Chiếc Xe Sắt

Lượt đọc: 985 | 3 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
TRANG TRẠI CỔ

Ngày hôm sau, khi đã gần trưa, tôi giật mình tỉnh dậy và cảm thấy rằng khi ấy tôi không ở một mình trong phòng. Tôi ngồi dậy trên giường và đảo mắt nhìn quanh. Một cái hộp đen, không phải của tôi và tôi cũng chưa từng nhìn thấy nó trước đây, nằm trên bàn. Nó là một cái máy ảnh. Trên cái ghế ở cạnh bàn có một người đàn ông trung niên đang ngồi.

Tôi lại nằm xuống, vẫn ngái ngủ đến mức chưa hiểu gì, vì vẫn còn ngái ngủ.

Một giọng điềm tĩnh và dễ chịu cất lên:

“Anh cứ nằm xuống… Anh cứ nằm xuống, đừng ngại.”

Đó chắc hẳn là ông ta, vị thám tử. Tôi nghĩ.

Tôi hỏi:

“Ông vào phòng tôi bằng cách nào vậy?”

“Hết sức dễ dàng,” giọng nói dễ chịu đó trả lời, “qua cửa ra vào.”

“Vậy thì hẳn là ông bước êm lắm. Tôi thường ngủ không sâu giấc.”

“Vâng,” người đàn ông trả lôi, “tôi biết ông đang ngủ, vì vậy đã rón rén bước vào hết sức cẩn thận, không gây ra tiếng động.”

Tôi ngồi dậy trên giường, chưng hửng nhìn người đàn ông và hỏi:

“Tại sao ông không muốn gây ra tiếng động?”

“Để không quấy rầy ông.”

Người đàn ông xa lạ mỉm cười một cách rộng lượng, đồng thời cũng chứa nét mỉa mai.

Từ trên giường tôi có thể quan sát ông ta rất dễ dàng và chính xác. Tôi đoán tuổi ông ta chừng từ ba mươi lăm cho đến bốn mươi. Ông ta có chiều cao trung bình và đôi vai rộng. Đầu hơi nhỏ so với cái cổ to bè, tóc đang hói dần, một bộ ria mép dã lốm đốm bạc và đeo kính mắt không gọng có vành màu đen. Đôi mắt đảo liên tục lóe lên tia kỳ dị. Khi ông ta nheo hai mắt lại, chúng như hai đường màu đen ở phía sau mắt kính; làm ông như đang tỏ vẻ mỉa mai và nghi hoặc; nhưng khi ông ta nhìn tôi thì chúng lại mở to tới mức bất thường và sắc bén. Con người này cho tôi ấn tượng không dễ mến cho lắm.

“Ông là ai?” Tôi hỏi.

“Điều này thì ông đã đoán ra rồi,” ông ta trả lời. “Tên tôi là Asbjörn Krag.”

“Cảnh sát?”

“Thám tử,” ông ta sửa lại. “Cách gọi nhân viên cảnh sát chỉ dùng cho những người làm việc cho nhà nước. Từ lâu rồi tôi không còn làm việc nhận tiền lương cố định nữa. Tôi tự làm chủ bản thân, vì vậy mà tự gọi mình là thám tử tư. Mà này, ông ngủ đúng là không sâu thật đấy.”

“Tại sao?”

“Tôi chỉ cần nhìn ông một chút là đủ để ông mở mắt ra.”

“Ông có thể đánh thức người đang ngủ chỉ bằng cách nhìn chòng chọc vào họ thôi à?”

“Có lẽ vậy! Dễ quá thể luôn. Nếu tôi biết trước rằng ông ngủ không say giấc thì tôi đã không nhìn ông lâu đến như thế.”

“Tại sao không?”

“Tôi luôn muốn quan sát những người đang ngủ và lắng nghe họ. Có một số người nói ra trong giấc ngủ những gì họ biết.”

“Ông muốn gì ở tôi?”

“Tôi muốn nói chuyện với ông về vụ án mạng. Người ta thuật lại với tôi rằng ông là người cuối cùng nhìn thấy nạn nhân lúc còn sống.”

“Đúng thế, tôi đã nhìn thấy anh ta lúc 10 giờ rưỡi đêm.”

“Rồi anh ta bị giết chết vào đúng 11 giờ.”

Gương mặt của tôi có lẽ đã biểu lộ một ít ngạc nhiên trước sự thẳng thừng đó, vì ông ta tiếp tục nói ngay:

“Suy ra điều này không khó lắm đâu. Đi từ trang trại ấy đến nơi xảy ra án mạng hết nửa giờ đồng hồ thôi.”

“Nhưng người ta không biết anh ta có đi đâu nữa hay không,” tôi phản đối.

“Ông quên là trời đã mưa,” vị thám tử trả lời. “Dấu vết cho thấy con người bất hạnh đó đã ngã xuống trước khi trời bắt đầu mưa.”

Tôi không có gì để đáp trả lại.

Asbjörn Krag đứng dậy.

“Bây giờ tôi sