Có một năm các trận mưa dầm không về.
Nó là kí ức thê thảm, khủng khiếp mà nông phu đã sống qua sẽ chẳng thể nào quên. Nhiều năm sau, giữa một địa phương xa châu Phi hàng vạn dặm, trong khí hậu ẩm ướt phương Bắc, anh sẽ choàng tỉnh giữa đêm bởi tiếng lộp độp của một trận mưa rào bất chợt, và kêu lên, “Mưa rồi, cuối cùng cũng mưa rồi.” Bình thường những cơn mưa dầm bắt đầu vào tuần cuối tháng Ba và kéo dài tới trung tuần tháng Sáu. Càng gần mùa mưa, khí hậu mỗi ngày một nóng và khô hơn, cả đất trời hầm hập giống ở châu Âu trước một cơn bão lớn, có điều gay gắt hơn.
Đây là lúc bộ tộc Masai, láng giềng bên kia sông của chúng tôi, châm lửa đốt thảo nguyên khô nỏ để có các thảm cỏ biếc cho bầy gia súc khi những trận mưa đầu mùa kéo tới. Cùng ngọn lửa, bầu không khí miền đồng thảo cũng nhảy múa, các lớp khói xám trải dài và nhuốm sắc cầu vồng lan tỏa cuồn cuộn trên cỏ; sức nóng cùng mùi cháy khét như từ bếp lò phả tận tới vùng đất đai canh tác của chúng tôi.
Những đám mây khổng lồ tụ lại rồi lại tan biến trên bầu trời; một cơn mưa lắc rắc nơi xa tít vạch nên đường xiên chéo xanh nhạt phía chân trời. Vạn vật chỉ có một ý niệm.
Vào buổi chiều hôm, ngay trước lúc vầng dương khuất dạng, cảnh vật xung quanh vây lấy bạn, rặng sơn mạch trở nên gần gặn hơn, hùng vĩ và uy nghi trong sắc lơ thẩm và xanh lá ngời ngời của nó. Vài giờ đồng hồ sau, bạn bước ra ngoài, sao trời đã đi đâu cả, và bạn cảm thấy trời đêm dịu dàng, thăm thẳm kia đang thai nghén món quà cứu tế.
Khi có tiếng hú gấp gáp quẩn quanh giữa không trung thì đó là gió trên ngọn cao cây rừng, chứ không phải mưa. Khi tiếng ù ù vang khắp bốn bể thì đó là gió trong những bụi cây và đám cỏ mọc cao, chứ không phải mưa. Khi tiếng rào rào hay soán soạt nổi lên trên mặt đất thì đó là gió trong các nương ngô, nơi ấy tiếng khua đông rất giống tiếng mưa khiến bạn cứ nhầm hết lần này tới lần khác, thậm chí còn thấy lòng phơi phới, như rốt cuộc sắp được thưởng ngoạn trên sân khấu một tiết mục mong mỏi đã lâu, chứ không phải mưa.
Song lúc Trái Đất đáp lời, giống một tấm hướng âm, bằng giọng gầm sâu thẳm tốt tươi và cả thế gian quanh bạn, ở mọi hướng cũng như phía trên phía dưới, đều cất tiếng ca, thì đó là mưa. Nó giống việc được quay về với Biển sau cả thời gian dài xa cách hay như vòng tay ôm siết của tình nhân.
Nhưng có một năm những cơn mưa dầm không kéo về. Sự thể như thể lúc này toàn bộ vũ trụ ngoảnh mặt đi với bạn. Trời mát mẻ hơn, một vài ngày thậm chí còn lạnh, tuy nhiên không có chút dấu vết hơi ẩm nào trong không khí. Mọi thứ trở nên khô và cứng hơn, tựa như tất thảy sinh lực và nét duyên dáng đã thoái lui khỏi thế giới. Đó không phải dạng thời tiết tốt hay xấu mà là thứ trái ngược mọi loại thời tiết, chẳng khác nào thời tiết đã bị trì hoãn không hẹn ngày tái ngộ *. Một làn gió vô vọng, hiu hiu thoảng trên đầu bạn, màu sắc cảnh vật phai nhạt đi; cả mùi hương cũng rời bỏ các cánh đồng và rừng cây. Cảm giác đang phải sống trong cơn ghẻ lạnh của thần linh đè nặng lên bạn. Ở đằng Nam, các thảo nguyên khô cháy nằm hoang tàn, đen đúa với những vệt tro dài màu xám và trắng.
Ngày lại ngày, chúng tôi chờ đợi cơn mưa trong vô vọng và những viễn cảnh mai sau cũng như niềm hi vọng của đồn điền càng lúc càng mờ mịt, rồi tan biến. Mọi cực nhọc cày bừa, tỉa cây, trồng cấy trong những tháng ngày qua thành ra công sức của lũ ngốc. Công việc đồn điền dần đình đốn rồi ngừng trệ hoàn toàn.
Trên thảo nguyên cũng như trong rặng núi, các nguồn nước đều cạn khô, và nhiều loài vịt và ngỗng mới lạ tìm tới đầm nước của tôi. Còn tại một cái đầm khác nằm ở rìa đồn điền, vào những sớm tinh mơ hay lúc hoàng hôn, ngựa vằn đi thành một hàng dài cả hai ba trăm con kéo đến uống nước; các chú ngựa con, nép sát vào mẹ, chẳng hề hãi sợ gì khi tôi cưỡi ngựa len lỏi giữa chúng. Nhưng vì quyền lợi lũ gia súc đồn điền, chúng tôi luôn cố xua chúng đi xa, bởi nước các ao đầm đang cạn dần. Ngay cả thế đi nữa, đây vẫn là địa điểm thật dễ chịu bởi các bụi cói mọc từ bùn làm nên cả vạt xanh giữa khung cảnh tứ bề rặt một màu nâu.
Người bản xứ trở nên câm lặng dưới cái hạn, tôi chẳng thể moi nổi ở họ dù chỉ một từ về viễn cảnh tương lai dẫu bạn sẽ nghĩ họ hẳn phải biết nhiều hơn ta về các dấu hiệu thời tiết. Sự tồn tại của họ đang lâm nguy, mất chín phần mười đàn gia súc trong các năm đại hạn chẳng phải chuyện chưa từng nghe thấy hay chưa từng xảy ra với cha ông họ. Shamba của họ khô nẻ, chỉ còn lơ thơ ít khoai lang hay ngô đã héo rũ.
Tiếng Latinh trong nguyên tác: Sine die .
