Châu Phi Nghìn Trùng

Lượt đọc: 1377 | 2 Đánh giá: 9/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 4
một nàng linh dương

Như Kamante đến chỗ tôi từ miền đồng thảo, Lulu đến từ những cánh rừng.

Khu bảo tồn rừng Ngong nằm phía Đông đồn điền, khi xưa hầu hết diện tích là rừng nguyên sinh. Quả đáng buồn khi thấy những cánh rừng già ở đây bị đốn hạ, rồi đem bạch đàn hay ngân hoa trồng thế vào; lẽ ra đó phải là một miền đất kì thú, một công viên vô song cho Nairobi.

Mỗi khu rừng nguyên sinh châu Phi là một vùng đất bí ẩn. Bạn như tiến nhập vào những tầng sâu của một tấm thảm cổ, theo thời gian chỗ thì nhạt đi hay tối sậm lên, song sắc xanh lục luôn tràn trề đến diệu kì. Chẳng còn thấy bầu trời, nhưng xuyên qua tán lá, ánh dương trong đây đùa giỡn đủ kiểu lạ thường. Những vạt nấm xám màu, giống chòm râu dài bám trên các thân cây, cùng những giống dây leo chằng chịt lòng thòng khắp nơi, tạo nên một không khí ẩn mật, thâm sâu cho đại ngàn nguyên sinh. Chủ nhật, rỗi việc đồn điền, tôi thường cưỡi ngựa tới đây cùng Farah, rong ruổi lên xuống những triền dốc hay băng qua các con suối rừng uốn khúc. Không khí rừng già mát rười rượi tựa nước và ngát hương các loài thực vật. Đầu mùa mưa dầm, lúc các giống cây leo trổ hoa, bạn sẽ ruổi ngựa xuyên qua hết vùng thơm lừng này sang một vùng thơm ngát khác. Có một loại thụy hương châu Phi, nở ra thứ hoa li ti, dinh dính, màu kem, dạng chùm với mùi thơm ngọt ngào nức mũi, giống hương hoa tử đinh hương, hay hoa loa kèn dại ở thung lũng. Đây đó bạn bắt gặp các khúc gỗ có bộng mà người Kikuyu dùng dây da treo trên một nhánh cây, để ong kéo về làm tổ lấy mật. Một đận, khi quành ở khúc ngoặt trong rừng, chúng tôi nhìn thấy một chú báo ngồi ngay giữa đường, tựa như tấm thảm sống.

Trên cao trong đây có một bộ tộc luôn chí chóe chẳng lúc nào chịu yên: loài khỉ xám nhỏ. Khi đám khỉ chuyền cành phía trên con đường, thứ mùi hôi khăn khẳn, giống mùi chuột của chúng lưu lại mãi trong không khí. Đang cưỡi ngựa, thình lình trên đầu bạn rào rào tiếng di chuyển vun vút, ấy là lúc bầy khỉ đang băng ngang, theo đường riêng của chúng. Nếu dừng ngựa đứng yên một chặp, mắt bạn có thể chộp được một chú khỉ trong bầy đang ngồi bất động trên cây, và lát sau sẽ phát giác ra cả khoảnh rừng quanh mình nhan nhản gia đình chú, lúc lỉu như quả trên cành, các bóng nhỏ màu xám hay tối sẫm tùy vào cách ánh mặt trời rọi tới, con nào con nấy đuôi lòng thòng đằng sau. Lũ khỉ phát ra thứ âm thanh lạ lùng, giống chúm môi hôn gió kèm theo một tiếng ho nhỏ; nếu từ dưới mặt đất bắt chước âm thanh này, bạn sẽ thấy cả lũ ngó nghiêng dáo dác với bộ dạng như đóng kịch, nhưng nếu bạn đột ngột cử động thì chỉ một giây cả đám sẽ mất dạng, và bạn có thể dỏng tai theo tiếng oàm oạp xa dần khi chúng rẽ ngọn cây biến vào rừng giống bầy cá lẩn vào những con sóng.

Giữa rừng Ngong tôi cũng từng bắt gặp, trên lối mòn xuyên qua lớp cây cối rậm rạp, giữa một buổi trưa vô cùng nóng nực, một chú lợn thuộc nòi Lợn rừng lớn cực kì hiếm gặp. Chú vụt băng ngang, cùng con cái và ba con non, nhanh như tên bắn, các hình cắt to nhỏ hệt nhau từ một loại giấy sẫm màu in trên nền xanh ngập nắng. Đấy là một hình ảnh huyền diệu, giống bóng nước dưới đáy hồ trong rừng hay cảnh tượng xảy ra đã cả ngàn năm trước.

Lulu thuộc thứ chi có vằn đốm, đây có lẽ là loại linh dương kiều diễm nhất châu Phi. Linh dương vằn đốm nhỉnh hơn hoẵng chút đỉnh, nhút nhát và luôn lẩn lút thành thử hiếm khi bị bắt gặp như các giống linh dương thảo nguyên khác. Chúng thường sống trong rừng cây thân gỗ hay những miền cây bụi mọc lúp xúp. Có điều linh dương vằn đốm lại ưa sống trong rặng Ngong cùng vùng phụ cận, bởi vậy nếu bạn hạ trại trong núi để đi săn vào sáng sớm, hay giữa chiều tà, sẽ có cơ bắt gặp chúng rời các bụi cây bước ra trảng trống, và tấm áo khoác chúng ngời lên sắc đỏ đồng thau dưới nắng. Các con đực còn có thêm cặp sừng cong thanh thoát.

