà.
Người nông dân chậm rãi lia mắt theo đường chân trời. Trước tiên là đằng Đông, bởi từ đấy, nếu có, mưa sẽ tới, và kia là sao Giác tú thuộc chòm Trinh nữ. Rồi chuyển về hướng Nam, để chào đón chòm Thập tự phương Nam, lính gác cửa của thế giới rộng lớn, người bạn thủy chung và được yêu mến của lữ khách, còn cao hơn bên trên, ngay dưới vệt sáng dải Ngân Hà là hai ngôi Alpha và Beta thuộc chòm Bán nhân mã. Ở mạn Tây Nam, lồ lộ trên nền trời là ngôi Thiên lang nhấp nháy cạnh sao Canopus trầm tư, còn ở phía Tây, nằm bên trên đường viền mờ của rặng Ngong giờ như đã liền thành một dải, lấp lánh mấy viên kim cương sáng chói của chòm Thợ săn-Rigel, Betelgeuze và Bellatrix. Chàng ngoảnh về phương Bắc sau cùng, bởi rốt cục chúng ta sẽ theo hướng ấy về nhà, để ngắm chòm Đại hùng điềm nhiên trồng cây chuối*, và trò đùa nghịch kia của chú gấu khiến trái tim Bắc Âu xa xứ vui vui.
Người nằm mơ trong giấc ngủ đêm biết một thứ hạnh phúc đặc biệt mà thế giới ban ngày chẳng có, một trạng thái ngất ngây dễ chịu tận đáy lòng, như vị ngọt mật ong trên đầu lưỡi. Họ cũng biết vầng hào quang đích thực của giấc mơ nằm nơi bầu không khí tự do vô hạn của nó. Đó không phải thứ tự do của kẻ nắm quyền tối thượng bắt thế giới tuân theo ý thích bản thân, mà là cái tự do của nghệ sĩ, người chẳng có ước muốn và ước muốn cũng chẳng kiểm soát được anh. Niềm vui của người nằm mơ chân chính không ở nội dung giấc mơ, mà ở chỗ trong mơ hết thảy diễn ra không do tác động từ anh ta và nằm ngoài tầm kiểm soát của anh ta. Những khung cảnh tráng lệ tự hiện lên, những tầm nhìn bao la hùng vĩ, những sắc màu phong phú và tráng lệ, đường xá nhà cửa anh ta chưa từng thấy hay nghe nói đến. Nhiều người lạ xuất hiện, là bạn hữu hay kẻ thù, mặc cho kẻ nằm mơ chưa từng liên can gì tới họ. Việc bay lượn hay đuổi bắt luôn tái diễn trong giấc mơ và trò nào cũng hào hứng như trò nào. Ai cũng thốt ra những câu dí dỏm tuyệt trần. Có một sự thật là ban ngày hồi tưởng sẽ thấy lời lẽ kia nhạt nhẽo, mất ý nghĩa bởi chúng thuộc bình diện khác, nhưng đêm về, ngay khi chìm vào giấc ngủ vùi, hiện tại sẽ đóng lại và người nằm mơ liền nhớ ra vẻ đẹp của chúng. Lúc nào một cảm giác tự do vô hạn, một thứ hạnh phúc phi trần thế, cũng vây quanh và thẩm thấu anh ta như không khí hay ánh sáng vậy. Anh là người được hưởng phúc, chẳng phải làm mà hết thảy đều được đưa đến vì phú quý và vui sướng của anh; các vua Tarshish sẽ mang lễ vật tới *. Tham gia vào chiến trận hay trận đấu bóng cam go, giữa lúc mọi sự diễn ra xung quanh, anh ngạc nhiên sao mình có đặc ân được nằm ườn ra đây. Đó là lúc người ta bắt đầu đánh mất ý thức về tự do, và lúc ý niệm nghĩa vụ, nỗi ép buộc bắt đầu thâm nhập vào thế giới ấy, lúc tồn tại bất kì sự hấp tấp hay căng thẳng nào như một lá thư phải thảo hoặc một chuyến tàu phải đón đợi, lúc bạn phải hành động để xua bầy ngựa trong mơ cất vó, hay khiến khẩu súng phát hỏa, thì giấc mơ ấy đang suy vi, đang chuyển thành cơn ác mộng - dạng giấc mơ nghèo nàn và dung tục nhất.
