Kamante là một chú nhóc Kikuyu, con một gia đình lưu dân đồn điền. Tôi vẫn biết rành những đứa trẻ con lưu dân, bởi chúng không chỉ làm công cho tôi, mà còn thường lùa dê tới mấy trảng cỏ quanh nhà tôi, với niềm tin sẽ gặp chuyện thú vị xảy ra tại đây. Nhưng Kamante hẳn đã sống ở đồn điền được vài năm cho tới ngày tôi gặp cậu, đây âu cũng bởi lối sống thui thủi, giống một con thú bị ốm ở cậu.
Tôi chạm trán Kamante lần đầu lúc cưỡi ngựa băng qua vùng đồng thảo của đồn điền, là nơi cậu đang chăn dắt bầy dê nhà. Kamante là đối tượng thảm thương nhất bạn bắt gặp trên đời: đầu to, người loắt choắt ốm o, khuỷu tay và đầu gối lồi ra như mấu gỗ trên que củi, từ đùi xuống tận gót chân đầy vết loét sâu, chảy mủ. Giữa thảo nguyên, nom cậu bé nhỏ lạ thường khiến ta bàng hoàng bởi sao khôn xiết khổ đau khả dĩ tụ vào chỉ một điểm thế này. Khi tôi dừng ngựa bắt chuyện, cậu không buồn đáp, như thể chẳng hề thấy tôi. Trên khuôn mặt choắt lại, thảm não và nhẫn nhục tới cùng cực, đôi mắt cậu lờ đờ, mờ đục tựa mắt vong nhân. Kamante nom như chẳng thể sống qua nổi vài tuần, và bạn đồ chừng lũ kền kền, loài vật luôn quanh quẩn gần cái chết nơi thảo nguyên, đang lượn vòng đâu đó giữa không trung màu xám hừng hực trên đầu cậu. Tôi bảo Kamante sáng hôm sau tới nhà để tôi thử chạy chữa cho.
Hầu như sáng nào cũng vậy, từ chín đến mười giờ, tôi đóng vai bác sĩ cho người ở đồn điền và hệt mọi lang băm lừng danh tôi đón tiếp từ hai tới cả tá người đau ốm.
Người Kikuyu thích ứng tốt ở các tình huống bất ngờ và nhanh quen với điều không mong đợi. Đây là điểm khác biệt với dân da trắng mà phần đông đều tìm mọi cách phòng thủ trước cái chưa biết cũng như cú đòn đột kích của định mệnh. Sống thuận hòa cùng vận mệnh, cả đời nằm trong bàn tay nó, với người da đen vận mệnh, ở một chừng mực nhất định, chính là mái ấm, là bóng tối quen thuộc trong lều, là tầng đất sâu tơi xốp cho bộ rễ của mình. Anh ta đối mặt mọi bất định ở đời với sự điềm tĩnh trác tuyệt. Trong bảng liệt kê các phẩm chất anh trông đợi ở chủ nhân, bác sĩ hay thánh thần, trí tưởng tượng, tôi tin, sẽ ở hàng đầu. Có lẽ bằng vào thế mạnh phẩm chất như vậy, đức vua Haroun ai Raschid* đã là vị quân vương mẫu mực của các con tim châu Phi và Ả Rập; với ngài không ai phỏng đoán được điều kế tiếp, hay điểm yếu ở đâu. Khi đề cập phẩm tính của thánh thần, giống trong Nghìn lẻ một đêm hay ở mấy chương cuối sách Job, kinh Cựu Ước, người dân châu Phi luôn nói về cùng một năng lực khiến họ thán phục, ấy là sức mạnh vô biên của trí tưởng tượng.
Trị vì đế quốc Ả Rập ở thế kỷ thứ VIII.
Nhờ ở đặc điểm này của người dân nơi đây, tôi được biết đến rộng rãi, hay có thể nói đã giành được tiếng tăm trong vai trò thầy thuốc. Trên chuyến tàu thủy đưa tôi lần đầu tới châu Phi, có một khoa học gia xuất sắc người Đức mang theo hơn một trăm con chuột xám và chuột lang, trong hành trình thứ hai mươi ba của mình đi nghiên cứu liệu pháp chữa chứng mất ngủ. Nhà khoa học kể cái khó của mình khi làm việc cùng bệnh nhân bản xứ không bao giờ bởi họ thiếu can đảm, lúc đối diện đau đớn hay một vết cắt mổ lớn đa phần họ chỉ e dè chút đỉnh, mà ở ác cảm cố hữu trước tính nguyên tắc, tính hệ thống hay sự lặp đi lặp lại của quá trình chữa trị, điều mà nhà khoa học người Đức không sao hiểu nổi. Tuy nhiên khi đã biết người bản xứ, chính đây lại là phẩm chất tôi ưa nhất ở họ. Họ có lòng dũng cảm đích thực: ấy là niềm thích thú thuần nhất với hiểm nguy, tiếng đáp chân chính của con người trước lời tuyên cáo từ số phận, âm vọng từ Trái Đất khi thiên đường cất tiếng gọi. Lắm khi tôi nghĩ, trong thâm tâm họ sợ chúng ta chính ở lối thông thái rởm. Sa vào tay những kẻ ra vẻ mô phạm, họ sẽ chết vì buồn chán.
Người bệnh của tôi chờ ở khoảnh hiên lát gạch trước nhà. Họ ngồi xổm, những bộ xương già nua với cơn ho xé ngực và nước mắt giàn giụa, lũ trai tráng càn rỡ thân hình mảnh dẻ trơn láng và mắt đen miệng thâm, các bà mẹ đeo dưới cổ đứa con đang sốt bừng bừng như búp hoa héo úa. Tôi luôn phải chữa những ca bỏng nặng, vì người Kikuyu thường ngủ quanh đống lửa trong lều, và các thanh củi hay than đang cháy có thể đổ sụp vào họ, nhiều đận khi thuốc men cạn kiệt, tôi phát hiện mật ong là thứ thuốc mỡ trị bỏng chẳng hề tồi. Không khí ngoài hiên sôi động tựa như ở các sòng bạc châu Âu. Song lúc tôi từ trong bước ra, mạch thì thào hưng phấn kia chợt ngưng bặt, nhưng sự im lặng khi ấy thai nghén các khả năng bởi giờ là thời khắc điều gì đó sẽ xảy đến. Tuy nhiên họ luôn chờ tôi lựa chọn người được khám đầu tiên.