Lulu trở thành thành viên trong nhà tôi theo cách sau:

Một sáng tôi lái xe từ đồn điền xuống Nairobi. Trước đó ít lâu, xưởng chế biến cà phê ở đồn điền bị cháy nên tôi phải nhiều đận ngược xuôi thành phố làm thủ tục nhận tiền bảo hiểm và sớm ấy đầu óc tôi đang xoay mòng mòng với các con số cùng dự toán. Khi đang lái xe dọc quốc lô Ngong, tôi thấy mấy chú lỏi Kikuyu bên lề hét gọi mình, giơ cao một con linh dương bé xíu cho xem. Biết chúng hẳn vừa vớ được con vật và giờ đang muốn bán cho mình đây, song bởi đã trễ giờ hẹn ở Nairobi và chẳng còn bụng dạ nào nghĩ tới những việc như vậy, thành thử tôi vẫn cứ bon bon.

Chiều trên đường về, lúc lái xe qua chỗ ban sáng, tôi lại nghe tiếng la to từ bên lề. Lũ trẻ vẫn còn đấy, thấm mệt và nản chí bởi suốt hôm đó hẳn đã gắng xoay xở chào mời con vật cho những người qua lại, giờ chỉ mong bán phứt cho xong nợ trước khi mặt trời lặn nên lại giơ con linh dương lên cao câu dụ tôi. Nhưng vừa có một ngày vất vả ở thành phố, thêm việc điều đình bảo hiểm không như ý, tôi chẳng buồn dừng xe hay trao đổi gì mà cứ thế phóng ào qua. Về tới nhà, thậm chí không nghĩ ngợi gì, tôi chỉ ăn tối rồi lên giường.

Lúc bắt đầu gà gật bỗng tôi choàng tỉnh bởi một nỗi hãi hùng. Hình ảnh mấy thằng nhóc và con linh dương nhỏ giờ hiển hiện trước mắt như một bức tranh, và tôi sợ hãi ngồi bật dậy, hơi thở thắt nghẹn như bị ai siết cổ. Điều gì, tôi nghĩ bụng, sẽ xảy đến cho con vật bị đám trẻ đứng chầu chờ cả ngày nóng nực giơ ngược mấy chân lên như thế? Nó còn quá nhỏ để tự kiếm ăn được. Chính tôi đã lái xe đi qua đó tới hai lần trong cùng một ngày, vừa đóng vai thầy tế vừa là người Lê-vi* mà chẳng hề để tâm, và giờ đây con vật kia ở đâu? Rời khỏi giường trong tâm trạng thực sự hốt hoảng, tôi khua hết gia nhân dậy, bảo phải tìm cho ra con linh dương và mang về cho tôi vào sáng mai, nếu không tất tật sẽ bị đuổi việc. Họ hiểu ngay ra tình thế. Hai cậu gia nhân ban ngày ngồi cùng xe với tôi, và chẳng hề tỏ ra đoái hoài tới lũ trẻ hay con linh dương, giờ liền đứng ra cung cấp cho mọi người địa điểm, thời gian sự việc cũng như thông tin nhà đám trẻ. Đấy là một đêm trăng sáng vằng vặc; tất tật gia nhân lên đường, vừa tỏa đi các hướng vừa bàn tán rôm rả; tôi nghe họ bảo nhau cố tìm cho ra con linh dương kẻo cả đám bị sa thải.

Sớm hôm sau, lúc Farah mang trà lên cho tôi thì Juma cùng bước vào bế theo con linh dương. Đó là một con linh dương cái, chúng tôi đặt tên nó là Lulu, theo tiếng Swaheli nghĩa là ngọc trai.

Một người đi từ Jerusalem xuống Jericho thì bị bọn cướp hành hung trọng thương và bỏ nằm lại bên đường. Một thầy tế rồi một người Lê-vi đi qua, tuy thấy nhưng đều ngoảnh mặt làm ngơ. Chỉ đến khi một người Samari đi tới thì nạn nhân mới được băng bó và đem về quán chạy chữa (Luke 10, kinh Cựu Ước).

Dạo ấy Lulu chỉ lớn bằng con mèo, mang cặp mắt to, tĩnh lặng, màu tím. Chân Lulu mảnh mai tới độ bạn e chúng sẽ gãy gập vì phải co lại rồi duỗi ra mỗi bận Lulu nằm xuống hay đứng lên. Đôi tai nó mượt như lụa và cực kì biểu cảm. Mũi Lulu đen như một cây nấm. Những cái móng bé xíu khiến nó mang cốt cách một thiếu nữ Trung Hoa có đôi bàn chân bó vải, dưới mái trường thời xưa. Thật là một trải nghiệm hi hữu khi được ôm một tạo vật hoàn mỹ đến thế trong tay.

Lulu mau chóng thích nghi với ngôi nhà cùng các cư dân của nó và xử sự như thể đang trong nhà mình. Vào những tuần đầu, mặt sàn trơn bóng ở các phòng là nỗi rầy rà của đời nó, và hễ cứ bước khỏi thảm là cả bốn cẳng chân nó lại bị trượt soài tứ phía. Điều tưởng chừng như một thảm họa này chẳng làm Lulu quá bận tâm, cuối cùng nó đã học được cách đi trên sàn với một tràng thanh âm như tiếng mấy ngón tay nhỏ giận dữ gõ lên bàn. Lulu cực kì sạch sẽ trong mọi nết ăn ở. Đã bướng bỉnh như một đứa trẻ, nhưng khi bị tôi ngăn cản làm những điều nó muốn, cung cách Lulu tỏ ra: Sao cũng được, miễn đừng cãi nhau.

Kamante cho Lulu bú bình, và tối nào chú cũng khóa trái cửa nhốt nó lại vì màn đêm buông cũng là lúc lũ báo lẩn quất quanh nhà. Bởi thế Lulu luôn đeo dính, xoắn xuýt lấy Kamante. Thỉnh thoảng, khi chẳng được cậu bé chiều ý, Lulu húc mạnh cái đầu non tơ vào đôi chân khẳng khiu của cậu, và nó quá đỗi khả ái đến mức, khi nhìn hai sinh vật ấy bên nhau, bạn không thể không liên tưởng tới một minh họa mới và đảo ngược cho câu chuyện cổ tích Người đẹp và Quái vật . Với sức mạnh của vẻ đẹp và nét duyên dáng ấy, Lulu chiếm vị trí ăn trên ngồi trốc, và được tất cả trọng thị.