Chòm Đại hùng có hình chú gấu lộn ngược.
Ngoài đời thực, thứ gần đạt đến giấc mơ hơn cả là đêm tối ở một thành phố lớn, nơi chẳng ai biết ai, hoặc buổi đêm Phi châu. Tại đấy cũng có thứ tự do khôn cùng, vạn sự diễn ra và vô vàn số mệnh được an bài quanh bạn, mọi phía đều có các hoạt động và bạn chẳng cần để tâm đến tất tật điều đó.
Hiện tại nơi đây, ngay lúc mặt trời vừa lặn, không trung đã đầy dơi, êm lặng bay như xe hơi bon bon đường nhựa. Cả cú muỗi cũng vụt qua: chúng là loài chim đậu trên đường, đôi mắt lóe đỏ bởi ánh đèn xe bạn một giây trước khi vút bay lên ngay trước mũi xe. Lũ thỏ rừng bé nhỏ cũng kéo cả ra đường, di chuyển theo cách thức riêng chúng: ngồi thụp xuống rồi bật xa theo nhịp, giống một thứ chuột túi tí hon. Ve sầu ca bài ca bất tận từ trong đám cỏ mọc cao, những thứ mùi loang trên mặt đất còn sao băng thì cắt ngang bầu trời, giống nước mắt rơi trên má. Bạn là người hưởng phúc, được nhận lãnh tất cả. Các vua Tarshish sẽ mang lễ vật tới .
Đề cập tích Ba Vua tới mừng Chúa Jesus sinh ra đời trong Thánh Thi (Psalm) chương 72: Các vua Tarshish và những cù lao sẽ cống thuế cho Người. Vua Sa-ba và vua Sê-ba sẽ cống lễ cho Người.
Vài dặm ngoài kia, trong Khu bảo tồn Masai, bầy ngựa vằn đang đổi qua bãi cỏ mới, cả đàn di chuyển, tựa những cái sọc có màu sáng hơn, trên mặt thảo nguyên xám. Đàn trâu cũng đang ra gặm cỏ trên các sườn núi thoai thoải. Có một toán vài ba trai tráng đồn điền đi ngang, bước phăm phăm thẳng nhắm tới đích đến, người nọ bám sau người kia thành một chuỗi bóng sẫm, mảnh dẻ, in trên cỏ; họ không làm việc cho tôi, họ chẳng phải mối bận tâm của tôi. Toán thanh niên nhấn mạnh điều này với việc chỉ giảm nhịp chân bước lúc thấy đốm lửa điếu thuốc của tôi bên ngoài nhà, và cất tiếng chào mà không hề dừng lại.
“ Jambo * Msabu.”
“ Jambo Morani ” - chàng chiến binh, - “Các anh đi đâu thế?”
“Chúng tôi tới manyatta * nhà Kathegu. Tối nay ở đó có một Ngoma * lớn. Tạm biệt Msabu.”
Nếu đi thành các nhóm đông hơn, họ thường mang theo trống để nhảy, và bạn sẽ nghe văng vẳng tiếng trống xa lắc, giống cái đập khẽ khàng từ đầu ngón tay của màn đêm. Bỗng đột nhiên, vọng tới đôi tai vốn đang không sẵn sàng tiếp nhận, là một thứ giống cái rung động nhẹ của không khí hơn là âm thanh, một tiếng rống ngắn ngủi của sư tử từ xa thẳm. Nó đã tỉnh dậy và đang săn mồi, nhiều chuyện đang xảy ra ngoài kia, chỗ sư tử. Tiếng rống không lặp lại, nhưng nó đã mở rộng đường chân trời, đưa bạn đến các hẻm núi và hố nước.
Lúc tôi đang đứng trước nhà thì có một tiếng súng, cách không xa. Một phát duy nhất. Rồi cái tĩnh lặng của màn đêm lại khép chặt tứ bề. Sau một lát, như thể vừa im bặt lắng nghe và giờ lại tiếp tục, lũ ve sầu ra rả bài ca ngắn đều đều trong cỏ.
Chào - tiếng Swaheli trong nguyên tác.
Khu lều trại được rào vây.