Chẳng biết bao lăm về nghề thuốc, đầu chỉ có mỗi dúm kiến thức hạn hẹp học ở khóa sơ cứu, song danh tiếng bác sĩ của tôi vẫn được lan truyền bởi vài cơ may chữa trị thành công trong khi lại chẳng bị hủy hoại sau các sai lầm thảm khốc mắc phải.
Giả như giờ tôi đảm bảo sẽ chữa khỏi cho tất tật bệnh nhân, chắc gì đám con bệnh vòng trong vòng ngoài kia lại chẳng thưa thớt đi? Khi ấy hẳn tôi sẽ đạt được uy tín về chuyên môn, đây quả đúng là một bác sĩ tài ba đến từ rặng Volaia*, nhưng liệu họ có còn tin Đấng Tối Cao vẫn ở bên tôi? Bởi ấy là Đấng họ am tường qua vô số năm hạn hán, qua bầy sư tử rình rập trên thảo nguyên giữa đêm, qua lũ báo lởn vởn quanh nhà khi bên trong chỉ có mỗi trẻ nhỏ, qua các đàn châu chấu từ nơi nao chẳng tỏ tấn công xứ này không tha dù chỉ một cọng cỏ. Họ cũng thấu đáo Ngài qua những giờ phút hân hoan chẳng thể tin nổi lúc bầy đàn đen kịt ấy bay qua các nương ngô mà không hề đậu xuống, hoặc dịp xuân về mưa sẽ đến sớm đến nhiều, mang hoa thơm cùng vụ mùa bội thu cho các cánh đồng và thảo nguyên. Vậy nên một khi đụng tới các vấn đề thực sự trọng đại của cuộc sống, vị thầy thuốc giỏi giang núi Volaia chỉ là dạng ngoại nhân.
Buổi sáng sau hôm gặp gỡ đầu tiên ấy, Kamante khiến tôi ngỡ ngàng khi xuất hiện tại hiên nhà. Cậu đứng đó, hơi tách khỏi ba, bốn bệnh nhân khác, dáng người thẳng, bộ mặt giống kẻ sắp chết, tựa như sau cùng Kamante đã tìm được chút cảm giác quyến luyến đời, và giờ quyết tận dụng cơ hội sau cùng này bấu víu vào nó.
Vùng núi nằm giữa Áo và Ý, nơi dân bản xứ thường coi là quê quán của mọi người châu Âu.
Theo thời gian Kamante chứng tỏ mình là một bệnh nhân mẫu mực. Đến khám đúng yêu cầu không chút sơ sót, cậu theo dõi thời gian để tuân thủ chu trình tái khám sau mỗi ba hoặc bốn ngày, một điều cá biệt với dân bản xứ. Kamante bình thản chịu đựng đau đớn khi chữa trị theo cách tôi chưa từng thấy. Vì các khía cạnh kể trên, tôi hoàn toàn có thể tuyên dương cậu như một hình mẫu cho người khác noi theo, nếu Kamante chẳng cùng lúc mang đến cho tôi nhiều day dứt.
Rất hi hữu, vô cùng hiếm hoi tôi mới được hạnh ngộ một sinh vật hoang dã, một con người tách biệt trọn vẹn nhường ấy với thế giới, và bằng thái độ cam chịu tột cùng, đã khép chặt mình trước cuộc sống xung quanh. Sẽ đáp lời khi tôi gặng hỏi, có điều Kamante chẳng bao giờ tự nguyện hé môi hay đoái nhìn đến tôi. Cậu tuyệt nhiên không mang lòng trắc ẩn, và luôn giữ nét cười khinh khi vẻ ta đây chẳng vậy trước những giọt nước mắt ở các bệnh nhi được rửa và băng bó vết thương, dù không ngó ngàng gì tới chúng. Kamante chẳng màng giao du với thế giới xung quanh dưới bất cứ hình thức nào, với nó cậu hẳn từng có các mối liên hệ vô cùng tàn khốc. Lòng quả cảm khi đối diện nỗi đau ở cậu là của một lão chiến binh. Chẳng gì có thể tệ hại đến mức gây cho cậu kinh ngạc được nữa: Kamante, bằng trải nghiệm và triết lí sống, đã được chuẩn bị cho điều tồi tệ nhất rồi.
Kamante làm tất cả những điều này với vẻ ngạo nghễ nhắc tôi nhớ tới lời tuyên tín của Prometheus*: “Đau đớn là tế bào ta cũng như căm ghét là thành tố ngươi. Cứ xé xác ta ra đi, ta nào có bận lòng.” Hoặc, “Hãy giở trò ghê gớm nhất ra đi, Ngươi toàn năng cơ mà.” Nhưng ở một chú bé cỡ tuổi Kamante, nó lại khiến bạn hoang mang và đau lòng. Rồi Chúa sẽ nghĩ sao, tôi nhủ thầm, khi gặp phải thái độ này ở một đứa trẻ?
Vị thần Hi Lạp bị thần Dớt hành hạ do đã đánh cắp lửa trao cho loài người.
Tôi nhớ rõ mồn một lần đầu Kamante nhìn và tự nguyện nói với tôi. Đó hẳn là sau một thời gian chúng tôi quen biết, bởi tôi đã từ bỏ kiểu chữa trị ban đầu, và đang thử liệu pháp đắp nóng học được từ sách. Trong tâm trạng hăm hở áp dụng cách thức mới, tôi đã đắp miếng thuốc hơ quá nóng lên vết thương và lúc đang quấn băng bên ngoài thì Kamante chợt nói: “Msabu” rồi nhướn mắt liếc tôi. Người bản xứ dùng từ Hindu này để gọi phụ nữ da trắng; tuy nhiên họ phát âm hơi khác và biến nó thành một từ châu Phi; với âm sắc bất đồng. Qua miệng Kamante, nó như tiếng kêu cứu, nhưng cũng là lời cảnh báo, từ người bạn thủy chung can gián ta làm điều không xứng với mình. Sau đó tôi nghiền ngẫm lại chuyện ấy với một niềm hi vọng. Tôi đã có khát vọng của một bác sĩ; và lấy làm ân hận đã ấp thuốc quá nóng lên cậu, song đồng thời lại mừng rỡ bởi đó là cái nhìn câu thông đầu tiên giữa đứa trẻ hoang dã và tôi. Con người cam chịu đến cùng cực, tuyệt nhiên chẳng trông mong nhận lãnh gì khác ngoài khổ đau kia, đã không mong đợi nỗi đau ấy đến từ tôi.
Tuy nhiên việc chạy chữa cho cậu diễn tiến chẳng mấy khả quan. Suốt một thời gian dài tôi gắng rửa sạch và băng bó chân cho cậu, nhưng căn bệnh vượt quá khả năng của tôi. Đôi lần tình trạng có khá lên chút đỉnh, có điều rồi các vết loét lại xuất hiện ở những chỗ mới. Rốt cuộc tôi quyết định đưa Kamante tới nhà thương của Hội truyền giáo Scotland.
Quyết định lần này của tôi, rốt cục, hàm chứa đủ độ chết chóc và tiềm tàng quá nhiều khả năng để khiến Kamante có phản ứng, cậu không muốn đi. Kinh nghiệm và triết lí sống ngăn Kamante cưỡng chống bất kể thứ gì, vậy mà khi được tôi lái xe chở tới Hội truyền giáo, và giao vào dãy nhà bệnh xá dài hun hút thì cậu run lên cầm cập giữa môi trường hoàn toàn xa lạ và bí ẩn.
Tôi là hàng xóm của hai Hội truyền giáo. Ngôi nhà thờ của Hội truyền giáo Tin lành Scotland; cách mười hai dặm phía Tây Bắc, nằm cao hơn đồn điền năm trăm bộ; còn Hội truyền giáo Công giáo La Mã của Pháp tọa lạc mười dặm về phía Đông, trên một vùng đất bằng, lại thấp hơn chỗ tôi năm trăm bộ. Dẫu chẳng hề tán đồng các Hội truyền giáo, nhưng ở phương diện cá nhân, tôi làm bạn với cả đôi bên, và lấy làm tiếc khi họ phải sống trong tình trạng thù nghịch lẫn nhau.
Các cha cố người Pháp là bạn bè chí thiết của tôi. Tôi thường cùng Farah cưỡi ngựa tới chịu lễ misa ở chỗ họ vào sáng Chủ nhật, một phần để lại được nói tiếng Pháp, phần nữa vì chặng đường tới Hội truyền giáo đẹp tuyệt. Số là già nửa chặng đường này xuyên qua khu rừng keo già thuộc sở Lâm nghiệp, và hương hoa keo mặn mà, tinh khôi giữa buổi sớm mai đem đến cho ta cảm giác ngọt ngào, sảng khoái.
Ta luôn ngỡ ngàng khi chứng kiến giáo đường Công giáo La Mã mang được thứ khí thế đặc thù đến bất cứ địa phương nào nó tọa lạc. Các cha cố, được giáo dân bản xứ trợ giúp, đã tự thiết kế rồi cất lên giáo đường này và đương nhiên họ rất tự hào về nó. Tọa lạc trên một khoảng đất rộng nằm giữa đồn điền cà phê lâu đời nhất và được chăm sóc rất khéo của xứ thuộc địa, ngôi nhà thờ màu xám, đồ sộ, tráng lệ, đỉnh có tháp chuông, vươn cao bên trên các bậc tam cấp và lớp hàng rào. Hai bên cánh nhà thờ là khu nhà ăn mái vòm cùng tổ hợp kiến trúc của tu viện trong đó trường học hay xưởng xay xát đều nằm dưới mé bờ sông, và để tới được con đường dẫn lên nhà thờ, bạn phải vượt qua một nhịp cầu cong. Cầu xây rặt bằng đá xám, khi phóng ngựa qua, bạn nom nó oai nghiêm đâu ra đó giữa cảnh vật xung quanh, chẳng khác nào đang ngự ở miền Nam Thụy Sĩ hay mạn Bắc Ý vậy.
Lễ misa xong xuôi, với thái độ thân thiết, các cha chờ tôi ở cửa nhà thờ để mời “một li vang con con*” trong nhà ăn rộng rãi và mát mẻ bên kia sân; thật diệu kì khi nghe họ thuật vanh vách tất tật những gì đang diễn ra trên khắp xứ thuộc địa, thậm chí ở cả những góc nẻo xa xôi nhất. Họ cũng sẽ hút kì hết bất cứ tin tức nào bạn mang trong người, tựa một bầy ong nâu nhỏ bé, linh lợi, có lông trên người, vì các cha đều để râu rậm dài, đang bu trên một bông hoa đầy mật ngọt. Trong khi hào hứng đến thế với cõi thế tục xứ thuộc địa, các cha vẫn luôn mang phong thái riêng của những người Pháp bị lưu đày, nhẫn nhục và vui vẻ tuân phục các sắp đặt của Đấng Tạo Hóa huyền bí. Giá như không có đấng bề trên ấy, bạn cảm thấy hết thảy tuyệt chẳng thể nằm tại chốn đây, cả nhà thờ đá xám có tháp chuông cao vút, cả những mái vòm, cả trường học hay bất kì bộ phận nào của khu đồn điền hoặc cơ sở truyền giáo này. Bởi một khi lời phóng thích được tuyên, mọi thứ này sẽ bỏ mặc sự tình cho xứ thuộc địa và theo đường ong trực chỉ bay về Paris ngay tắp lự.
Tiếng Pháp trong nguyên tác: un petit verre de vin .
Quản hai con ngựa trong thời gian tôi ở giáo đường rồi nhà ăn, trên đường về Farah sẽ nhận thấy tâm trạng phấn chấn ở tôi. Bản thân là một tín đồ Hồi giáo ngoan đạo, không động đến rượu, nhưng anh vẫn chấp nhận lễ misa và uống vang là các nghi thức phù hợp cho tôn giáo của tôi.
Các cha xứ người Pháp thảng hoặc cũng cưỡi mô tô tới đồn điền và dùng bữa trưa ở đây. Họ trích dẫn Lafontaine cũng như cho tôi lời khuyên bổ ích trong canh tác cà phê.