Ở châu Phi tôi không nuôi loại chó nào ngoài nòi săn hươu xứ Scotland. Chẳng nòi chó nào quý phái và thanh lịch hơn được chúng. Cung cách của loài này cho thấy chúng hẳn đã sống bên con người nhiều thế kỷ để hiểu và thích ứng cùng cuộc sống chúng ta đến vậy. Hình loài săn hươu xứ Scotland có trên nhiều bức tranh hay tấm thảm xưa, và bằng dáng vẻ cùng phong cách, chúng khả dĩ biến phong cảnh xung quanh thành ra cảnh trong một bức thảm và mang lại cho cảnh vật thứ sắc thái thời phong kiến.

Con đầu tiên trong gia tộc Săn hươu xứ Scotland của tôi tên gọi Dusk, vốn là món quà cưới, đã đồng hành cùng tôi từ khi bắt đầu cuộc đời ở châu Phi trên “con tàu Mayflower*”, hẳn có thể nói như vậy. Dusk can đảm và hào hiệp. Nó từng theo tôi, vào mấy tháng đầu cuộc chiến, tham gia chuyến tải hàng cho chính phủ trong Khu bảo tồn Masai. Nhưng sau đó vài năm Dusk bị ngựa vằn giết chết. Thời điểm Lulu tới sống trong nhà, tôi đang có hai đứa con của Dusk.

Nòi Săn hươu xứ Scotland rất hòa hợp cảnh sắc và con người châu Phi. Đó có lẽ bởi độ cao, cả ba đối tượng trên đều mang khí chất vùng cao, vì tại Mombasa, nơi nằm ngang mực nước biển, giống này nom chẳng còn hài hòa đến vậy. Điều này dẫn đến sự thể là dường như phong cảnh hùng vĩ và bao la với thảo nguyên, núi đồi, sông suối kia vẫn chưa trọn vẹn cho đến khi có nòi Săn hươu góp mặt. Nòi này con nào cũng giỏi đi săn và thính hơi hơn các loại chó săn khác, song lúc săn đuổi chúng hoàn toàn dùng mắt và cảnh hai con Săn hươu phối hợp cùng săn mới tài tình làm sao. Mỗi khi cưỡi ngựa vào Khu bảo tồn động vật hoang dã - ở đây không được phép săn bắn - tôi thường mang theo bầy Săn hươu và chúng xua lũ ngựa vằn và linh dương đầu bò túa ra khắp thảo nguyên, như thể tất cả các vì sao đang chạy tán loạn trên bầu trời. Nếu có đám Săn hươu cùng săn ở khu Bảo tồn Masai, tôi sẽ chẳng bị lọt mất đầu thú đã trúng đạn nào.

Con tàu chở nhóm người Anh đầu tiên di cư tới Mĩ hồi thế kỷ XVII.

Giữa rừng già bản địa, nom chúng cũng tuyệt đẹp với sắc xám đen giữa bạt ngàn lục sẫm. Một con Săn hươu của tôi từng hạ được cả con đực già lực lưỡng dòng khỉ đầu chó. Trong cuộc đấu tay đôi ấy, mũi nó bị đập bẹt làm xấu cả nét bán diện quý phái nhưng cư dân đồn điền vẫn coi đây là thương tích đáng tự hào, vì khỉ đầu chó là loài chuyên phá phách, bị dân bản xứ thậm ghét.

Nòi Săn hươu rất khôn, biết phân biệt trong các gia nhân của tôi ai theo đạo Hồi và không được phép chạm vào chó.

Trong mấy năm đầu sống tại châu Phi, tôi có một lão bộc vác súng dân Somali tên là Ismail; ông đã qua đời dạo tôi vẫn còn ở đó. Ismail thuộc lớp phu vác súng già, giờ những con người như thế đã mai một. Ông được nuôi dạy bởi các tay thợ săn đại thú kiệt xuất thời đầu thế kỷ, hồi toàn bộ châu Phi còn là khu công viên đích thực của hươu nai. Hiểu biết của ông về thế giới văn minh chỉ gói gọn trong lĩnh vực săn bắt, và Ismail nói thứ tiếng Anh của giới đi săn: ông dùng từ lớn tướng hay trẻ trung khi đề cập tới khẩu súng trường của tôi. Sau ngày Ismail quay về quê nhà Somali*, tôi nhận được một lá thư ông đề gửi cho Blixen sư tử can trường , mở đầu thế này: Sư tử đáng kính ơi . Là một tín đồ nhất cử nhất động tuân thủ lề luật Hồi giáo, cả đời không được đụng chạm vào chó, Ismail luôn lo ngại lúc làm việc. Nhưng ông lại coi Dusk là trường hợp ngoại lệ và chẳng ngần ngại khi tôi cho nó cùng ngồi chen chúc trên cỗ xe lừa kéo. Thậm chí Ismail để Dusk ngủ chung lều. Bởi như ông bảo Dusk chỉ nhìn cũng nhận được ra người Hồi giáo, và chẳng bao giờ chạm vào ông. Thậm chí, Ismail quả quyết với tôi, Dusk có khả năng chỉ đưa mắt là phân định được một tín đồ Hồi giáo chân chính. Một bận ông bảo: “Hóa ra Dusk cùng thuộc bộ lạc của cô. Nó cười cợt cả người.”

Nguyên văn: Somaliland - vùng đất của Somali do Anh quốc bảo hộ. Ngày nay thuộc miền Tây Bắc nước Cộng hòa Dân chủ Somali.