Nguyên tác: Ngoma (tiếng Swaheli nghĩa là cái trống ), lễ hội ăn mừng sau vụ thu hoạch.
Một tiếng súng độc nhất giữa đêm hôm thanh vắng mang tính định đoạt và chết chóc lạ thường. Nó phảng phất giống ai đó hét lên với bạn thứ thông điệp chỉ có độc một từ, và không lặp lại. Tôi đứng yên một chập, thầm hỏi chuyện gì. Giờ này chẳng ai còn nhắm bắn thứ gì, và để xua đuổi con vật nào đó đi, người ta sẽ nổ hai phát hoặc hơn.
Đây có thể là bác thợ mộc người Ấn tên gọi Pooran Singh, dưới xưởng chế biến, đang bắn một cặp linh cẩu lẻn vào sân gặm các sợi dây da bò được đeo đá cho giãn thẳng ra làm dây cương xe chở hàng. Không phải anh hùng, nhưng vì mấy bộ dây cương, bác Pooran Singh hoàn toàn có thể hé cửa lều khai hỏa khẩu súng săn cũ kĩ của mình. Bác cũng sẽ vẫn nã cả hai phát rồi nạp đạn bắn tiếp, một khi đã nếm thử vị ngọt ngào của hành động anh hùng. Song chỉ một phát, và rồi tắt lịm ư?
Tôi đợi tiếng nổ thứ hai một lát: chẳng nghe gì và khi ngước trông trời lần nữa, thấy mưa cũng không tới. Đoạn tôi trở vào giường, cầm theo một cuốn sách, và vẫn để đèn. Tại châu Phi, khi nhặt được một cuốn đáng giá từ cả đống văn hóa phẩm tẻ ngắt mà các con tàu hàng châu Âu đưa qua, bạn sẽ đọc nó ngấu nghiến hệt như cách tác giả ước mong sách của mình được đọc, thầm cầu Chúa ban cho tác giả năng lực để tiếp tục cuốn sách cũng tuyệt vời hệt như cách anh ta đã bắt đầu. Tâm trí bạn vui sướng phóng đi, bay lượn giữa một lối nhỏ xanh thắm, ngút ngàn.
Hai phút sau có một chiếc mô tô quành vào đường nhà tôi với tốc độ kinh hoàng, đỗ xịch trước thềm, rồi ai đó gõ mạnh lên ô cửa sổ rộng ngoài phòng khách. Tôi vội mặc váy, khoác tấm áo choàng, đi giày, cầm ngọn đèn, bước ra ngoài. Đứng đực trước cửa là viên quản sự xưởng chế biến của đồn điền, cặp mắt ngây dại và mồ hôi túa ra dưới ánh đèn. Anh ta tên Belknap, người Mĩ, một thợ máy có năng lực hiếm có và đầy cảm hứng, nhưng não trạng lại thất thường. Với anh mọi thứ hoặc trên mây xanh, hoặc đen tối không tia hi vọng. Dạo mới tới làm, anh khiến tôi rất khó chịu bởi nhãn quan mỗi lúc một khác về cuộc đời, về tiền đồ cùng tình cảnh đồn điền, như thể kéo não trạng tôi lên một chiếc đu bay ác nghiệt vậy; sau rồi tôi cũng dần quen chuyện này. Những trồi sụt biến thiên kia không gì khác là kiểu tập luyện cảm xúc hằng ngày của một khí chất nồng nhiệt, cần nhiều vận động nhưng lại gặp quá ít biến cố; hiện tượng này xảy ra phổ biến với các chàng trai da trắng giàu năng lượng ở châu Phi, đặc biệt những người lớn lên nơi thị thành. Song giờ đây, vừa thoát ra từ tấn thảm kịch, Belknap lại dùng dằng chưa quyết sẽ kể tất tật nhằm làm dịu tâm can kích động, hay lẩn tránh nỗi khiếp đảm bằng việc giảm thiểu mức độ tày đình, và kẹt trong tình thế tiến thoái lưỡng nan ấy, nom anh ta giống chú nhóc chạy chối chết tới lắp bắp cấp báo một tai họa. Sau cùng Belknap chọn cách nói giảm đi, do chỗ chuyện cũng chẳng có gì để ba hoa, và số mệnh một lần nữa không phù trợ anh.