Tôi không quen thân Hội truyền giáo Tin lành Scotland như thế. Cơ sở của họ có một tầm nhìn ngoạn mục bao quát toàn bộ địa hạt dân Kikuyu cư trú, tuy vậy Hội truyền giáo này lại mang cho tôi ấn tượng về sự mù lòa, cứ như nó chẳng thấy được gì. Khi ấy nhà thờ Tin lành Scotland đang ra công khoác các áo váy Âu châu lên người bản xứ, điều tôi nghĩ, nhìn từ mọi góc độ, chẳng mang lại ích lợi gì cho họ. Tuy nhiên, trong thời gian tôi sống tại châu Phi, Hội truyền giáo này có một bệnh xá rất tốt do bác sĩ Arthur, một thầy thuốc thông minh, đầy lòng nhân ái cai quản. Họ đã cứu mạng nhiều cư dân đồn điền.
Các y bác sĩ giữ Kamante ba tháng tại Hội truyền giáo Tin lành Scotland. Trong quãng thời gian đó tôi có nhìn thấy cậu một bận. Lần ấy đang cưỡi ngựa ra ga xe lửa Kikuyu, tới đoạn đường chạy song song bệnh xá, tôi bắt gặp Kamante đứng ngoài trời, hơi tách biệt khỏi mấy tốp bệnh nhân khác. Lúc này cậu đã bình phục đáng kể để có thể chạy nhảy. Nom thấy tôi, cậu bèn tiến sát lại bờ rào rồi cứ thế chạy theo cho đến hết đoạn đường song song. Giống chú ngựa con trên bãi chăn thả lúc bạn phóng ngựa qua, Kamante lẽo đẽo chạy phía trong hàng rào, mắt bám vào ngựa tôi nhưng chẳng thốt nửa lời. Tới góc ranh giới khuôn viên bệnh xá, Kamante buộc phải dừng bước, và trong khi ngựa sải vó tôi ngoái lại thấy cậu vẫn đứng sững, nhướn lên dõi theo, dáng tựa chú ngựa con lúc bạn rời xa nó. Thấy tôi vẫy tay chào, thoạt tiên Kamante chẳng hề phản ứng, rồi cậu vụt giơ thẳng tay lên trời như cột cần máy bơm nước, song chỉ một lần duy nhất.
Kamante quay lại nhà tôi vào sáng Chủ nhật Phục Sinh, cầm theo lá thư của bệnh xá thông báo bệnh cậu giờ đã khỏi và thể trạng cũng khá hơn rất nhiều. Hẳn đã biết chút gì đó ở nội dung thư, nên Kamante chăm chú dõi theo sắc mặt tôi lúc đọc, nhưng cậu không muốn bàn đến điều ấy bởi trong đầu đang chất chứa nhiều chuyện quan trọng hơn. Luôn khư khư thái độ chừng mực hoặc dè dặt giữ kẽ, ấy thế mà lần này mặt cậu ngời lên vẻ hân hoan chiến thắng bị kìm nén.
Dân sở tại chuộng các hiệu ứng kịch tính. Kamante đã cẩn thận quấn kín hai ống chân tới tận đầu gối bằng dải băng cũ để tạo bất ngờ cho tôi. Rõ ràng cậu nhìn nhận mức độ trọng đại của thời khắc này, không từ góc độ may mắn của bản thân, mà hào hiệp coi đây như cơ hội mang lại niềm vui cho tôi. Kamante hẳn vẫn nhớ bao phen tôi phiền não trước những thất bại liên miên trong quá trình chữa bệnh cho cậu, và biết kết quả điều trị ở bệnh xá sẽ gây sửng sốt. Cậu từ tốn tháo dần lớp băng từ đầu gối xuống gót để lộ ra làn da chần nhẵn nhụi, chỉ lờ mờ các vết sẹo xám.
Sau khi rất khoái chí, theo cung cách cực kì thản nhiên của mình, thưởng thức sự kinh ngạc và niềm thích thú ở tôi, Kamante tiếp tục gây ấn tượng bằng lời tuyên bố trịnh trọng mình đã là người Thiên Chúa giáo. “Cháu giờ cũng như cô rồi,” cậu bảo. Kamante còn nói thêm tôi nên cho cậu một rupee để ăn mừng vì hôm nay là ngày Chúa sống dậy.
Sau đó Kamante đi gặp gia đình. Mẹ cậu là một góa phụ sống trong đồn điền, cách đó khá xa. Về sau bà mẹ có kể lại, hôm ấy Kamante đã đi ngược thói thường, dốc ruột dốc gan thuật cho mẹ nghe về những con người và cung cách kì lạ cậu gặp tại bệnh xá. Nhưng sau khi ghé qua túp lều của mẹ, Kamante quay lại nhà tôi như thể từ đây cậu nghiễm nhiên thuộc về chốn này. Từ đấy Kamante làm việc cho tôi tới tận ngày tôi rời khỏi châu Phi, trong khoảng mười hai năm.
Dạo mới gặp nom Kamante chỉ như sáu tuổi, nhưng cậu có một người em trạc tám tuổi và cả hai đều công nhận Kamante là anh nên tôi đồ rằng cậu bị còi cọc vì ốm đau kinh niên và hồi ấy Kamante hẳn khoảng chín tuổi. Giờ cậu đã lớn hơn, có điều nhìn vẫn như một chú lùn, hoặc dị dạng sao đó, dù ta chẳng thể nào chỉ ra đích xác điểm gì khiến cậu như vậy. Theo thời gian khuôn mặt xương xẩu ở Kamante dần tròn trịa, đi đứng cũng dễ dàng, và cá nhân tôi không nghĩ cậu xấu, nhưng cũng có lẽ bởi ấy là cặp mắt của người tạo tác dành cho sản phẩm của mình. Riêng chân cậu tứ thời vẫn như hai xe điếu. Với ngoại hình kì dị nửa vui mắt, nửa ma quái, chỉ cần được chỉnh sửa chút ít là Kamante khả dĩ lên ngồi được trên nóc nhà thờ Đức Bà Paris mà ngó xuống. Toát lên thứ cốt cách năng nổ và sáng dạ, Kamante như một mảng màu lệch tông trên bức tranh và cậu tô điểm thêm một nét đẹp hội họa vào đội ngũ gia nhân của tôi. Đầu óc cậu chẳng bao giờ thật sự bình thường, hay ít nhất theo cách nói của dân da trắng, Kamante khá lập dị.