Giờ bầy chó của tôi cũng nhận ra uy quyền và chỗ đứng trong nhà của Lulu. Cái ngạo mạn ở các thợ săn vĩ đại tan ra như nước trước nó. Lulu đuổi chúng khỏi các bát sữa và những chỗ nằm ưa thích trước đống lửa. Tôi cột một cái chuông nhỏ vào vòng cổ Lulu, và mỗi bận nghe tiếng chuông leng keng ấy tiến lại gần, bầy chó nhịn nhục rời khỏi những cái giường ấm áp bên lò chuyển sang nằm mé khác của phòng. Ấy thế nhưng chẳng đối tượng nào có thể làm ra thái độ lành hiền vượt được Lulu khi bước vào và nằm xuống, theo kiểu một quý bà đích thực từ tốn chỉnh trang vạt váy quanh mình để không làm vướng lối ai. Nó uống sữa với bộ tịch lễ độ, tỉ mẩn, như thể bị một bà chủ quá tốt bụng nài ép. Lulu thường đòi được gãi sau tai, với một dáng điệu nhẫn nhịn duyên dáng, giống cô dâu mới thân mật cho phép anh chồng vuốt ve.

Khi lớn hơn và bước vào giai đoạn rực rỡ nhất của tuổi thanh xuân, Lulu trở nên một nàng linh dương thon thả tuyệt vời, từ đầu tới chân đẹp đến độ chẳng thể hình dung. Trông nó như hình vẽ minh họa tỉ mỉ khúc ca về những con linh dương thông minh và dịu dàng bên sông Hằng của Henrich Heine*.

Song le chẳng hề hiền hòa, thực ra trong Lulu có chứa, như người ta thường bảo, một con quỷ. Nó sở hữu, ở mức tột đỉnh, một tính cách phụ nữ điển hình là tỏ ra chỉ luôn tự vệ trong khi thật ra, với toàn bộ sức mạnh sẵn có, lại đang nhăm nhe tấn công. Công kích ai? Cả thế giới. Càng lớn Lulu càng trái tính trái nết; nó có thể lao tới tấn công cả ngựa của tôi nếu chú khiến nó không hài lòng. Tôi nhớ ông Hagenbeck ở Hamburg* từng chỉ ra trong tất tật chủng loại động vật, kể cả thú ăn thịt, đám hươu nai linh dương là ít đáng tin cậy nhất, và bạn có thể tin tưởng cả loài báo, nhưng nếu tin vào một con hươu non, sớm hay muộn cũng sẽ bị nó húc từ đằng sau.

Thi hào Đức (1797-1856). Tác giả đề cập tới bài thơ On wings of song .

Carl Hagenbeck, người vào năm 1907 đã lập ra vườn thú Tierpark Hagenbeck tại Hamburg, Đức.

Lulu là niềm tự hào của cả nhà ngay cả những lúc cư xử như một cô ả đỏng đảnh, chẳng hề biết thẹn thực thụ, ấy vậy mà chúng tôi vẫn chẳng thể khiến nó bằng lòng. Lâu lâu Lulu lại bỏ đi mất dạng nhiều giờ, hoặc suốt chiều. Thỉnh thoảng, những lúc nội tâm tức tối và bất mãn thế giới xung quanh đạt tới cực điểm, nhằm làm dịu con tim chính mình nó sẽ nhảy thứ vũ điệu sát phạt trên trảng cỏ trước nhà, nom giống như một lời khấn khứa ngắn gọn và dích dắc tới quỷ sa tăng.

“Ôi Lulu,” tôi nghĩ; “ta biết rành mi khỏe, bật vượt được cả đầu mình nữa. Giờ mi đang giận điên, mong tất thảy bọn ta tiêu vong cho rảnh nợ; nếu được không khéo mi giết cả đám chứ chẳng chơi. Nhưng không như mi tưởng là bọn ta đặt ra đủ thứ chướng ngại rồi bắt mi nhảy qua đâu. Cô ả giỏi nhảy kia ơi, bọn ta nào có thể làm vậy? Chẳng ai tạo ra bất kì trở ngại nào cho mi. Sức mạnh tuyệt đỉnh kia ở trong người mi, cả các chướng ngại cũng vậy luôn, Lulu ạ, có điều thời điểm chín chắn của mi chưa tới.”

Một tối Lulu không trở về và chúng tôi bỏ công sục sạo trong vô vọng suốt cả tuần. Đấy là một cú đòn trí mạng giáng vào tất cả mọi người. Ngôi nhà đánh mất âm sắc trong trẻo của nó và giờ như chẳng còn đẹp đẽ gì hơn các nhà khác. Tôi nghĩ tới lũ báo rình mò bên sông và một tối chia sẻ điều này cho Kamante.

Như thường lệ cậu chờ một thời gian rồi mới trả lời, nhằm tiêu hóa cái thiếu sáng suốt ở tôi. Mãi đến vài ngày sau Kamante tìm tôi đề cập chuyện này. “Msabu, cô tin Lulu đã chết rồi,” cậu bảo.

Tôi không thích nói huỵch toẹt ra như vậy, nhưng bảo cậu mình đang băn khoăn sao Lulu chẳng quay về.

“Lulu,” Kamante nói; “không chết. Song nó đã lấy chồng.”

Đây là tin vui bất ngờ và tôi hỏi sao cậu biết.

“Đúng vậy,” Kamante nói; “nó đã lấy chồng. Nó sống trong rừng với Bwana ,”- chồng; hay chủ nhân. “Nhưng nó không quên con người. Hầu như sáng nào Lulu cũng quay về. Cháu rải ngô nghiền cho nó ở sau bếp, thế là cứ trước lúc mặt trời mọc nó lại từ rừng ra ăn. Chồng nó cùng đi, có điều không quen nên chỉ lảng vảng quanh cái cây to màu trắng bên kia trảng cỏ chứ chả dám bén mảng lại gần nhà.”

Tôi bảo Kamante dịp tới thấy Lulu về nhớ gọi tôi. Mấy ngày sau, trước khi hửng sáng, cậu vào nhà gọi tôi ra.