Sau một thời gian tôi cũng học được cung cách của người bản xứ và thôi kể lể hay than thở về tình trạng khốn đốn hiện tại, giống như một kẻ bị ruồng bỏ. Nhưng tôi là dân châu Âu, lại ở đất nước này chưa đủ lâu để hấp thụ dạng tâm tính hoàn toàn cam chịu như dân bản địa hay của một số người châu Âu sống qua nhiều thập niên tại đây. Tuổi trẻ cùng bản năng tự vệ khiến tôi, nếu còn chưa bị cuốn trong đám bụi đường đồn điền hay bay theo làn khói thảo nguyên, phải quyết dồn năng lượng của mình vào thứ gì đó. Tôi khởi sự cắm cúi viết những truyện thần tiên và lãng mạn vào các buổi tối, để đẩy tâm trí mình đi xa, tới những miền đất, thời đại khác. Tôi có đem vài truyện trong số này kể cho một người bạn tới nghỉ lại ở đồn điền. Khi tôi đứng lên bước ra hiên, có một cơn gió dữ đang thổi bên ngoài, trời trong và được nạm bằng muôn vì sao sáng, vạn vật khô khốc.
Hồi đầu chỉ viết lách vào ban tối, về sau tôi thường ngồi sáng tác cả vào buổi sáng, khoảng thời gian lẽ ra phải có mặt trên ruộng đồng. Ngoài đó, thật nan giải khi phải quyết định cày hết nương ngô lên rồi trồng lại, hay có nhất thiết vặt bỏ trái cà phê đã héo rũ để cứu cây chăng. Ngày lại ngày, tôi trì hoãn đưa ra các quyết định.
Tôi thường ngồi làm việc tại phòng ăn, bên đống giấy má la liệt trên bàn, bởi xen giữa truyện đang viết, tôi còn phải làm sổ sách đồn điền, xem xét các dự toán, trả lời mấy tin nhắn ngắn ngủi, ảm đạm từ viên quản lí. Mấy cậu gia nhân hỏi tôi đang làm gì, khi nghe bảo tôi đang thử viết một cuốn sách, họ nhìn nhận đó như nỗ lực tối hậu hòng vực đồn điền qua giai đoạn chông gai này, rồi trở nên hứng thú với nó. Sau đó họ hỏi thăm sách đã làm tới đâu, và sẽ vào phòng đứng rất lâu ngóng xem tiến độ. Vào những buổi tối, trong gian phòng ốp gỗ ấy, đầu các gia nhân tiệp với màu sậm ván tường đến độ dường như chỉ còn mấy tấm áo choàng trắng lốp đính trên tường bầu bạn cùng tôi.
Phòng ăn của tôi nằm ở chái Tây, có ba cửa sổ rộng trông ra thềm gạch, trảng cỏ vườn nhà và cánh rừng. Mặt đất thoai thoải dốc xuống dòng sông, ranh giới giữa tôi và tộc người Masai. Dẫu từ nhà chẳng thấy được con sông, nhưng bạn vẫn có thể lia mắt theo nét uốn khúc của nó dựa vào hàng cây keo cao lớn, xanh tốt, mọc đôi bờ. Sang tới bên kia, vùng đất rừng lại nâng cao dần, và phía sau cánh rừng là miền đồng thảo xanh rì, rộng lớn trải dài tận tới chân rặng Ngong.
“Giả như đức tin tôi đủ mạnh để khiến núi phải chuyển dời thì ngọn núi tôi muốn dời tới đây chính là núi Ngong*.”
Gió thổi từ hướng Đông nên các cánh cửa phòng ăn khuất gió và luôn để ngỏ. Đây cũng là lí do người bản xứ ưa chái Tây ngôi nhà; họ luôn vòng qua mé này để ngó nghiêng những gì diễn ra bên trong. Cũng cùng lí do trên, các chú bé mục đồng bản xứ thường xua đàn dê qua chái Tây rồi để chúng gặm cỏ trên trảng cỏ trong vườn.
Ngài đáp rằng: Ấy là tại các ngươi ít đức tin: vì ta nói thật cùng các ngươi, nếu các ngươi có đức tin bằng một hột cải, sẽ khiến núi này rằng: Hãy dời đây qua đó, thì nó liến dời qua, và không có sự gì mà các ngươi chẳng làm được (Trích Kinh Phúc Âm, Matthew 17:20).
Bầy trẻ mục đồng lang thang khắp đồn điền, cùng bầy dê cừu đang đi tìm cỏ của cha chúng, phần nào đã là chiếc cầu nối giữa cuộc sống trong ngôi nhà văn minh của tôi và cuộc sống hoang dã bên ngoài. Đám gia nhân chẳng tin và cũng không thích chúng bước vào các phòng, nhưng lũ trẻ thật sự yêu và háo hức trước nền văn minh; với chúng văn minh chẳng hề chứa đựng mối hiểm nguy nào, bởi chúng có thể rời khỏi nó bất cứ khi nào muốn. Với chúng, biểu tượng trung tâm của nó là chiếc đồng hồ cúc cu cũ của Đức treo ở phòng ăn. Một chiếc đồng hồ tuyệt đối là thứ xa xỉ phẩm nơi cao nguyên châu Phi. Căn cứ vào vị trí mặt trời, quanh năm suốt tháng bạn luôn có thể đoán biết hiện là mấy giờ, và bởi không có việc gì liên quan tới tàu hỏa, lại tùy ý thu xếp cuộc sống đồn điền, đồng hồ thành ra chẳng còn quan trọng gì nữa. Song đó là một chiếc đồng hồ tuyệt đẹp. Từ giữa chùm hoa hồng, cứ mỗi tiếng đồng hồ; một chú chim cu lại đẩy tung cánh cửa nhỏ nhào ra kêu váng lên báo giờ. Lần nào sự xuất hiện của nó cũng làm đám trẻ đồn điền vui sướng. Chúng dựa theo mặt trời phán đoán chính xác được thời điểm đồng hồ báo chính ngọ, và cứ mười hai giờ thiếu mười lăm tôi lại thấy cả lũ lau nhau xua đàn dê chúng không được phép bỏ lại, tiến về ngôi nhà từ mọi hướng. Đầu trẻ và đầu dê rẽ bụi rậm và cỏ rừng mọc ngút ngàn giống đầu ếch nhái rẽ nước ao chuôm.
Chúng bỏ lại bầy gia súc nơi trảng cỏ vườn và im lìm tiến vào nhà trên những bàn chân trần; đứa lớn quãng mười tuổi còn nhỏ nhất chỉ chừng hai. Cả bọn cư xử ngoan ngoãn, tuân thủ một thứ lễ nghi chúng tự định ra cho các cuộc thăm viếng: đó là có thể di chuyển tự do trong nhà với điều kiện không chạm vào thứ gì, không ngồi xuống hoặc phát ngôn trừ phi được hỏi. Khi con chim lao ra, một trạng thái ngất ngây và những tiếng cười cố nén lan trong cả đám. Đôi khi có một chú mục đồng nhỏ xíu, chẳng nhận thức được chút trách nhiệm nào với lũ dê, ngay tảng sáng đã một mình trở lại đứng hồi lâu trước chiếc đồng hồ, khi ấy còn đóng chặt và yên lặng, ê a tỏ bày tình yêu với nó bằng tiếng Kikuyu rồi nghiêm trang lui bước ra ngoài. Các gia nhân cười bầy trẻ mục đồng và giải thích cho tôi lũ trẻ quá ngờ nghệch đến nỗi tin con chim đó sống.