Lúc này từ nhà mình Farah cũng hớt hải bổ tới, cùng tôi nghe câu chuyện.
Belknap thuật lại trước tai họa sự tình đã khởi đầu bình yên và vui vẻ ra sao. Người đầu bếp của anh nghỉ làm một ngày, thừa dịp này một bữa liên hoan được tổ chức trong bếp mà chủ tiệc là chú phụ bếp bảy tuổi Kabero, con trai một lưu dân, hàng xóm gần nhất trong đồn điền - lão Kaninu cáo già. Về khuya, không khí vui vẻ dâng đến đỉnh điểm, Kabero mang khẩu súng của chủ vào bếp, và trước mặt lũ bạn đang phấn khích, đóng giả người da trắng. Mê gia cầm, Belknap mua gà thuần chủng ở Nairobi rồi nuôi gà trống thiến, gà mái tơ để bán và luôn giữ một khẩu súng bắn đạn ghém ngoài hiên nhằm xua đuổi lũ diều hâu và mèo hoang châu Phi*. Sau này bàn lại sự việc, Belknap một mực khẳng định khẩu súng không có đạn và lũ trẻ đã tự lấy ra nạp, nhưng tôi nghĩ anh nhớ nhầm bởi dẫu muốn trẻ nít cũng khó có thể làm được thế và nhiều khả năng khẩu súng nạp sẵn đạn đã bị bỏ tơ hơ ngoài hiên. Dầu gì đạn đã lên nòng khi Kabero, trong cái hăng máu của tuổi nhỏ và được hưởng ứng, nhằm thẳng vào đám khách khứa của mình mà siết cò. Tiếng súng vang dội khắp căn nhà. Ba trẻ bị thương nhẹ hốt hoảng chạy ùa khỏi bếp. Hai đứa giờ còn ở đó, trúng thương chí mạng hoặc đã chết. Belknap kết thúc chuyện kể bằng một tràng dài rủa nguyền lục địa châu Phi và mọi sự xảy ra tại đó.
Trong nguyên tác là Serval-cat: Loài mèo rừng chân cao, đuôi ngắn, tai to, da tựa da báo, nặng 7-12 kg.
Trong khi Belknap kể, các gia nhân của tôi đã lặng lẽ kéo cả ra ngoài, sau đó họ trở vào nhà mang đến một cây đèn bão. Chúng tôi đem theo băng cứu thương và thuốc sát trùng. Nổ máy chiếc xe sẽ chỉ phí thời gian nên cả đám dốc sức chạy băng qua vạt rừng xuống nhà Belknap. Chiếc đèn bão lắc qua lắc lại ném bóng chúng tôi từ mé này sang mé kia lối mòn. Trong khi chạy, chúng tôi nghe một tiếng la cụt lủn, non nớt, vỡ vụn - tiếng ré lên hấp hối của một đứa trẻ.
Cánh cửa bếp mở toang, như thể thần Chết xộc vào chốn này, rồi lao vụt ra, bỏ lại thảm cảnh ở chuồng gà sau khi chồn mò được vào. Trên bàn có một cái đèn bếp đang thắp, khói bốc cao đến trần, mùi thuốc súng vẫn còn đây đó. Khẩu súng nằm trên bàn, sau ngọn đèn. Máu me tung tóe khắp nơi, khiến tôi trượt chân. Khó tập trung ánh sáng những cây đèn bão vào một khu vực nhất định, nhưng quầng sáng của chúng lại soi rọi được toàn bộ căn phòng cùng tổng thể sự tình bên trong; tôi thường nhớ rõ những gì nhìn thấy dưới ánh đèn bão hơn các thứ đèn khác.
Tôi quen hai đứa bị bắn trên các thảo nguyên đồn điền, nơi chúng chăn dắt đàn cừu của cha. Wamai, con trai của Jogona, một cậu bé linh lợi từng dự lớp học buổi tối, giờ nằm trên sàn, giữa cửa và cái bàn. Cậu chưa chết, song thập tử nhất sinh, và đã hôn mê, dù có rên rỉ chút đỉnh. Chúng tôi chuyển Wamai qua bên để tiến vào trong. Đứa trẻ khi nãy ré lên là Wanyangerri, nhỏ nhất buổi liên hoan. Nó đang trong tư thế ngồi, gục người về đằng trước, phía chiếc đèn; máu từ mặt - nếu còn có thể gọi chỗ đó như vậy, vẫn phun ra như từ một bơm nước, bởi Wanyangerri hẳn đã đứng ngay trước họng súng khi nó khai hỏa hất bay hàm dưới của cậu. Hai tay thằng bé vẫn dang ra, đưa lên đưa xuống, giống cái cần bơm, hay cánh gà giãy giãy sau khi bị đoạn đầu.