Đó là một sớm mai tuyệt đẹp. Mấy ngôi sao cuối cùng đã bỏ đi trong lúc chúng tôi chờ đợi, bầu trời quang đãng và yên bình nhưng thế giới của chúng tôi vẫn tối tăm và hết sức tĩnh mịch, cỏ ướt sũng, gần các gốc cây, chỗ đất thoai thoải, lớp sương khiến cỏ như được mạ một lớp bạc xỉn màu. Khí trời buổi ban mai lành lạnh, gầy cảm giác buốt nhôn nhốt mà nếu ở các xứ phương Bắc có nghĩa là sương giá sắp về. Dẫu đã thường nếm trải, tôi nghĩ, vẫn chẳng sao tin nổi, giữa cái mát mẻ âm u nhường này, chỉ vài tiếng đồng hồ nữa thôi, bạn sẽ khó lòng chịu nổi sức nóng vầng dương và ánh chói bầu trời. Sương xám phủ lên rặng núi và kì lạ làm sao cũng mang luôn dáng hình dải sơn mạch; nếu đàn trâu rừng giờ đang gặm cỏ giữa lưng chừng núi hẳn sẽ bị lạnh cóng, như ở giữa biển mây vậy.

Mái vòm vô tận trên đầu chúng tôi từ từ được một thứ chất trong ngần điền đầy tựa chiếc cốc thủy tinh chứa rượu vang. Đột nhiên, lúc bắt được ánh dương đầu tiên, mấy chóp núi chuyển hồng phơn phớt. Thật chậm rãi, khi Trái Đất quay dần về phía mặt trời, vùng chân núi thoai thoải rậm rì cỏ mọc nhuốm sắc vàng mong manh, tiếp đến là các cánh rừng Masai bên dưới. Và giờ tới những ngọn cao cây rừng nằm phía bờ sông bên này của chúng tôi cũng hồng lên màu đồng thau. Đây là thời điểm bầy chim câu thân to, sắc tía, làm tổ ở bờ sông bên kia, bay qua kiếm ăn trên rặng cửu lí hương trong rừng của tôi. Mỗi năm chúng chỉ trú ngụ nơi đây một thời gian ngắn. Bầy chim ào ào kéo tới nhanh đến kinh ngạc, hệt như đợt công kích của một đoàn khinh kị bay. Vì lẽ này bạn bè tôi ở Nairobi đâm mê mẩn thú săn chim câu buổi rạng đông ở đồn điền và để đi bắn cho kịp lúc mặt trời vừa mọc, họ thường phải rời nhà mình sớm tới độ khi quành vào con đường trước nhà tôi các xe vẫn phải bật đèn sáng lòa.

Đứng giữa bóng tối trong suốt thế này, ngước nhìn về các đỉnh cao đúc bằng vàng ròng cùng bầu trời quang đãng trên kia, bạn sẽ cảm giác hệt như vừa đang bước dưới đáy biển, giữa các dòng hải lưu, vừa ngóng trông lên mặt nước đại dương.

Một chú chim cất tiếng hót, rồi đâu đó gần đây trong rừng, tôi chợt nghe tiếng chuông leng keng. Có thế chứ, vui quá Lulu đã trở lại và đang dạo chơi giữa chốn quen! Nó tới gần hơn, dựa vào tiếng chuông tôi có thể bắt theo chuyển động của Lulu; nó bước đi, dừng lại, lại bước tiếp. Một khúc ngoặt kề bên lều của gia nhân đưa Lulu hiện ra ngay trước mặt chúng tôi. Việc gặp linh dương sát cạnh nhà thế này bỗng chốc thành điều phi thường và niềm thích thú. Lulu đứng sững, có vẻ nó đã chuẩn bị tinh thần trông thấy Kamante chứ không phải tôi. Song nó không hề bỏ chạy mà nhìn tôi chẳng chút sợ hãi hay vương vấn kí ức về mối bất hòa giữa hai bên trong quá khứ hay việc nó bạc bẽo đột ngột bỏ đi không hề báo trước.

Lulu của rừng già thành ra một sinh thể độc lập, cao cả. Một biến hóa sâu thẳm giờ đã bao trùm, làm chủ nó. Nếu tôi tình cờ quen biết một cô công chúa tha hương, vào lúc còn đang đòi vương quyền, rồi gặp lại nàng ở tư cách nữ hoàng sau khi giành được hoàng vị, thì cuộc hạnh ngộ giữa chúng tôi cũng sẽ giống thế này. Lulu tỏ ra rộng lượng không thua vua Louis Philippe, khi ngài tuyên bố hoàng đế nước Pháp chẳng còn nhớ gì đến các mối thù của công tước Orleans*. Hiện tại Lulu trọn vẹn là chính nó. Thái độ hung hăng hiếu chiến xưa giờ đã biến đi hoàn toàn: vì ai, hà cớ gì phải tấn công cơ chứ? Nó đứng đó, im lìm với thứ quyền lực thiêng liêng được Chúa trời ban tặng. Vẫn còn nhớ chủ đủ để không thấy hãi sợ, Lulu chú mục vào tôi cả phút; đôi mắt khói tím của nó tuyệt nhiên không biểu lộ gì, cũng chẳng hề chớp. Tôi nhớ ra các nam hay nữ thần cũng có chớp mắt bao giờ, và cảm giác mình đang đứng đối diện thần Hera mắt bò*. Nó nhẹ nhàng bứt một nhành cỏ khi đi ngang qua chỗ tôi, duyên dáng nhảy một bước ngắn, rồi nhởn nhơ bước ra phía sau bếp, chỗ Kamante đã rắc ngô trên mặt đất.

Từng kế vị cha để làm công tước Orleans từ 1465, vua Louis XII, nhằm tập hợp mọi lực lượng, đã tuyên bố như vậy khi lên ngôi năm 1498.