Giờ tới lượt chính mấy cậu gia nhân cũng vào xem hoạt động của chiếc máy chữ. Buổi tối, có những bận Kamante đứng dán lưng vào tường cả tiếng đồng hồ, đôi mắt cậu đưa qua đưa lại như hai viên kẹo đen dưới hàng mi, như thể định nghiên cứu kĩ càng chiếc máy đến độ có thể tháo tung ra thành nhiều mảnh rồi đem lắp lại.
Một tối, khi ngẩng lên tôi bắt gặp cặp mắt thăm thẳm đầy chăm chú ấy và sau một thoáng cậu nói: “ Msabu có thực sự tự tin sẽ viết được một cuốn sách không?”
Tôi đáp nào biết được.
Để mường tượng ra việc trò chuyện với Kamante, bạn hãy, trước chỉ mỗi dăm ba từ nhát gừng, chèn thêm vào một khoảng im lặng kéo dài, đầy ý nghĩa và trách nhiệm. Người bản xứ đều là các bậc thầy trong nghệ thuật ngắt đoạn dạng đó và bằng cách này bày tỏ quan điểm về cuộc đối thoại.
Giờ Kamante cũng làm ra khoảng ngưng bặt lâu như thế rồi bảo: “Cháu thì không tin chuyện ấy.”
Chẳng còn ai khác để bàn về cuốn sách, tôi bỏ trang bản thảo xuống rồi hỏi cậu nguyên cớ gì mà nói vậy. Té ra Kamante đã suy nghĩ và chuẩn bị cho chuyện này; cậu giấu sẵn pho Odyssey* sau lưng, và tới lúc đó đặt nó lên bàn.
“ Msabu xem đi,” cậu nói, “đây là một cuốn sách tốt, trang này đính chặt trang kia từ đầu chí cuối. Thậm chí nếu cô giơ lên rũ mạnh, nó cũng chả bung ra. Cái ông soạn ra sách này thật thông thái. Còn thứ cô đang soạn,” cậu tiếp tục, vẻ khinh miệt pha kiểu xót thương thân tình, “chỗ đây mấy tờ và kia mấy tờ. Khi ai đó quên đóng cửa là sách bay tứ tung, thậm chí rơi cả xuống sàn nhà làm cô bực mình. Nó đâu thể nào là một cuốn sách tốt cơ chứ.”
Tôi giải thích ở châu Âu người ta sẽ có thể sắp xếp mọi thứ lại với nhau.
“Sách của cô liệu có nặng được như cuốn này không?”Kamante hỏi, tay ước lượng cuốn Odyssey.
Thấy tôi lưỡng lự, cậu trao sách cho tôi tự xem xét.
Bản trường ca về người anh hùng Hi Lạp cổ đại Odysseus.
“Không,” tôi nói, “sách của tôi sẽ không nặng bằng, song trong thư viện, như cháu biết đấy, có cả các cuốn còn nhẹ hơn.”
“Và cũng cứng chắc ngang ngửa chứ?” cậu hỏi.
Tôi đáp để làm ra cuốn sách cứng chắc tương đương sẽ tốn nhiều tiền.
Kamante đứng lặng hồi lâu rồi bày tỏ một niềm hi vọng lớn hơn về cuốn sách của tôi, và có lẽ cả nỗi hối hận cho những hồ nghi của mình, bằng việc nhặt mấy trang bản thảo vương vãi trên sàn, đặt chúng lên bàn. Cậu vẫn chưa bỏ đi mà đứng cạnh bàn chờ đợi, rồi lại nghiêm trang hỏi: “ Msabu , trong các cuốn sách có thứ gì vậy?”
Để giải thích tôi kể cho Kamante câu chuyện trong Odyssey về người anh hùng và tên khổng lồ Polyphemus, cũng như chuyện Odysseus tự xưng là Không Có Ai , đã chọc mù mắt Polyphemus và bám dưới bụng con cừu đực đào tẩu ra sao.
Kamante thích thú lắng nghe, bình phẩm con cừu đực đó hẳn cũng giống cừu của ông Long vùng Ehnentaita mà cậu đã thấy tận mắt ở hội chợ triển lãm gia súc tổ chức tại Nairobi. Rồi cậu quay lại với Polyphemus, hỏi gã có đen như người Kikuyu chăng. Khi tôi đáp không, cậu muốn biết Odysseus có thuộc bộ tộc hay gia đình nhà tôi không.
“Thế Odysseus,” Kamante nói, “phát âm cái tên Không Có Ai bằng tiếng của anh ta như thế nào? Cô nói thử đi.”
“ Outis *,” tôi đáp. “Anh ta xưng là Outis, trong thứ tiếng ấy nghĩa là Không Có Ai.”
Tiếng Hi Lạp.
“Hẳn cô cũng đang soạn một câu chuyện giống thế hả?” Kamante căn vặn tôi.
“Không,” tôi bảo, “người ta có thể viết bất cứ thứ gì mình muốn. Ví như cô có thể viết về cháu.”
Từ đầu tới giờ luôn cởi mở, đến đây Kamante bỗng dưng rụt lại, đưa mắt nhìn xuống thân thể mình, đoạn hạ giọng hỏi tôi định viết về phần nào của cậu.
“Chẳng hạn chuyện cháu bị bệnh, dạo ở ngoài thảo nguyên cùng đàn cừu,” tôi bảo, “cháu nghĩ sao?”
Cậu đảo mắt khắp phòng, hết ngước lên lại nhìn xuống, cuối cùng mập mờ đáp: “ Sejui ” - cháu không biết.
“Hồi đó cháu sợ à?” tôi hỏi cậu.
Sau một lúc ngắt quãng, cậu trả lời dứt khoát: “Vâng, đứa trẻ nào trên thảo nguyên cũng có lúc sợ.”
“Cháu sợ điều gì?” tôi hỏi.
Kamante đứng yên lặng một thoáng, gương mặt trở nên tập trung và sâu kín, ánh mắt như đang nhìn vào trong tâm mình. Rồi cậu quay sang tôi, hơi nhăn mặt:
“Sợ Outis ,” cậu đáp. “Lũ trẻ thảo nguyên đều sợ Outis ”
Vài ngày sau, tôi nghe thấy Kamante giảng giải cho mấy gia nhân chuyện các trang sách tôi đang viết có thể được đính lại với nhau ở châu Âu, và nếu chi bộn tiền thì thậm chí có thể khiến sách rắn chắc ngang quyển Odyssey, khi nói tới đây cuốn Odyssey lại được đem ra cho mọi người tham khảo. Tuy nhiên, Kamante tỏ ý chẳng tin họ có thể làm sách của tôi cũng có màu xanh da trời.
Kamante sở hữu một biệt tài rất đắc dụng cho cậu khi sống trong nhà tôi. Đó là cậu có thể khóc, tôi tin chắc vậy, bất cứ khi nào muốn.