Khi bạn thình lình bị ném vào cảnh huống bi thảm thế này, dường như chỉ có một phương cách, áp dụng cả trong cuộc đi săn lẫn tại sân nuôi trang trại: lập tức giết nạn nhân ngõ hầu chấm dứt nỗi thống khổ, bất chấp hậu quả. Thế nhưng biết chẳng thể đang tâm làm vậy, bạn sẽ trở nên hoảng loạn. Tôi áp cả hai bàn tay ôm lấy đầu đứa trẻ, giữ chặt trong niềm tuyệt vọng, và như thể bị tôi kết liễu, cũng lúc ấy cậu bé bỗng im bặt, dướn ngồi thẳng dậy với cánh tay buông thõng như một hình nhân gỗ. Phút ấy tôi chợt hiểu thế nào là cảm giác đặt tay chữa bệnh*.
Rất khó băng cho một nạn nhân bị bắn vỡ nửa mặt - trong nỗ lực cầm máu bạn có thể khiến họ ngạt thở. Tôi phải bế Wanyangerri đặt lên đầu gối Farah cho anh đỡ thẳng cái đầu để tôi quấn băng; nếu đầu gục ra trước tôi sẽ không thể băng cho chặt, còn nếu ngật ra sau, máu sẽ chảy tràn vào họng. Cuối cùng, trong lúc cậu vẫn ngồi yên như phỗng trong lòng Farah, tôi đã băng bó xong xuôi.
Chúng tôi đặt Wamai lên bàn, giơ đèn khám cho cậu. Lãnh nguyên phát đạn vào cổ họng và ngực ở khoảng cách sát sạt, cậu bé chẳng chảy nhiều máu mà chỉ rỉ một vệt nhỏ ở khóe miệng. Thật bàng hoàng khi nhìn cậu bé bản xứ, vốn suốt ngày nô đùa tựa một chú nai tơ, giờ nằm đấy sóng sượt. Lúc chúng tôi thăm khám, nét mặt Wamai chợt đổi khác, mang một vẻ sững sờ. Tôi vội sai Farah cấp tốc chạy về nhà lấy chiếc ô tô, phải tiết kiệm từng giây đưa ngay lũ trẻ tới bệnh viện.
Hình thức chữa bệnh bằng cách đặt tay lên người bệnh nhân, bắt nguồn từ sự tích Chúa Jesus dùng tay chữa lành cho các con chiên.
Trong khi chờ xe, tôi hỏi thăm về Kabero, thằng nhỏ đã nổ súng gây nên vụ đổ máu. Belknap bèn thuật lại một câu chuyện kì lạ về nó. Vài ngày trước, Kabero có mua một chiếc quần cộc cũ từ người chủ của mình, với giá một rupee trừ vào tiền công. Khi nghe tiếng súng, Belknap ba chân bốn cẳng lao vào, thấy Kabero đứng giữa bếp, khẩu súng còn bốc khói trên tay. Cậu ta trừng trừng nhìn Belknap một giây, thọc tay trái vào túi chiếc quần cộc vừa sắm và đang mặc dự bữa tiệc, lôi ra một rupee đặt xuống bàn, đồng thời tay phải liệng khẩu súng lên bàn. Với động tác thanh toán sạch nợ nần cùng trần thế ấy, Kabero cất bước bỏ đi. Thực ra, bấy giờ chúng tôi còn chưa biết, sau hành động vĩ đại ấy, cậu biến mất khỏi mặt đất. Đó là một hành vi bất thường với người bản xứ, bởi họ thường gắng đẩy suy nghĩ về các món nợ nần, nhất là nợ người da trắng, ra vùng ngoại vi của tâm trí. Trong mắt Kabero, có lẽ thời khắc đó hệt như ngày phán xử, nên cậu cảm thấy phải xử sự như vậy; cũng có thể cậu gắng, vào giờ phút cần kíp, tranh thủ để có một người bạn. Hoặc cú sốc, tiếng nổ, và cái chết của bạn bè xung quanh, đã giáng mạnh vào não bộ nhỏ bé của cậu, khiến các mẩu nhỏ ngoài rìa bắn vào trung tâm nhận thức.