Kamante chọc một ngón tay vào tay tôi, chỉ ra phía rừng. Theo đó tôi thấy, dưới cây cửu lí hương cao vút ở bìa rừng, một chú linh dương, một bóng nhỏ màu hung có cặp sừng duyên dáng, đang đứng bất động hệt như thân cây. Kamante quan sát chú linh dương một chặp, đoạn bật cười.

“Cô trông mà xem,” cậu bảo, “Lulu đã bảo chồng cứ tiến lại ngôi nhà chẳng có gì phải sợ cả, nhưng anh chàng nào dám. Sớm nào bụng cũng bảo dạ hôm nay ta sẽ tới đó, song khi thấy căn nhà và con người, cậu chàng lại có một cục đá lạnh toát trong bụng,” - tình trạng này xảy ra phổ biến trong người bản xứ và thường cản trở công việc đồn điền, “nên rốt cuộc chỉ dừng bước cạnh cái cây.”

Suốt một quãng thời gian dài, Lulu thường quay về nhà vào buổi sớm. Tiếng chuông trong trẻo của nó báo hiệu mặt trời đã mọc trên rặng núi, và tôi thường nằm trên giường đợi chờ tiếng chuông ấy. Đôi khi Lulu biến mất một hoặc hai tuần khiến chúng tôi nhớ nhung và bắt đầu đề cập đến những người lên núi săn bắn. Nhưng rồi đám gia nhân một lần nữa lại báo tin: “Lulu đang ở đây,” như thể đấy là cô con gái đã lấy chồng giờ về chơi nhà vậy. Tôi cũng thấy bóng dáng chàng linh dương giữa những thân cây thêm vài bận nữa, có điều Kamante đã đúng, cậu chàng chẳng bao giờ đủ can đảm tiến lại ngôi nhà.

Theo thần thoại Hi Lạp, một trong những biểu tượng của nữ thần tuyệt sắc Hera, vợ thần tối cao Zeus, là bò cái.

Đến một ngày, từ Nairobi quay về, tôi bắt gặp Kamante nhăm nhăm đứng ngóng ngoài cửa bếp. Thấy tôi, cậu háo hức tiến tới thông báo hôm đó Lulu quay về đồn điền cùng Toto -con-của-nó. Vài bữa sau, nơi khoảng trống giữa mấy túp lều gia nhân, tôi vinh hạnh gặp lại Lulu, thái độ cực kì cảnh giác và chẳng dễ chọc, dưới chân có một chú linh dương nhỏ xíu đang bước chập chững hệt Lulu hồi đầu chúng tôi bắt gặp. Đó là thời điểm những cơn mưa tầm tã vừa qua đi, và trong suốt mấy tháng hè ấy, Lulu thường quanh quẩn gần nhà, cả buổi chiều hôm cũng như khi tảng sáng. Thậm chí cô nàng còn xuất hiện vào giữa trưa, trốn nắng dưới bóng rợp những mái lều.

Con của Lulu không hề sợ đàn chó, và để mặc chúng đánh hơi khắp người, nhưng nó chẳng thể quen được người bản xứ hay chính tôi, thành thử hễ bao giờ chúng tôi gắng chạm vào nó là hai mẹ con liền lẩn mất.

Bản thân Lulu, sau lần đầu bỏ nhà đi hoang, cũng không tới gần bất kì ai ở khoảng cách có thể chạm vào nó. Mặt khác Lulu lại rất thân thiện, hiểu chúng tôi thích nhìn đứa con, và sẵn lòng nhận viên đường từ một cánh tay đưa ra. Nó có thể bước đến cánh cửa phòng ăn rộng mở, thò đầu nhìn quanh quất không gian tranh tối tranh sáng trong các phòng, nhưng chẳng khi nào còn bước qua ngưỡng cửa ấy nữa. Lúc này đã mất cái chuông, Lulu luôn đến và đi trong thinh lặng.

Mấy gia nhân đề nghị cho họ bắt con non nhốt lại rồi nuôi như từng làm với Lulu. Song tôi nghĩ đó là lối hồi đáp thô lỗ trước niềm tin tốt đẹp nó đặt vào chúng tôi.

Ngoài ra, tôi nhìn nhận mối gắn kết tự nguyện giữa nhà tôi và con linh dương là điều hiếm hoi, đáng trân quý. Lulu đến từ hoang dã nhằm chứng tỏ chúng ta có thể sống thuận hòa cùng thế giới của nó và đưa nhà tôi hòa làm một vào cảnh sắc châu Phi khiến chẳng ai còn chỉ được ra đâu là điểm chỗ này kết thúc, đâu là chốn nơi kia bắt đầu. Lulu hẳn tỏ tường địa điểm có hang loài lợn rừng khổng lồ, hay từng thấy cảnh tê giác giao phối. Giữa rừng sâu châu Phi có giống cúccu hót vào chính ngọ những ngày oi nóng, tựa như tiếng trái tim xứ này thình thịch đập. Tôi chưa có phúc phận được mục kích loài chim ấy, cả những người quen của tôi cũng chưa ai từng được thấy, bởi vậy không ai có thể mô tả trông chúng ra sao. Song Lulu khéo chừng đã dạo bước trên lối mòn mướt xanh của loài hươu nai, bên dưới cành cây giống cúccu kia đậu. Tôi có đọc một cuốn sách về bà hoàng thái hậu Trung Hoa, chuyện Yahanola*, sau khi hạ sinh thái tử, lên kiệu vàng rời Tử Cấm Thành quay về thăm nhà. Tôi nghĩ, giờ căn nhà mình cũng giống nhà của cha mẹ nàng Yahanola dạo đó.

Hai linh dương, một lớn một nhỏ, quanh quẩn cạnh nhà tôi suốt mùa hè năm ấy; trừ đôi bận hai hoặc ba tuần chúng mới tới, còn ngày nào chúng tôi cũng được gặp hai mẹ con. Khi một mùa mưa mới lại về, mấy cậu gia nhân báo cho tôi Lulu đã trở về cùng một đứa con khác. Tôi không được tận mắt thấy con non này, bởi khi ấy chúng chẳng còn lại gần ngôi nhà nữa, nhưng sau này tôi có lần bắt gặp cả ba con linh dương quây quần bên nhau giữa rừng.