Lúc nào bị tôi nghiêm khắc quở mắng, cậu đứng thẳng như phỗng, ngây độn ngó mặt tôi, vẻ chăm chú và buồn bã tận gan ruột, thứ sắc diện người bản xứ tạo được chỉ trong tích tắc; sau đó mắt cậu rưng rưng và nước mắt, hết giọt này tới giọt khác, sẽ ứa ra, lăn trên gò má. Tôi biết đó thuần túy chỉ là nước mắt cá sấu, và nếu những người khác làm vậy sẽ chẳng thể tác động mảy may đến tôi. Nhưng trường hợp Kamante lại khác. Khuôn mặt bèn bẹt, đần ra kia, những khi đó, lại sa xuống cái thế giới tối tăm, lẻ loi vô bờ cậu từng trú ngụ nhiều năm. Hẳn cậu đã nhỏ những giọt nước mắt to, câm lặng ấy giữa thảo nguyên, có lũ cừu vây quanh, tự hồi còn bé xíu. Những giọt nước mắt ấy khiến tôi day dứt, và khoác cho các tội lỗi đang bị trách mắng kia một diện mạo khác, biến chúng thành ra nhỏ nhặt, làm cho tôi chẳng còn lòng dạ nào tiếp tục đả động tới nữa. Từ một góc độ nhất định, điều này quả có gây thất vọng. Tuy nhiên tôi vẫn tin chắc, bằng vào sức mạnh cảm thông giữa con người với con người của hai chúng tôi, thâm tâm Kamante biết tôi nhìn thấu những giọt nước mắt hối lỗi ấy và không coi chúng nặng hơn giá trị của chính chúng, thực ra bản thân cậu cũng coi đó như thứ nghi thức trước các thế lực mạnh mẽ hơn chứ chẳng phải một trò điêu trá.
Kamante thường đề cập tới bản thân như một người Thiên Chúa giáo. Không rõ cậu gán cho danh xưng ấy ý nghĩa gì, nhưng vài phen tôi thử dạy giáo lí theo lối hỏi-đáp cho Kamante thì được giải thích rằng cậu cũng tin thứ tôi tin thế nên, bởi tôi phải biết bản thân mình tin vào gì, việc truy vấn cậu chẳng còn ý nghĩa gì nữa. Tôi nhận ra lời đáp này còn hơn một nỗ lực lảng tránh, nó ít nhiều là một cương lĩnh hay tuyên tín cụ thể. Đã nộp mình phục sự vị Chúa của người da trắng, Kamante xác định sẽ thực thi bất cứ mệnh lệnh nào nhưng cậu không nguyện lãnh trách nhiệm chứng minh tính hợp lí của cả hệ thống bởi biết đâu nó cũng vô lí như các hệ thống khác của dân da trắng. Thi thoảng, khi có những bất đồng giữa lối cư xử của tôi và các răn dạy ở Hội truyền giáo Scotland, nơi cậu được cải đạo, Kamante bèn hỏi tôi bên nào phải.
Việc người bản xứ không hề mang thiên kiến là thực tế gây sửng sốt, do chỗ bạn cứ ngỡ sẽ gặp các kiêng kị u tối ở những con người man sơ này. Tôi tin đó là bởi họ quảng giao với các chủng tộc và bộ lạc khác nhau, và bởi dân bản xứ Đông Phi tiếp xúc nhiều, đầu tiên là các nhà buôn ngà voi và nô lệ xưa, rồi trong thời đại chúng ta là dân khai khẩn cùng thợ săn đại thú người da trắng. Hầu hết người ở đây, kể cả trẻ mục đồng trong thảo nguyên, đều từng giáp mặt đủ loại dân tứ xứ: người Anh, người Do thái, người Boer*, người Ả Rập, người Somali gốc Ấn, người Swaheli*, người Masai và Kawirondo* - tất thảy đều bất đồng và cũng rất khác biệt họ, như người đảo Sicily so với dân Eskimo vậy. Người bản xứ lịch duyệt hơn dân khẩn hoang có gốc gác ngoại ô hay tỉnh lẻ hoặc dân truyền giáo từng lớn lên trong một cộng đồng thuần nhất với một hệ quan điểm bất biến. Phần nhiều những hiểu lầm giữa dân da trắng và người bản xứ phát sinh từ thực tế này.
Việc người bản xứ coi bạn là đại diện của Thiên Chúa giáo là dạng trải nghiệm gây nhiều thấp thỏm, hoang mang.
Một thanh niên Kikuyu tên Kitau, từ trong Khu bảo tồn Kikuyu tới làm cho tôi. Đấy là một chàng trai hay tư lự, một gia nhân tinh ý và ân cần khiến tôi khá hài lòng. Một ngày nọ, sau ba tháng làm việc, Kitau đề nghị tôi viết một lá thư giới thiệu để anh đến làm cho ông bạn già Ali bin Salim, thủ hiến vùng duyên hải, sống tại Mombasa*mà anh từng gặp tại nhà tôi. Chẳng muốn Kitau bỏ đi lúc vừa quen việc, tôi nói sẽ tăng lương cho anh. Không, anh ta bảo, tôi đi không phải để kiếm đồng lương cao hơn, mà bởi không thể ở lại dược nữa. Kitau kể rằng anh đã quyết, từ hồi còn sống trong Khu bảo tồn, là mình sẽ trở thành một người Thiên Chúa giáo hoặc Hồi giáo, chỉ có điều chưa rõ theo đạo nào. Bởi vậy anh tới đây làm cho tôi, vì tôi là người Thiên Chúa giáo, để sống trong nhà tôi ba tháng hầu quan sát testude - cung cách và thói quen - của người Thiên Chúa giáo. Tiếp theo anh sẽ đến sống ba tháng với thủ hiến Ali ở Mombasa và nghiên cứu testude của người Hồi giáo; rồi anh ta sẽ quyết định. Thậm chí Đức Tổng giám mục, tôi tin chắc, khi thấy những sự thật như vậy phơi bày trước mắt, cũng sẽ phải thốt lên, hay chí ít là nghĩ, như tôi từng khi ấy: “Lạy Chúa, Kitau ơi, lẽ ra anh phải nói điều này với tôi ngay từ dạo mới đến chứ.”
Người Nam Phi da trắng có gốc gác là dân Hà Lan sống tại châu Phi từ thế kỷ XVI.
Dân châu Phi sống chủ yếu ở Kenya, Tanzania, Mozambique.
Tộc người sống quanh vịnh Kavirondo (nay là Winam) thuộc châu Phi.
Thành phố phía Nam ven Ấn Độ Dương, lớn thứ hai ở Kenya (sau Nairobi).
Người Hồi giáo không ăn thịt các con vật không được một người Hồi giáo cắt cổ theo cách thức chính thống. Lề luật này thường là trở ngại trong các chuyến đi săn dài ngày, khi bạn chỉ mang theo được một lượng nhỏ nhu yếu phẩm, còn thực phẩm cho người làm phải dựa vào nguồn thịt thú bắn được. Khi bạn hạ gục một con linh dương, những người làm Hồi giáo sẽ phóng như bay tới, để kịp cắt cổ trước khi nó chết, còn bạn hồi hộp quan sát họ, bằng cặp mắt cháy bỏng, bởi nếu họ đứng thõng tay gục đầu cạnh con vật, nghĩa là con linh dương đã đi tong trước khi họ tới kịp, và bạn sẽ phải tìm con linh dương khác, hoặc các phu vác súng cho bạn sẽ chết đói.