Dạo ấy tôi sở hữu một chiếc xe Overland cũ mèm nhưng tôi sẽ chẳng bao giờ viết nửa chữ chê bai bởi nó đã phục vụ tôi rất trung thành trong suốt nhiều năm. Tuy nhiên rất hiếm dịp chiếc xe có hơn hai xi lanh cùng làm việc. Đèn xe cũng đã hư, bởi thế tôi thường tới các buổi dạ vũ ở câu lạc bộ Muthaiga với một ngọn đèn bão quấn tấm khăn mùi soa lụa đỏ thay cho đèn hậu. Phải đẩy thì chiếc xe mới khởi động và đêm đó trầy trật mãi máy mới chịu nổ.
Khách khứa thường ca thán tình trạng đường đất ở đồn điền tôi, và trong cái đêm chạy xe bán sống bán chết ấy, tôi nhận thấy họ mới có lí làm sao. Ban đầu để Farah điều khiển, song cho rằng anh đang cố tình lao vào tất cả ổ voi và sống trâu nên tôi buộc phải tự mình cầm lái. Vì lí do này, lúc tới đầm nước, tôi đã xuống rửa tay trong làn nước tối thẫm. Quãng đường tới Nairobi như dài vô tận, thời gian xe chạy lâu như thể chúng tôi đang băng một lèo về tận quê nhà Đan Mạch.
Bệnh viện cho dân địa phương ở Nairobi nằm trên quả đồi ngay trước khi xe bạn đổ dốc tiến vào thành phố. Lúc này cả bệnh viện tối om và tĩnh lặng, chúng tôi đã rất vất vả để đánh thức nó dậy. Cuối cùng chúng tôi tìm được một ông già bác sĩ hay y tá người Goa*, bận một tấm váy ngủ lạ lùng kiểu phụ nữ. Người này to béo, phong cách rất mực tĩnh tại, có thói quen làm một cử chỉ kì lạ bằng tay này rồi chuyển sang làm tay kia. Khi phụ nâng Wamai ra khỏi xe, tôi tin cậu có chút cử động và ưỡn người, nhưng lúc được chúng tôi đưa vào căn phòng bệnh viện sáng trưng thì cậu đã chết. Ông già người Goa chỉ vào Wamai, xua xua tay bảo: “Thằng nhỏ chết thẳng cẳng rồi còn đâu.” Đoạn chỉ Wanyangerri, ông nói: “Thằng này còn sống.” Tôi chẳng bao giờ tái ngộ ông ta lần nào nữa, bởi tôi không bao giờ quay lại bệnh viện đó ban đêm, đây có lẽ là ca ông làm việc. Dạo ấy, tôi nghĩ cung cách thừa hành chức phận của ông ta thật khó chịu, nhưng sau này tôi cảm nhận rằng dường như chính Định Mệnh, trong bóng những bóng áo choàng trắng, đã gặp chúng tôi tại bậc thềm bệnh viện, phân phát chẳng hề thiên vị Sự Sống và Cái Chết.
Tiểu bang duyên hải phía Tây Ấn Độ và là thuộc địa Bồ Đào Nha từ thế kỷ XV cho tới năm 1961.
Lúc được mang vào bệnh viện, từ cơn hôn mê, Wanyangerri tỉnh lại và lập tức rơi vào trạng thái hoảng loạn; nó không muốn bị bỏ lại và bám chặt lấy tôi hay bất cứ ai đứng gần rồi gào khóc trong nỗi đau đớn cùng cực. Sau cùng ông già Goa giúp cậu trấn tĩnh bằng một mũi tiêm rồi nhìn tôi qua phía trên cặp kính trễ và bảo: “Thằng này sống.” Tôi để lại hai đứa trẻ, một sống một chết, trên hai chiếc cáng, cho số mệnh bất đồng của chúng.