Kamante là người trầm tư, cả nghĩ. Có lẽ những năm dài cơ cực đã phát triển trong cậu xu hướng suy ngẫm và rút ra kết luận riêng từ mọi điều mắt thấy tai nghe. Suốt đời Kamante sống tách biệt, theo cách riêng của cậu. Thậm chí ở cùng một việc, cậu cũng thực hiện khác mọi người.
Tôi có một lớp học buổi tối, dành cho cư dân đồn điền, do thầy giáo người bản xứ giảng dạy. Các thầy đều ở Hội truyền giáo tới và trong thời gian sống tại đây tôi đã mời thầy của cả ba Hội truyền giáo, Công giáo La Mã, Anh giáo, Tin lành Scotland. Đó là bởi việc dạy người bản xứ đều tuyệt đối dựa theo kinh sách và theo tôi biết ngoài Kinh Thánh hay mấy cuốn Thánh ca chẳng có sách nào được dịch ra tiếng Swaheli* cả. Trong giai đoạn ở châu Phi, tôi dự định dịch cho người bản xứ các mẩu truyện ngụ ngôn Aesop nhưng rồi chẳng bao giờ có thời gian để hoàn thành. Dẫu vậy với tôi, lớp học vẫn là điểm đến ưa thích tại đồn điền, là tâm điểm đời sống tinh thần của chúng tôi, và tôi đã trải qua những buổi tối êm đềm trong gian lớp vốn là một căn nhà kho dài, cũ kĩ, quây tôn múi.
Thứ tiếng phổ thông, được dùng như một thứ quốc tế ngữ, ở vùng Đông và Trung Phi.
Kamante tới đó cùng tôi nhưng chẳng chịu ngồi chung băng ghế với các trẻ khác mà lánh ra xa, như cố tình nhắm mắt bịt tai từ chối học, để hả hê trước cái khờ khạo ở những kẻ cam nguyện cho người ta lôi đến đây, và để lắng nghe. Song trong không gian riêng tư ở căn bếp nhà, tôi bắt gặp Kamante cóp nhặt từ trí nhớ, rất chậm chạp và ngây ngô, các chữ cái và con số quan sát được trên tấm bảng đen lớp học. Tôi nghĩ dẫu muốn cậu cũng không thể tới lớp cùng các học sinh khác; ngay từ những năm đầu đời ở Kamante đã có gì đó bị lệch lạc, khóa chặt nên giờ trong mắt cậu điều bình thường chẳng còn bình thường nữa rồi. Kamante nhận thức được nét dị biệt này ở bản thân và với cái vĩ đại đầy kiêu ngạo nơi tâm hồn một chú lùn đích thực, khi nhận ra bản thân khác biệt toàn thế giới, cậu liền mặc nhiên coi cả thế giới đều méo mó.
Khôn ranh và riết róng chuyện tiền bạc, Kamante có nhiều thương vụ mua bán dê khá khôn ngoan với những người Kikuyu khác. Cậu cũng lấy vợ sớm, dẫu kết hôn là sự kiện tốn kém trong thế giới của họ. Cùng lúc tôi lại nghe cậu triết lí rốt ráo và độc đáo về sự vô nghĩa của tiền. Cậu có quan điểm kì dị về cuộc sống: làm chủ nhưng chẳng hề xem trọng nó.
Kamante không có khả năng khen ngợi. Cậu có thể thừa nhận và đánh giá cao trí khôn loài vật, song suốt thời gian quen biết, tôi chỉ nghe cậu đề cập với thái độ tán thưởng về đầu óc khôn ngoan của độc một người là cô gái Somali chuyển tới sống trong đồn điền vài năm sau. Kamante dành một nụ cười mai mỉa cho tất cả các tình huống, nhưng chủ yếu nhắm vào mọi sự tự tin hay ba hoa khoác lác của kẻ khác. Có thiên hướng dễ sinh ác ý, dân sở tại thường hả hê trước thất bại, hỏng hóc và điều này gây tổn thương, phẫn nộ cho người châu Âu. Nâng thói này lên mức toàn thiện toàn mĩ hiếm thấy, thậm chí thành một kiểu tự trào chẳng lẫn vào đâu, Kamante thích thú trước những nỗi thất vọng và tai họa của bản thân, gần hệt như của kẻ khác.
Tôi cũng gặp dạng tâm tính này ở các bà già bản xứ từng sưởi ấm bên bao nhiêu đống lửa, những người có chung dòng máu với Số Mệnh, luôn thông cảm đón nhận những trò mai mỉa từ nó, như đến từ chị em gái mình. Mỗi sáng Chủ nhật, tôi thường vẫn để gia nhân bán thuốc lá dạng bột hít, ở đây họ gọi là tombacco , cho các bà già bản xứ, lúc chính tôi còn nằm vùi trên giường. Vậy nên cứ tới Chủ nhật, quanh nhà tôi lại tụ tập đám đông khách hàng kì khôi, hao hao một sân nuôi láo nháo đầy gà vịt già, trụi lủi lông, da nhăn nheo, gầy trơ xương; và tiếng họ lào kháo, người bản xứ rất hiếm khi cao giọng, luồn qua song vào tận phòng tôi ngủ. Sáng Chủ nhật nọ, mạch trò chuyện sống động và từ tốn của người Kikuyu hốt nhiên rộ thành những đợt sóng cồn và tường nước của náo nhiệt cười đùa; hẳn ngoài kia đang xảy ra một biến cố khôi hài, và tôi bèn gọi Farah tới để hỏi. Farah chẳng hào hứng thuật lại vì nguyên do là chính anh đã quên khuấy mua thuốc bột hít khiến đám bà già lặn lội đường xa tới đều, như cách họ nói, boori - công cốc. Sự việc này sau đó trở thành giai thoại của các cụ bà người Kikuyu. Thảng hoặc, khi giáp mặt trên lối mòn giữa nương ngô, một bà cụ sẽ chặn tôi lại, trỏ ngón tay cong queo khẳng khiu vào tôi, và với bộ mặt già nua tăm tối đang tan vào tiếng cười làm hết thảy vết nhăn xếp thành nếp thẳng, tựa như có một sợi dây bí mật đâu đó đang được kéo căng, bà nhắc tôi nhớ lại cái Chủ nhật khi mình và mấy chị em nhóm thuốc hít, lặn lội tới nhà, để rốt cuộc té ngửa ra tôi đã quên bẵng không chuẩn bị thuốc, và tuyệt chẳng có một hạt bụi thuốc nào ở đấy cả - Ha ha, Msabu ơi là Msabu !