Dạo chiến tranh vừa nổ ra*, vào buổi tối trước ngày cùng đoàn xe bò kéo khởi hành, tôi tình cờ được diện kiến vị hoàng thân Hồi giáo ở Kijabe* và có thỉnh cầu ngài, nếu có thể, hãy miễn trừ luật lệ này cho đoàn người của tôi trong chuyến đi sắp tới.
Tác giả nói tới cuộc chiến trên chiến trường Đông Phi trong chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914-1918) giữa liên quân do Anh đứng đầu và quân Đức.
Thị trấn cách Nairobi chừng 50 km về phía Tây Bắc.
Đức hoàng thân còn thanh niên, nhưng khôn ngoan, và ngài tiếp chuyện Farah và Ismail rồi phán rằng: “Quý công nương đây là môn đồ của Jesus Christ. Khi bóp cò súng trường của mình, công nương sẽ nói, hay chí ít trong tim bà ấy sẽ nói: nhân danh Chúa, điều đó khiến các viên đạn của công nương tương đương lưỡi dao của người Hồi giáo chính thống. Trong suốt cuộc hành trình, các anh có thể ăn thịt những con vật mà quý công nương bắn được.”
Uy tín đạo Thiên Chúa ở châu Phi sa sút do các giáo phái trong nội bộ thiếu khoan dung lẫn nhau.
Vào các đêm Giáng Sinh ở châu Phi, tôi thường đánh xe tới Hội truyền giáo Pháp quốc để dự Thánh Lễ Nửa Đêm. Thời tiết độ đó thường oi bức, khi xe đi xuyên qua rừng keo, bạn đã nghe thấy tiếng chuông của Hội truyền giáo văng vẳng từ xa trong không khí trong lành, nóng nực. Lúc xe tới nơi, một đám đông hân hoan, náo nhiệt đã tập hợp quanh ngôi giáo đường: các chủ hàng quán người Pháp và Ý tại Nairobi cùng gia đình đã tề tựu; tốp mấy xơ ở trường học của tu viện nữ cũng có mặt, và cộng đồng con chiên bản xứ xúng xính trang phục sặc sỡ nữa. Nhà thờ xứ to đẹp sáng bừng bởi hàng trăm ngọn nến cùng nhiều tấm phim màu tuyệt đẹp do các cha cố tự tay làm rồi đem dán lên kính cửa sổ.
Năm đầu Kamante về sống ở nhà tôi, tới Giáng Sinh tôi bảo sẽ mang cậu theo dự lễ, với tư cách một giáo hữu Thiên Chúa giáo, rồi mô tả cho nghe những thứ đẹp đẽ sẽ được thấy ở đó, theo kiểu các cha cố thường giảng giải. Kamante lắng nghe ngọn ngành, vẻ háo hức, rồi đi đóng bộ cánh đẹp nhất. Song lúc chiếc xe đón đã đỗ trước cửa thì Kamante quay trở ra, thái độ cực kì bất an, thông báo chẳng thể nào đồng hành cùng tôi được. Dẫu cậu chẳng muốn nêu lí do, và lảng tránh các câu hỏi nhưng rốt cuộc vấn đề cũng sáng tỏ. Không, cậu ngàn vạn lần chẳng thể tới đó bởi giờ cậu nhận ra nơi tôi định đưa cậu tới là Hội truyền giáo Pháp, địa điểm hồi còn ở bệnh xá họ đã cực lực cảnh báo cậu. Tôi giảng giải đấy hoàn toàn chỉ là sự hiểu nhầm, cậu nhất thiết phải tới đấy. Nghe thấy vậy Kamante hóa đá trước mắt tôi, cậu chết điếng, mắt trợn trừng chỉ còn lòng trắng, mồ hôi tứa ra trên mặt.
“Không, không được đâu Msabu,” cậu lí nhí, “cháu sẽ không đi với cô đâu. Bên trong cái nhà thờ to tướng ấy, cháu biết rành quá mà, có một Msabu mbaia sana ,” - vô cùng xấu xa.
Tôi rất phiền lòng khi nghe vậy, nhưng bụng bảo dạ phải quyết kéo Kamante cùng đi để cậu được chính Đức mẹ đồng trinh khai sáng. Các cha cố có một bức tượng Đức mẹ làm từ giấy bồi, to ngang kích cỡ người thật, sơn phủ màu thiên thanh và trắng, đặt trong thánh đường và người bản xứ thường bị các bức tượng thu hút trong khi họ lại rất khó thẩm thấu ý tưởng một bức tranh. Tôi hứa sẽ bảo vệ Kamante rồi đưa cậu đi cùng, và ngay khi theo sát gót tôi bước vào nhà thờ, cậu liền quên ráo những nghi ngại của mình. Tình cờ đó lại là thánh lễ Giáng Sinh tuyệt nhất được cử hành từ trước tới giờ ở Hội truyền giáo này. Thánh đường có một hang Bê-lem lớn - hang Chúa sinh ra đời, gồm cả Thánh gia*, vừa tận Paris chuyển qua, được chiếu rọi bằng muôn sao lấp lánh trên trời xanh, xung quanh là hàng trăm món đồ chơi hình con vật như đàn bò bằng gỗ, bầy cừu bằng những nùi bông trắng muốt, và chẳng quản đến chuyện vặt vãnh liên quan đến kích cỡ, chúng hẳn khơi gợi được niềm ngất ngây trong con tim Kikuyu.
Gồm thánh Giuse, Đức mẹ Maria và Chúa Giêsu.
Sau khi trở thành giáo hữu Thiên Chúa giáo, Kamante không còn sợ động vào xác chết nữa. Trước đó cậu ghê sợ việc này, và khi có một người được cáng về thềm nhà tôi rồi chết tại đấy, Kamante giống những người khác, tuy chẳng lảng ra ngoài trảng cỏ như họ nhưng cũng không hề góp một tay mang cái xác đi mà chỉ đứng bất động trên hè, như một bức tượng đen nhỏ bé. Tôi chẳng tỏ cớ sao dân Kikuyu, vốn không hề sợ chết lại thất đảm chuyện phải đụng vào xác chết đến thế, trong khi dân da trắng sợ chết lại chẳng hề ngần ngại việc này. Ở đây một lần nữa, bạn nhận ra lối cảm nhận thực tại ở họ khác của chúng ta. Nhưng tất tật nông gia đều biết đây là một địa hạt bạn không thể chỉ thị cho người bản xứ, và bạn sẽ tránh được rắc rối nếu lập tức từ bỏ ý định ấy, bởi họ sẽ thà chết còn hơn thay đổi lề thói của mình.