Cùng tới bệnh viện nhưng bằng xe máy của mình, chủ yếu để giúp chúng tôi đẩy ô tô nếu nó bị chết dọc đường, giờ Belknap thấy cần báo cho cảnh sát về vụ tai nạn. Thế là chúng tôi lái xe xuống thành phố, đến đồn cảnh sát ở phố Bờ Sông, và lao thẳng vào cuộc-sống-đêm của Nairobi. Lúc chúng tôi tới nơi, không có cảnh sát da trắng nào ở đồn, và chúng tôi đợi bên ngoài, trong xe, để họ đi gọi người. Đây là đường hai chiều xe chạy, giữa trồng một hàng cây khuynh diệp cao vút, loài cây ở mọi chốn thị thành của dân khai phá trên miền đất cao nguyên này; buổi tối những chiếc lá nhỏ, dài của chúng tỏa ra một mùi hương dễ chịu kì quái, và nom khá khác thường dưới ánh sáng đèn đường. Mấy người cảnh sát bản xứ đang lôi kéo một cô nàng Swaheli vóc dáng to đậm vào trụ sở, còn ả ta thì ra sức chống trả, cào mặt họ và rít lên như lợn. Một tốp du thủ du thực bị áp giải tới, vẫn hằm hè đòi thượng cẳng chân hạ cẳng tay ngay trước bậc tam cấp của đồn; và một tên trộm, tôi tin là vậy, vừa bị bắt, đang từ xa tiến lại, sau lưng rồng rắn những kẻ vô công rồi nghề, đám ủng hộ tên kia, lũ lại đứng về phía cảnh sát, đang tranh cãi ỏm tỏi về vụ việc. Cuối cùng xuất hiện một cảnh sát viên trẻ tuổi, rành rành mới rời một bữa tiệc bù khú phóng thẳng tới đây. Anh ta khiến Belknap thất vọng, bởi bắt tay vào lấy lời tường trình với tốc độ chớp nhoáng và thái độ nhiệt tình, nhưng sau rồi sa vào các suy nghĩ đẩu đâu, dật dờ rê ngòi bút chì trên mặt giấy rồi cuối cùng cất bỏ vào túi. Tôi lạnh run trong bầu không khí đêm. Sau rốt chúng tôi cũng có thể lên xe trở về nhà.
Sáng hôm sau, khi còn nằm trên giường, tôi đã cảm nhận được, dựa vào không khí yên ắng đầy căng thẳng bên ngoài, rằng có nhiều người đang tụ tập quanh nhà mình. Tôi biết đó là ai: những ông già đồn điền, đang ngồi chồm hỗm trên các tảng đá, tóp tép nhai hoặc khụt khịt hít thuốc lá, nhổ toèn toẹt và thì thào trao đổi. Tôi cũng biết mục đích họ lũ lượt kéo tới: báo cho tôi nguyện vọng nhóm họp Kyama về vụ nổ súng tối qua, và về cái chết của đứa trẻ.
Kyama là hội đồng bô lão của một đồn điền, được chính quyền cho phép phân xử những tranh chấp tại địa phương giữa các lưu dân. Khi xảy ra một tội ác, hay tai nạn, các thành viên Kyama sẽ tụ tập, ngồi bàn bạc trong nhiều tuần, ních đẫy thịt cừu, khua môi múa mép, tựu trung đó là một tệ lậu. Tôi biết giờ các ông già muốn trao đổi với tôi về toàn bộ câu chuyện, và thể nào sau cùng, nếu có thể, cũng đòi tôi tới dự phiên tòa của họ để tuyên lời phán xét chung cuộc. Lúc này, chẳng hứng tham dự một cuộc bàn luận không hồi kết về thảm kịch đêm trước, tôi bèn gọi ngựa lại hòng lánh mặt bỏ đi.
Ngồi trên ngựa rời khỏi nhà tôi thấy, đúng như tiên lượng, bên trái cạnh mấy túp lều của gia nhân là một vòng tròn lố nhố các ông lão. Vì phẩm giá của hội đồng mà chính mình là thành viên, họ vờ như chẳng thấy tôi. Đến chừng nhận thấy tôi đang bỏ đi, họ cuống quýt nhổm dậy trên những đôi chân già nua, rối rít khua gọi. Tôi bèn vẫy chào đáp lễ rồi phóng ngựa đi.