Người da trắng thường chê dân Kikuyu ăn ở bạc bẽo nhưng, dù từ góc độ nào, Kamante đều chẳng phải kẻ vô ơn; cậu thậm chí nói lên lòng tri ân của mình. Nhiều năm sau buổi đầu tương ngộ, Kamante vẫn hết lần này tới lần khác, trái ngược cung cách cư xử quen thuộc, thể hiện những nghĩa cử đỡ đần tôi mà chẳng quản có được nhờ hay không, và khi được hỏi cớ sao làm vậy, cậu bảo nếu không có tôi cậu đã chết rục từ lâu rồi. Kamante cũng bày tỏ ân tình theo một kiểu khác: đối xử tốt, sẵn lòng hỗ trợ, hay có lẽ chính xác hơn là rộng lượng chín bỏ làm mười với riêng tôi. Nguyên nhân âu cũng bởi Kamante nghĩ cậu và tôi là đồng đạo. Tôi cho dưới mắt cậu, giữa một thế giới rặt lũ ngốc, tôi là một trong những kẻ lố bịch hơn cả. Từ ngày tới làm và gắn bó số phận mình với số phận tôi, tôi cảm nhận được ánh nhìn chăm chú, thấu suốt của Kamante dõi theo mình, và toàn bộ lối sống* của tôi trở thành đối tượng của một sự phê phán hiển nhiên, phi thiên kiến; tôi tin, ngay từ đầu, cậu đã nhìn nhận nỗi phiền lụy tôi chuốc lấy khi nhọc công chữa trị cho cậu là do thứ đầu óc dị hợm thâm căn cố đế. Dẫu vậy cậu luôn cực kì quan tâm, thông cảm, và ráng sức khai thông cái mông muội ở tôi. Đôi lần tôi bắt gặp Kamante phải đầu tư thời gian và suy nghĩ cho tình trạng rầy rà này, nhằm sửa soạn và minh họa các chỉ dẫn của mình, để chúng trở nên dễ hiểu cho tôi.
Khởi đầu cuộc sống trong nhà tôi ở chân quản chó, sau đó Kamante trở thành trợ lí y tế. Thông qua công việc này, nhận ra Kamante có đôi tay thật khéo, dẫu bạn sẽ chẳng nhận định như vậy nếu thấy chúng, tôi bèn gửi cậu xuống giúp việc dưới bếp, làm chân phụ bếp * cho Esa, ông đầu bếp sau này bị sát hại của tôi. Sau cái chết của Esa, cậu thay thế ông, và từ đó trong suốt thời gian làm cho tôi, Kamante đảm đương việc nấu nướng.
Tiếng Latinh trong nguyên tác: modus vivendi .
Tiếng Pháp trong nguyên tác: marmiton .
Dân bản địa thường chẳng mấy khi động lòng trắc ẩn trước loài vật, tuy nhiên cũng như trong nhiều vấn đề khác, Kamante không vậy. Cậu là một quản chó rất đáng tin cậy, luôn đồng cảm với bầy chó và thường báo cho tôi lũ chúng muốn gì, thiếu gì, hay nghĩ gì. Cậu giữ chó không bị nhiễm rận, một ách nạn tại châu Phi, và nhiều bận giữa đêm, cậu và tôi, bị những tiếng chó tru đánh thức, dưới ánh đèn bão, bắt từ lông chúng từng con Siafu , loài kiến gộc sát thủ chuyên độc hành và chén sạch mọi thứ gặp trên đường.
Hồi nằm ở bệnh xá Hội truyền giáo, Kamante hẳn đã chú tâm quan sát, dù với cậu đó luôn là ánh nhìn chẳng gợn chút trọng thị hay thành kiến, bởi cậu là một trợ tá y tế chu đáo và giàu sáng tạo. Sau khi thôi làm tại phòng khám, cậu nhiều phen rời gian bếp xen ngang vào việc khám chữa, và cho tôi những lời khuyên bổ ích.
Nhưng trong vai trò đầu bếp Kamante là ngoại lệ và thách thức mọi nỗ lực xếp hạng. Ở đây Tự Nhiên đã có bước nhảy vọt phá vỡ thang bậc phát triển tuần tự của năng lực và tài năng để tạo nên một điều huyền diệu chẳng thể cắt nghĩa, như thường thấy trong các trường hợp của thiên tài. Dưới bếp, tại vương quốc của nghệ thuật ẩm thực, Kamante có đầy đủ đặc điểm của thiên tài, kể cả kiểu số phận đen đủi, sự bất lực của cá nhân bất chấp năng lực họ sở hữu, mà thiên tài vẫn thường phải gánh. Giá sinh ra ở châu Âu, được một người thầy giỏi giang dạy dỗ đến nơi đến chốn, Kamante hẳn sẽ nổi đình nổi đám, lưu danh sử sách như một dị nhân. Ngay giữa xứ châu Phi xa xôi cách trở này, cậu cũng thành danh và trong địa hạt nghệ thuật của mình, tâm thế cậu là thứ tâm thế của một bậc thầy.
Rất hứng thú nấu nướng, trong dịp đầu tiên quay lại châu Âu, tôi đã theo học một đầu bếp Pháp tại nhà hàng danh tiếng bởi nghĩ sẽ vui biết bao nếu tự mình làm được các món ngon lành giữa châu Phi. Khi ấy vị đầu bếp nọ, Monsieur Perrochet, bởi lòng nhiệt thành tôi dành cho môn nghệ thuật này, đã mời tôi hợp tác cùng kinh doanh nhà hàng. Nay tìm ra Kamante, một tâm hồn đồng điệu, để cùng chế biến món ăn, thì niềm đam mê kia lần nữa lại cuốn tôi đi. Cùng nấu với cậu mở ra cho tôi một chân trời mới. Chẳng gì, tôi nhủ thầm, diệu kỳ hơn thứ bản năng bẩm sinh với nghệ thuật bếp núc của chúng ta ở con người hoang dã kia. Điều này khiến tôi có cái nhìn khác về nền văn minh chúng ta; sau cùng, trên một số khía cạnh, văn minh mang yếu tố siêu phàm, tiền định. Cảm giác của tôi giống của một người tìm thấy lại đức tin vào Chúa trời do được nhà não tướng học chỉ cho nếp nhăn chức năng hùng biện thần học nơi não người; nếu sự tồn tại của nếp nhăn ấy được chứng minh, sự đúng đắn của bản thân thần học cũng được chứng minh, và cuối cùng chính sự tồn tại của Chúa.