Giờ thì tâm lí e sợ trong tim Kamante đã biến mất, cậu còn tỏ ra khinh miệt nỗi khiếp hãi xác chết ở đồng bào mình. Về điểm này cậu thậm chí còn có chút phô trương, như để khoe khoang quyền năng vị Chúa của mình. Trong thời gian cùng sống ở đồn điền, tôi tình cờ có vài dịp kiểm chứng sức mạnh đức tin ở cậu, đó là ba lần Kamante và tôi phải chia nhau mỗi người một đầu khiêng xác chết. Đầu tiên là một cô gái Kikuyu bị xe bò chẹt qua bên ngoài nhà tôi. Người thứ hai là một thanh niên Kikuyu thiệt mạng do ngã cây rừng. Người thứ ba là một ông già da trắng tới trú tại đồn điền, góp phần mình vào cuộc sống của nó, rồi qua đời tại đây.
Ông là một đồng hương của tôi, ông già mù lòa Knudsen, người Đan Mạch. Một hôm tại Nairobi, ông dò dẫm tìm tới trước xe tôi, tự giới thiệu rồi xin tôi cấp cho một mái nhà trên đất của tôi, bởi khắp địa cầu ông chẳng còn nơi nào nương náu nữa. Dạo ấy tôi đang cắt giảm số nhân viên da trắng tại đồn điền, nên có một gian nhà trệt nhỏ bỏ trống và ông chuyển tới đây sống trong sáu tháng.
Đấy là nhân dạng dị thường giữa đồn điền miệt cao nguyên: một sinh vật quá đậm chất đại dương đến nỗi như thể chúng tôi đang chung sống với một con hải âu già, cánh bị xén cụt. Thân tàn ma dại bởi sóng gió đời và bệnh tật rượu chè, người ông vẹo vọ cong queo, mái tóc hung đỏ bạc trắng thành ra một thứ màu kì dị, tựa như ông rải tro lên đầu, hoặc cơ hồ môi trường biển đã đánh dấu và ướp muối ông vậy. Nhưng trong ông vẫn bùng cháy một ngọn lửa vĩnh cửu mà chẳng thứ tro nào có thể dập lụi. Xuất thân từ một gia đình làm nghề chài lưới đã nhiều đời ở Đan Mạch, ông vốn dĩ là thủy thủ, sau rồi gia nhập lớp người đầu tiên thám hiểm châu Phi, dầu gì các ngọn gió cũng đã đưa đẩy ông lưu lạc tới đây.
Trong đời từng theo đuổi vô số nghề, ông già Knudsen ưa làm các công việc có dính dấp đến sóng nước, cá mú hoặc chim chóc, nhưng lại chẳng nên cơm nên cháo ở bất cứ lĩnh vực nào. Có lần ông kể mình từng sở hữu một cơ sở đánh bắt hải sản trên hồ Victoria*, có nhiều dặm lưới đánh cá thượng thặng cùng một chiếc canô, song đã trắng tay trong thời chiến tranh. Trong lời Knudsen thuật lại tấn thảm kịch này có một thời khắc đen tối của hiểu lầm chết người, hay của sự phản bội từ phía một người bạn. Tôi chẳng rõ đâu là thực, bởi câu chuyện luôn bất đồng trong từng lần kể, và mỗi khi đi tới điểm này tâm trạng ông lão Knudsen lại trở nên cực kì khích động. Bề gì đi nữa, có một sự thật hiển nhiên tôi chứng kiến, trong thời gian ông Knudsen ở tại đồn điền: để đền bù cho những mất mát của ông, chính phủ trợ cấp cho ông mỗi ngày một silinh .
Hồ nước ngọt lớn thứ hai thế giới tại châu Phi.
Mọi điều này ông kể cho tôi trong các dịp ghé chơi nhà. Ông thường lánh tới chỗ tôi bởi không có được cảm giác an ổn trong gian nhà nhỏ của mình. Các chú nhóc bản xứ tôi gửi qua bên đó giúp việc, hết đứa này tới đứa khác, đều chẳng chóng thì chầy bỏ đi bởi khiếp đảm cái cách, vì đui mù và hung tợn, ông đâm bổ vào chúng hay hung hăng khua khoắng cây gậy dò đường. Nhưng những lúc hứng chí, ông sẽ ngồi ở hàng hiên nhà tôi, trước li cà phê, và hát tôi nghe các bài ngợi ca quê cha đất tổ tiếng Đan Mạch, bằng cả một bầu nhiệt huyết. Chúng tôi kiếm tìm mọi sự vụ tầm thường, nhỏ nhặt ở đồn điền làm đề tài trao đổi chỉ bởi thích được nói tiếng mẹ đẻ. Tuy nhiên không phải bao giờ tôi cũng đủ kiên nhẫn với ông, do chỗ một khi ông đã đến thì rất khó khiến ông dừng câu chuyện dông dài mà bỏ đi; trong các buổi gặp thường ngày giữa chúng tôi, ở ông có gì đó rất giống ông lão thủy thủ trong bài thơ cùng tên*, hay chàng thủy thủ Simbad trong Nghìn lẻ một đêm .
Knudsen là nghệ sĩ đan lưới bậc thầy, những tấm lưới tốt nhất thế giới, ông bảo tôi vậy, và ở đây, nơi gian nhà nhỏ giữa đồn điền, ông ngồi chế kibokos - thứ roi của người bản xứ được làm từ da hà mã. Knudsen mua da hà mã từ người bản địa hay từ các tá điền trên vùng hồ Naivasha* và nếu may mắn, từ một con hà mã, ông có thể chế ra năm chục kibokos . Tôi vẫn còn giữ một chiếc roi ngựa tuyệt đẹp được ông tặng. Việc làm roi khiến quanh nhà ông hôi hám khủng khiếp, chẳng khác gì bên tổ chim già chuyên ăn xác chết. Về sau, dạo tôi đào một cái đầm trong đồn điền, hầu như lúc nào ông cũng quanh quẩn bên bờ đầm, đứng trầm tư, bóng trải dài dưới chân, giống một con chim biển giữa vườn thú.
Lồng ngực hom hem của ông già Knudsen chứa một trái tim hồn nhiên, nồng nàn, nóng nảy và hoang dại của một cậu bé bừng bừng tính hiếu chiến tinh thuần; ông là một kẻ hiếp đáp và gây gổ hạng nhất. Quả rất hi hữu bạn mới gặp được một người chất chứa nhiều nghịch thù không khoan nhượng ở trong lòng đến thế. Lúc nào cũng bừng bừng phẫn nộ với hầu hết con người và tổ chức mà ông có việc phải dính dấp đến, Knudsen cầu khấn thánh thần trút mưa lửa và lưu huỳnh xuống đầu họ, và đòi “vẽ bản mặt lũ ác quỷ lên tường” bằng phong cách Michelangelo*, theo lối nói người Đan Mạch. Ông rất khoái trá mỗi khi khích bác được người ta xung đột nhau, giống trẻ nít xua hai con chó cắn nhau hay suỵt chó cắn mèo. Ta chẳng thể không sửng sốt khi chứng kiến tâm hồn ông Knudsen, sau bấy nhiêu năm bão tố cuộc đời, và cả khi cuối cùng, như cách thường nói, bị thổi dạt vào một con rạch kín gió, nơi có lẽ ông sẽ phải nằm yên đấy với mấy cánh buồm rũ xuống, vẫn gào thét kiếm tìm sự đối kháng cùng nghịch cảnh, như tâm hồn một chú bé. Nó khiến ta phải nghiêng mình, như trước hào khí ở một chiến binh Berserk*.
Nguyên văn: Ancient Mariner. Có lẽ tác giả đề cập tới bài thơ The Rime of the Ancient Marine của Samuel Taylor Coleridge (1772-1834) thuật lại chuyến hải trình thảm khốc của một người thủy thủ già khi toàn bộ thủy thủ đoàn chỉ còn ông sống sót và từ đó luôn bị thôi thúc kể lại chuyện đó cho người khác.
Hồ nước ngọt cách Nairobi gần 100 km theo hướng Tây Bắc.
Nhà danh họa Ý (1475-1564) vẽ bức Phiên phán xét sau cuối trên tường Nhà nguyện Sistine ở tòa thánh Vatican. Một số khuôn mặt trong tranh là những người ông căm ghét ngoài đời.
Chiến binh Bắc Âu cổ đại. Tương truyền họ thường xung trận trong trạng thái cuồng nộ xuất thần.
Chỉ đề cập tới bản thân ở ngôi thứ ba, ông tự xưng là “Già Knudsen,” và luôn khoe khoang cực độ về chiến tích bản thân. Chẳng gì trên đời mà Già Knudsen chưa khai phá cũng như hoàn tất, chẳng tên trùm nào chưa bị Già đánh bại. Khi kẻ khác âu lo việc họ, ông đóng vai người bi quan yếm thế, chuyên tiên liệu một kết cục bi thảm sắp xảy ra đến nơi và họ hoàn toàn xứng đáng phải nhận lãnh mọi chuyện. Nhưng ở việc mình, ông lại là kẻ lạc quan mãnh liệt. Trước lúc qua đời không lâu, ông giãi bày cùng tôi, sau khi đòi hứa phải giữ bí mật, một kế hoạch kinh thiên động địa. Nó sẽ đưa Già Knudsen, rốt cuộc, thành nhà triệu phú và làm muối mặt lũ kẻ thù. Ông sẽ nạo vét hàng trăm ngàn tấn phân mà các loài chim nước thải xuống hồ Naivasha từ thuở hồng hoang tới nay. Trong một nỗ lực tột bậc cuối cùng, từ đồn điền ông đã tới hồ Naivasha để nghiên cứu và trù liệu chi tiết cho dự định này. Già Kudsen đã chết trong ánh sáng huy hoàng của dự án. Nó chất chứa đủ mọi yếu tố thiết thân với trái tim ông: nước sâu, chim chóc, kho tàng ẩn giấu; thậm chí ở đó còn hàm chứa cả hương vị của điều không thể nói với phụ nữ. Trên đỉnh cao vinh quang của dự án, ông thấy, bằng tuệ nhãn, dáng hình đắc thắng của Già Knudsen, tay cầm cây đinh ba đang chỉ huy những con sóng. Tôi chẳng nhớ đã bao giờ được nghe ông giải thích làm sao xúc được phân chim từ lòng hồ lên.
Những kì tích xán lạn, các thành tựu lẫy lừng cùng đức cao vọng trọng của Già Knudsen trong mọi lĩnh vực, như những gì ông thuật cho tôi, trái ngược hoàn toàn sự yếu ớt, bất lực ở ông lão đang kể lể về chúng; sau cùng bạn cảm thấy mình đang giao thiệp với hai phẩm cách riêng rẽ và bất đồng tận bản chất. Vóc dáng vĩ đại, tâm trạng muôn phần hoan hỉ và bất khả chiến bại của Già Knudsen, người hùng của mọi cuộc phiêu lưu, sừng sững ở hậu cảnh, còn kẻ tôi quen, già nua, tàn tạ, lưng còng, đang kể không biết mệt về vị anh hùng kia, chỉ là tôi tớ của anh ta. Con người tầm thường, nhỏ bé này đã xác định mục tiêu cuộc đời mình, thậm chí cho đến phút lâm chung, là ủng hộ, ca ngợi Già Knudsen. Ngoài Chúa ra chỉ người này thực sự nhìn thấy Già Knudsen, thế nên ông chẳng thể khoan thứ cho lòng bất tin dị giáo ở bất kể ai.
Duy nhất có một lần tôi nghe ông sử dụng đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất. Vài tháng trước khi chết, Knudsen bị một cơn đau tim kịch phát, cũng căn bệnh này cuối cùng đã giết chết ông. Cả tuần chẳng thấy bóng dáng Knudsen đâu, tôi tìm xuống căn nhà nhỏ xem có chuyện gì và bắt gặp ông nằm sõng soài trên giường, giữa mùi hôi thối da hà mã, trong gian phòng tuềnh toàng, bừa bãi. Mặt ông xám tựa tro, đôi mắt đục trũng sâu. Nghe tôi hỏi, Knudsen chẳng hề trả lời hay hé môi. Chỉ mãi sau, lúc tôi đã dợm đứng lên định về, ông chợt thì thào, giọng khan đặc, “Tôi ốm quá.” Lúc ấy không phải Già Knudsen, con người vĩnh viễn chẳng đổ bệnh hay bị đánh bại đang nói, mà là kẻ tôi tớ, người duy nhất một lần cho phép mình bộc lộ nỗi khốn khổ, đớn đau của bản thân.
Ngán cảnh sống đìu hiu ở đồn điền, thỉnh thoảng Già Knudsen khóa trái cửa, biến mất khỏi tầm mắt chúng tôi. Tôi nghĩ phần lớn đó là các dịp ông nhận được tin bạn cũ, một nhà tiên phong nào đó của quá khứ hiển hách, vừa đến Nairobi, ông sẽ mất tăm, tầm dăm bữa nửa tháng, đến khi chúng tôi cơ hồ quên khuấy sự tồn tại của ông, và luôn quay về trong tình trạng đau ốm bệnh hoạn, kiệt sức tàn hơi, đến nỗi lê lết, trầy trật lắm mới mở nổi khóa nhà. Rồi ông mất mặt trong nhà vài ngày. Tôi tin những dịp này ông ngại gặp tôi, vì cho tôi chẳng đồng tình với những cuộc bỏ trốn ấy, và sẽ lợi dụng tình trạng sức cùng lực kiệt ở ông mà đắc thế. Dẫu đôi khi cất tiếng hát ngợi ca cô vợ trẻ của thủy thủ - những nhân vật mang tình yêu con sóng, nhưng thâm tâm Già Knudsen chẳng hề tin phụ nữ, và nhìn nhận họ, bởi bản năng, là kẻ thù của đàn ông và trên nguyên tắc, sinh ra là để ngáng đường vui thú của ông.