Tức bà Từ Hy.

Mối gắn kết giữa Lulu cùng gia đình nó với ngôi nhà tôi kéo dài trong nhiều năm. Lũ linh dương thường quanh quẩn trong khu vực phụ cận ngôi nhà, chúng từ rừng đi ra và trở vào đó như thể vùng đất của tôi là một bộ phận của miền hoang dã. Thời điểm linh dương thường kéo đến là buổi hoàng hôn; lúc đầu chúng như mấy cái bóng đen ẩn hiện giữa các thân cây ở vạt rừng tối, song khi bước ra ngoài ăn cỏ trên trảng trống gần nhà, dưới bóng chiều chạng vạng, bộ lông chúng lại ngời lên tựa đồng thau. Một con trong bọn là Lulu, do chỗ nó tiến gần ngôi nhà nhất, dạo quanh bình thản, tai vểnh lên mỗi khi có một chiếc xe chạy tới hay lúc chúng tôi mở một ô cửa sổ, và lũ chó biết nó. Theo thời gian, màu da Lulu dần sẫm hơn. Một bận, trở về cùng một người bạn, vừa đậu xe trước nhà tôi bắt gặp ba con linh dương đang vây quanh đống muối được rải cho lũ bò trên thềm gạch.

Điều kì lạ là ngoài Bwana của Lulu, con linh dương đực cao to, đứng nghển đầu dưới cây cửu lí hương hồi đầu, chẳng còn con đực nào khác tới nhà tôi. Có vẻ điều này có dây mơ rễ má đến một chế độ mẫu hệ trong rừng.

Các thợ săn và nhà tự nhiên học ở xứ thuộc địa này đã quan tâm đến đám linh dương của tôi. Nhân viên bảo vệ đông vật hoang dã cũng tới đồn điền xem xét và tận mắt thấy chúng. Có phóng viên đã viết về lũ linh dương trên tờ Người đưa tin Đông Phi .

Những năm được Lulu và gia đình nó ghé thăm là thời kì hạnh phúc nhất trong quãng đời ở châu Phi của tôi. Bởi thế, tôi đi đến việc nhìn nhận mối quan hệ với linh dương rừng già như một ân huệ lớn, một bằng chứng tình bạn từ Phi châu lục địa. Trọn vẹn xứ sở này nằm trong đó, những dấu hiệu tốt lành, những thỏa ước xưa cũ, có một khúc ca thế này:

“Hãy gấp lên hỡi người yêu dấu, hãy nhẹ bước như con hoẵng con nai, trên các ngọn núi trầm hương*.”

Trích The Song of Solomon (Nhã ca 8:14, Kinh Thánh).

Trong những năm cuối ở châu Phi, càng ngày tôi càng ít thấy Lulu và gia đình. Suốt cả một năm trước khi tôi rời khỏi xứ sở này, chúng chẳng ghé thăm dẫu chỉ một lần. Tháng ngày bãi bể nương dâu, vùng đất mạn nam đồn điền của tôi đã được giao cho nông dân và tại đó rừng bị đốn sạch, nhà cửa mọc lên. Những xe máy kéo chạy dọc ngang nơi vốn dĩ trước kia là đồng bãi. Nhiều dân định cư da trắng mới qua là các nhà thể thao hăng say và những tiếng súng trường chói tai cứ luôn đì đoàng giữa khung cảnh Phi châu. Tôi chắc thú săn đã rút cả về phía Tây, vào các cánh rừng trong Khu bảo tồn Masai.

Tôi chẳng rõ tuổi thọ linh dương là bao lâu, có lẽ Lulu cũng đã chết lâu rồi.

Nhiều khi, rất nhiều khi, trong những thời khắc yên tĩnh buổi rạng đông, tôi mơ nghe được tiếng chuông của Lulu để rồi trong giấc ngủ, tim tôi tràn trề niềm vui, và khi tỉnh dậy lại mong chờ một điều kì lạ và ngọt ngào sắp xảy đến, ngay lúc ấy. Sau đó nằm trên giường, nghĩ đến Lulu, tôi tự hỏi liệu giữa rừng nó có từng mơ thấy tiếng chuông. Liệu trong tâm trí nó, những hình bóng con người và bầy chó có bao giờ thoáng qua, như những bóng rợp trên mặt nước.

Nếu ta biết một bài hát của châu Phi, tôi nghĩ, về lũ hươu cao cổ, và vầng trăng non Phi châu trên lưng chúng, về những lưỡi cày trên đồng, về những khuôn mặt thợ hái cà phê nhễ nhại, liệu châu Phi có biết đến một bài hát về ta? Liệu bầu không khí lay động trên thảo nguyên có gợn lên sắc váy áo tôi, liệu đám trẻ có chế ra một trò chơi đặt tên tôi, liệu ánh trăng rằm vằng vặc rọi trên mặt sỏi đoạn đường xe chạy trước nhà có tạo ra cái bóng giống dáng tôi, liệu đàn đại bàng núi Ngong có lượn kiếm tìm tôi?

Chẳng còn nghe gì về Lulu từ độ rời khỏi xứ, nhưng tôi có nhận được tin Kamante và mấy cậu gia nhân. Cách đây độ một tháng, tôi nhận được lá thư mới nhất của Kamante. Song các thông điệp ấy đến với tôi dưới hình thức lạ lùng, phi thực, giống những cái bóng hay ảo ảnh hơn là tin tức thực tại cuộc sống.