Ở phạm trù nấu nướng, Kamante có đôi tay trác tuyệt. Các thủ thuật tài tình và thành tựu kiệt xuất * của công việc bếp núc rặt là trò trẻ con dưới bàn tay đen đủi, cong queo của cậu: chúng tự biết hết thảy mọi kiểu trứng tráng, bánh nướng nhân thịt, nước sốt hay sốt mayonnaise. Kamante có biệt tài khiến mọi thứ trở nên dễ như trở bàn tay giống chuyện cổ tích Chúa hài đồng lấy đất sét nặn hình bầy chim rồi bảo chúng vỗ cánh bay. Khinh bỉ mọi dụng cụ phức tạp, dường như khó chịu vì chúng hoạt động quá độc lập, cậu bỏ xó chiếc máy đánh trứng tôi giao đến han gỉ để dùng con dao xén cỏ ngoài vườn mà lòng trắng trứng cậu đánh vẫn bồng bềnh như mấy nùi mây sáng. Bằng con mắt tinh tường, thấu suốt, từ cả một sân nuôi Kamante có thể chọn ra con gà béo nhất hay ang áng khối lượng quả trứng trong lòng bàn tay cũng biết nó đẻ đã mấy ngày. Luôn tìm tòi cách cải thiện thực đơn nhà, bằng cách nào đó Kamante xin được từ người bạn đang làm thuê cho một vị bác sĩ tại vùng xa, hạt giống thứ rau diếp rất thơm mà chính tôi bỏ công nhiều năm dò tìm vẫn vô hiệu.
Tiếng Pháp trong nguyên tác: tours-de-force .
Kamante có một trí nhớ tuyệt vời cho các công thức nấu nướng. Không biết đọc, lại mù tịt tiếng Anh, nên các sách dạy nấu ăn vô nghĩa với Kamante; tuy thế cậu hẳn lưu giữ mọi điều được thụ huấn trong cái đầu kém phần tao nhã theo một hệ thống riêng mà tôi vĩnh viễn chẳng tỏ tường. Đặt tên món ăn theo sự kiện xảy ra trong ngày học cách làm chúng, Kamante có thể nói về nước-xốt-tia-sét-đánh-trúng-cây hay nước-xốt-ngựa-xám-bị-chết mà chẳng hề lẫn lộn. Duy nhất có một thứ tôi gắng khắc ghi vào não cậu mà vẫn thất bại là thứ tự các món trong bữa, thành thử mỗi khi có khách tới ăn tối, tôi phải đưa cho cậu một thực đơn bằng hình vẽ: đầu tiên là hình đĩa súp, tới hình cá, rồi hình gà gô hay bông atisô. Tôi chẳng mấy tin khiếm khuyết này do trí nhớ kém, mà nghĩ thâm tâm cậu vẫn cho mọi thứ đều có chừng có mực của nó nên quyết không uổng phí thời gian vào những điều hoàn toàn nhảm nhí như vậy.
Làm việc cùng yêu nghiệt thật lí thú. Gian bếp vốn là của tôi, nhưng trong quá trình cùng nấu nướng, dần dà tôi có cảm giác không chỉ bếp mà toàn bộ không gian làm việc chung giờ đã chuyển vào tay Kamante. Bởi tại đây cậu thông hiểu đến chân tơ kẽ tóc những gì tôi trông đợi ở cậu, và đôi khi còn thực hiện các mong muốn ấy trước khi tôi kịp nói ra; phần mình tôi vô phương thấu suốt bằng cách nào hay nguyên cớ do đâu cậu làm được như vậy. Tôi thấy thật kì lạ khi một người có thể xuất sắc nhường ấy trong thứ nghệ thuật họ chẳng thấu đáo ý nghĩa thực sự, thậm chí không chỉ không đồng cảm mà còn rẻ rúng.
Kamante có lẽ chẳng hề biết món ăn của chúng ta ngon lành ra sao, và bất chấp quá trình khai hóa đang diễn ra cũng như mối liên hệ hiện tại với nền văn minh, từ sâu thẳm trái tim, cậu là người Kikuyu thuần chất luôn bám rễ sâu vào các tập tục bộ lạc cũng như niềm xác tín ở chúng, như thể đấy là lối sống duy nhất xứng đáng với con người. Họa hoằn cậu cũng nếm món mình nấu, nhưng mang bộ mặt ngờ vực, giống mụ phù thủy đang thử một hớp từ vạc thuốc của mình. Cậu khư khư bám lấy món bắp ngô quốc hồn quốc túy. Thậm chí đôi lần trí óc mẫn tiệp bỏ rơi cậu, và Kamante tìm đến mời tôi một món cao lương mĩ vị của người Kikuyu, khoai lang nướng hay tảng mỡ cừu, hệt chú chó nhà sống cùng người nhiều năm nhả khúc xương xuống trước mặt bạn như một món quà. Tôi cảm nhận, thâm tâm cậu luôn coi việc ta tự chuốc lấy các phiền hà, cực nhọc trong ẩm thực là hoàn toàn rồ dại. Đôi phen tôi gắng tìm hiểu quan điểm Kamante về chủ đề này, nhưng dù thẳng ruột ngựa trong nhiều đề tài, cậu lại rất mực kín đáo ở một số chuyện khác, thế nên hai chúng tôi đành tiếp tục sát cánh bên nhau trong bếp, gác quan điểm về tầm quan trọng của việc nấu ăn trong mắt kẻ đối diện qua một bên.