Ngày Knudsen chết, cũng là sau khi ông vắng bóng hai tuần và chẳng ai ở đồn điền chứng kiến thời điểm ông quay về. Tuy nhiên lần đó ông hẳn định phá lệ bởi nơi ông gục ngã là lối mòn chạy xuyên qua rẫy cà phê trên đường từ nhà mình tới tìm tôi. Kamante và tôi bắt gặp ông nằm sóng sượt trên lối nhỏ ấy vào buổi xế chiều, khi cả hai ra hái nấm mọc trong những trảng cỏ non mới nhú ngoài thảo nguyên, vì độ ấy là tháng Tư, đầu mùa mưa dầm.
Kamante quả là đối tượng thích hợp nhất để phát hiện ra xác ông, bởi cậu là người bản xứ duy nhất ở đồn điền tỏ ra thương cảm Già Knudsen. Thậm chí cậu còn quan tâm đến Già Knudsen, như kẻ lập dị để tâm tới kẻ lập dị khác, và lâu lâu lại tự động đem trứng qua biếu hay trông chừng mấy chú Toto của Già Knudsen lẩn đi mất.
Ông lão nằm ngửa, cái mũ lăn ra cách đó một đoạn, đôi mắt mở hé, gương mặt diềm đạm. Tôi thầm nghĩ: Cuối cùng ra ông ở đây sao, Già Knudsen.
Muốn đưa ông trở lại gian nhà nhỏ, nhưng tôi biết chẳng ích gì nếu gọi mấy người Kikuyu quanh đó, hoặc đang làm trên shamba gần bên; họ sẽ lập tức bỏ chạy khi phát hiện nguyên do. Tôi bèn sai Kamante về nhà kéo Farah tới hỗ trợ, song cậu bé chẳng hề nhúc nhích.
“Sao cô chủ lại muốn cháu chạy đi?” Kamante hỏi.
“Cháu cũng thấy đấy,” tôi bảo, “mình ta chẳng thể vác Bwana già đi được, còn dân Kikuyu các cháu lại là lũ ngốc sợ khuân người chết.”
Kamante phô ra một nụ cười mỉa mai. “Msabu lại quên,” cậu nói, “cháu là một tín hữu Thiên Chúa giáo rồi.”
Kamante khiêng chân còn tôi đằng đầu, cả hai đưa ông lão về gian nhà. Chốc chốc chúng tôi phải dừng lại, đặt ông xuống để nghỉ và Kamante lại đứng nghiêm, cúi nhìn xuống chân Già Knudsen. Tôi nghĩ đây là nghi thức ở Hội truyền giáo Scotland khi có ai đó chết.
Sau khi đặt ông vào giường, Kamante đi quanh phòng rồi vào bếp tìm một chiếc khăn che mặt cho ông, cậu chỉ thấy một tờ báo cũ. “Tại bệnh xá người Thiên Chúa giáo làm thế này,” Kamante giảng giải cho tôi.
Rất lâu sau này, Kamante vẫn còn khoái chí khi nghĩ tới bằng chứng cho cái ngốc nghếch ở tôi. Đang cùng làm bếp, một niềm vui thầm kín bất đồ ập về khiến cậu bỗng phá lên cười. “Msabu còn nhớ không,” Kamante bảo, “cái bận cô quên cháu là một người Thiên Chúa giáo, và tưởng cháu sẽ e sợ không dám giúp cô khuân Msungu Msei ?” - ông già da trắng.
Là người Thiên Chúa giáo, Kamante chẳng còn sợ rắn nữa. Tôi nghe cậu tuyên bố với những đứa trẻ khác rằng người Thiên Chúa giáo bất cứ khi nào cũng có thể dận gót nát đầu con rắn to nhất*. Chưa thấy cậu làm thế bao giờ, nhưng tôi từng chứng kiến cảnh Kamante đứng im ngay cạnh căn lều của đầu bếp, nét mặt lạnh lùng, tay chắp sau lưng, lúc một con rắn hổ mang thò ra trên nóc lều. Tất cả lũ nhỏ làm việc trong nhà tôi chạy tán loạn quanh túp lều, giống đám vỏ trấu trước cơn gió dữ, la hét điên dại, trong khi Farah vào nhà lôi súng săn của tôi ra bắn chết rắn.
Ngươi sẽ bước trên sư tử và rắn hổ mang. Còn sư tử tơ và rắn ngươi sẽ giày đạp dưới chân (Thánh thi 91:13)
Khi sự việc kết thúc, các đợt sóng cồn đã lắng dịu, Nyore, con trai anh xà ích, hỏi Kamante: “Sao mày không dận gót lên con rắn to kềnh gớm ghiếc ấy cho nát đầu nó ra?”
“Vì nó nằm tận trên mái,” Kamante bảo.
Một dạo, tôi có tập bắn cung. Tuy khỏe mạnh;,nhưng ban đầu tôi cũng khá chật vật để giương cây cung Wanderobo* mà Farah kiếm cho; dầu gì cuối cùng, sau thời gian dài rèn luyện, tôi cũng sử dụng nó thuần thục như một cung thủ.
Hồi ấy Kamante còn rất nhỏ, thường xem cảnh tập bắn cung trên trảng cỏ gần nhà, và tỏ ra hoài nghi các dự định của tôi, rồi một ngày cậu căn vặn: “Cô vẫn là người Thiên Chúa giáo lúc buông dây cung chứ? Cháu cho người Thiên Chúa giáo là phải bắn súng.”
Tôi cho cậu xem một minh họa cho câu chuyện Đứa con trai của Hagar ở cuốn Truyện tranh Kinh Thánh của mình: “Đức Chúa Trời vừa giúp đứa trẻ; nó lớn lên, ở trong đồng vắng, có tài bắn cung* ”
“Vậy ra,” Kamante bảo, “chú bé ấy giống cô.”
Kamante rất mát tay chữa trị súc vật bị bệnh, cũng như bệnh nhân bản xứ của tôi. Cậu gỡ các dị vật cắm vào chân chó, và có lần thậm chí chữa khỏi cho một con bị rắn cắn.
Một tộc người Phi chuyên săn bắn cư ngụ trong cùng khu vực đó.
Sáng Thế ký , chương 21.
Một dạo nhà tôi có nuôi con cò bị gãy một bên cánh. Đó là một tính cách rất cương cường. Cò ta thường đi tha thẩn các phòng và mỗi bận vào tới phòng ngủ tôi, nó liền lao vào cuộc chiến tay đôi ác liệt, nạt nộ và đập cánh, như thể với kiếm, cùng bóng mình trong tấm gương. Nó bám gót Kamante đi lại giữa các nhà trong xóm, và quả chẳng thể nào không tin con vật đang cố tình bắt chước bước chân cứng nhắc, đều đặn của cậu. Cả hai bước cùng nhịp. Lũ trẻ bản xứ, với con mắt châm biếm, không khỏi thích thú hò la mỗi khi thấy cặp đôi kì khôi đi ngang. Kamante hiểu nguyên do, nhưng cậu chẳng bao giờ quá để tâm tới việc người khác nghĩ sao về mình. Cậu sai mấy đứa nhỏ bắt ốc sên trong đầm lầy về cho cò.
Kamante còn quán xuyến cả Lulu nữa.