Bởi Kamante không biết viết, và mù tịt tiếng Anh, khi cậu, hay những gia nhân khác, có ý muốn liên lạc với tôi, họ sẽ tìm tới một người Ấn hay người bản xứ hành nghề viết thư thuê đang ngồi bên một chiếc bàn có giấy bút và mực, ở ngoài bưu cục, rồi mô tả lá thư sẽ nói gì. Đám viết thuê chuyên nghiệp này cũng chỉ lõm bõm chút tiếng Anh, và hầu như chẳng tỏ cần phải viết ra sao, thế nhưng lại tự tin ta đây biết rành. Để khoe tài viết lách của mình, họ nhồi nhét vào lá thư vô số hoa hòe hoa sói khiến rất khó giải mã nó. Họ còn có thói viết bằng ba bốn thứ mực, mặc cho động cơ của việc này là gì chăng nữa nó gây ra ấn tượng người viết bị hết mực và đang phải chắt ra giọt cuối từ cả đống lọ. Tất thảy nỗ lực trên sản sinh ra một dạng thông điệp tưa tựa lời sấm đền Delphi*. Các bức thư bao hàm nỗi niềm sâu xa; bạn có thể cảm nhận trong đó một thông điệp sống còn đang đè nặng tâm tư người gửi, khiến anh ta cuốc bộ vượt cả chặng đường xa từ Khu bảo tồn Kikuyu ra tận bưu cục. Song lời nhắn nhủ này lại bị gói kín trong tăm tối. Mẩu giấy lấm lem, xấu xí vượt nhiều ngàn dặm để tới được tay bạn dường như gắng nói, thậm chí cố thét lên với bạn, nhưng lại chằng hề truyền tải được điều gì.

Tuy nhiên trong vấn đề này, cũng như hầu hết mọi vấn đề, ở Kamante có sự khác biệt. Cậu luôn có cách thức liên lạc riêng: bỏ cả ba hay bốn lá thư vào cùng một phong bì, đánh dấu Lá thư thứ nhất , Lá thư thứ hai , cứ vậy. Tất cả chúng đều cùng một nội dung, lặp đi lặp lại. Bằng cách viết cùng nội dung, có thể cậu muốn tạo một ấn tượng sâu đậm hơn, cách này cậu vẫn thường dùng, lúc chuyện trò trực tiếp, nhằm giúp tôi tập trung hiểu hoặc ghi nhớ một điều cụ thể. Cũng có thể Kamante thấy khó mà không lặp đi lặp lại khi đang phải gắng truyền tin tới một người bạn qua cả khoảng cách vời vợi nhường ấy.

Đền thờ thần Apollo tại Hi Lạp, tương truyền là nơi các nữ tiên tri (Pythia) truyền giảng những lời sấm rất mập mờ khó hiểu của thần Apollo.

Kamante thông báo đã lâu không còn được ai thuê mướn nữa. Tôi chẳng hề ngạc nhiên khi nghe tin này, bởi cậu thực sự là món trứng cá với đại chúng*. Tôi đã đào luyện ra một đầu bếp hoàng cung để rồi bỏ lại nơi xứ thuộc địa mới khai phá. Trường hợp của cậu giống như chuyện câu thần chú “Vừng ơi mở ra”. Giờ câu thần chú ấy bị lãng quên và cánh cửa đá giữ kho báu đã đóng chặt. Chẳng ai thấy tay bếp cừ khôi đầy hiểu biết, bước đi trong trầm mặc, mà chỉ nhìn ra một chú bé Kikuyu chân vòng kiềng, một chú lùn có khuôn mặt bẹt, vô cảm.

Kamante đã nói những gì khi cuốc bộ tới Nairobi, đứng trước tay viết thuê tham lam, ngạo mạn người Ấn, hầu giãi bày ngọn ngành về bức thông điệp sẽ đi nửa vòng Trái Đất. Những dòng chữ rồng rắn lên xuống, câu cú lộn xộn rối rắm. Nhưng Kamante có một tâm hồn lớn mà người hiểu cậu sẽ vẫn nghe được ra âm điệu trong thứ âm nhạc khê khàn loạn nhịp, thậm chí chỉ như âm vọng tiếng đàn môi chàng chăn cừu David*.

Đây là một “Lá thư thứ hai”:

“Cháu đã không quên cô, Memsahib * ạ. Memsahib đáng tôn kính. Giờ đây tất thảy người làm của cô họ không bao giờ vui vẻ nữa bởi cô đang từ đất nước đó. Nếu là chim chúng cháu sẽ bay đến gặp cô. Rồi quay về. Đồn điền cũ của cô từng là địa điểm tốt cho bò bê người da đen. Giờ mọi người chẳng có bò dê cừu chẳng gì hết. Giờ trong tim tất tật lũ người xấu đều vui sướng vì kẻ ăn người làm của cô thành ra người nghèo. Giờ Chúa biết trong tim Người toàn bộ điều này ngõ hầu một lúc nào giúp đỡ người làm của cô.”

Nguyên văn: caviare to the general - lấy từ câu thoại trong vở Hamlet của Shakespeare: twas caviar to the general .

Tích David và Goliath trong Kinh Thánh.

Tiếng Ấn, dùng chỉ một thiếu phụ quyền quý.

Và trong một “Lá thư thứ ba” Kamante cho thấy cách người bản xứ nói những lời lẽ tốt đẹp với bạn:

“Hãy viết và báo tin cho chúng cháu nếu cô quay lại. Bọn cháu nghĩ cô quay lại. Nguyên do vì sao? Chúng cháu nghĩ cô chẳng bao giờ có thể quên bọn cháu. Nguyên do vì sao? Chúng cháu nghĩ cô vẫn còn nhớ mặt bọn cháu, nhớ tên mẹ của bọn cháu.”

Một người da trắng, khi muốn bày tỏ tình cảm dành cho bạn sẽ viết: Tớ không bao giờ quên cậu.” Người châu Phi họ lại nói: Chúng tôi không nghĩ về bạn như một người lúc nào đó có thể lãng quên chúng tôi.”

« Lùi
Tiến »