Tôi thu xếp cho Kamante tới học việc bếp núc tại câu lạc bộ Muthaiga, rồi mỗi bận được thưởng thức một món ngon ở nhà bạn bè tại Nairobi tôi lại gửi cậu cho đầu bếp của họ. Ngay khi Kamante kết thúc giai đoạn học hỏi, bếp nhà tôi liền nức tiếng khắp xứ thuộc địa vì nhiều món ngon khiến tôi nở mày nở mặt. Tôi mong có khán giả thưởng thức nghệ thuật của mình, và mừng rỡ khi bằng hữu tới nhà ăn tối, nhưng Kamante chẳng để tấm lời tán thưởng của bất kì ai. Tuy nhiên cậu nhớ tất tật khẩu vị những người bạn thường lui tới nhà. “Với Bwana * Berkeley Cole cháu sẽ chuẩn bị món cá nấu cùng vang trắng,” cậu nói vẻ nghiêm trọng như nói về một kẻ loạn trí, “ông ấy còn gửi cô cả rượu vang trắng nấu cá nữa đây này.” Nhằm lấy ý kiến từ một thực khách sành sỏi, tôi mời người bạn già, ngài Charles Bulpett từ Nairobi đến dùng bữa tối. Ông Bulpett là lữ khách lịch lãm lớp xưa, những người cách Phineas Fogg* chỉ một thế hệ; ông từng bôn ba khắp địa cầu, tới nơi đâu cũng nếm thử các món ăn địa phương đặc sắc nhất, và chẳng đếm xỉa chuyện sống dai sống dài miễn sao được tận hưởng phút giây hiện tại. Nhiều cuốn sách về thể thao và leo núi năm mươi năm trước đề cập các thành tích điền kinh cũng như những chuyến leo núi của ông ở Thụy Sĩ hay Mexico, và ở một cuốn thuật lại những vụ cá cược đình đám tựa đề Trời cho Trời lấy bạn có thể đọc về vụ đánh cuộc ông bơi qua sông Thames trong phục trang tối mũ ống lêu đêu - nhưng sau đó, lãng mạn hơn nữa, ông còn bơi qua eo biển Hellespont* giống chàng Leander* hay ngài Nam tước Byron*. Tôi rất cao hứng khi ông tới đồn điền dự bữa tối thân mật *; quả thật hạnh phúc khi được chiêu đãi người mình quý mến bằng các món ngon tự tay bạn nấu. Để đáp lại ông chia sẻ các suy ngẫm về thực phẩm cũng như vô vàn điều khác trên đời, và bảo chưa ở đâu ông được dùng bữa tối ngon hơn đây.
Tiếng Swaheli trong nguyên tác, nghĩa là chủ nhân, ông chủ.
Trong nguyên tác là Phineas Fogg. Có lẽ tác giả muốn đề cập tới nhân vật Phileas Fogg lừng danh trong tiểu thuyết Tám mươi ngày vòng quanh thế giới của Jules Verne.
Eo biển chia cắt châu Âu và châu Á với một bên là Hi Lạp, bờ kia Thổ Nhĩ Kì.
Nhân vật trong chuyện thần thoại Hi Lạp Hero và Leander . Tối tối nàng Hero sống bên bờ châu Âu lại treo đèn trên đỉnh tháp nhằm dẫn lối cho chàng Leander bơi từ bờ châu Á sang với mình.
George Gordon Byron (1788-1824): nhà thơ Anh.
Tiếng Pháp trong nguyên tác: tête-à-tête .
Vương Công xứ Wales* đem lại cho tôi niềm vinh hạnh lớn khi ghé thăm dùng bữa tối ở đồn điền, và hết mực tán thưởng món nước xốt Cumberland*. Đó là lần duy nhất Kamante hào hứng lắng nghe tôi thuật lại lời lẽ tán dương món cậu nấu, vì người bản xứ luôn coi trọng vua chúa và thích tán chuyện họ. Nhiều tháng sau, muốn được nghe lại câu chuyện, cậu bất đồ đặt một câu hỏi chẳng khác gì trong sách tập đọc tiếng Pháp, “Cái ông con vị Sultan ấy có ưa món xốt thịt lợn không? Ông ta đã xơi sạch món đó chứ?”
Kamante dành tình cảm cho tôi cả ở bên ngoài gian bếp. Cậu muốn giúp tôi với những quan điểm điều hơn lẽ thiệt của mình. Có lần, vào quá nửa đêm, Kamante bỗng dưng lẳng lặng, như lúc đang làm việc, cầm cây đèn bão đi vào phòng tôi ngủ. Khi ấy hẳn Kamante mới tới ở nhà tôi, bởi cậu hẵng còn loắt choắt lắm. Kamante đứng cạnh giường, với đôi tai xòe to nom giống một chú dơi đen sì bay lạc vào phòng, hay như một đốm lửa ma trơi châu Phi bởi ngọn đèn trên tay. Cậu nói rất nghiêm trọng, “ Msabu , cháu nghĩ tốt hơn cả cô cần trở dậy.” Ngồi trên giường lòng tôi hoang mang nghĩ nếu có chuyện gì nghiêm trọng ắt Farah đã phải tới tìm mình rồi chứ, tuy nhiên khi tôi nhắc lại yêu cầu đi đi cho tôi còn ngủ thì Kamante vẫn đứng chôn chân chẳng nhúc nhích. “ Msabu ,” cậu nhắc lại, “cháu cho là tốt nhất cô nên dậy đi. Cháu cho là Chúa đang tới đấy.” Nghe vậy rốt cục tôi rời khỏi giường và hỏi cậu vì sao nghĩ như thế. Kamante nghiêm trang dẫn tôi vào phòng ăn nhìn ra hướng Tây, về phía rặng núi. Qua khung cửa sổ, tôi bắt gặp một hiện tượng kì lạ. Trong núi đang có một đám cháy rừng rực, lửa cháy vạch một đường từ đỉnh núi xuống tới bình nguyên. Nhìn từ trong nhà ra, đường lửa ấy cơ hồ thẳng đứng, giống một bóng người khổng lồ đang di chuyển lại phía chúng tôi. Sau một lúc lặng ngắm, tôi cất lời giảng giải trấn an Kamante đứng kế bên, vì nghĩ cậu đích thị đang hồn vía lên mây. Nhưng dường như cậu chẳng để vào tai những lời tôi giải thích; Kamante rõ ràng cho rằng phận sự của mình đã hoàn tất sau khi đánh thức được tôi. “À vâng,” cậu bảo, “có thể vậy. Song cháu cho rằng tốt nhất cô nên dậy phòng khi đây thực sự là Chúa giáng thế.”
Tước vị của thái tử Anh.
Thứ nước xốt chế từ hoa quả, thường dùng cho các loại thịt đỏ, như lợn hay cừu.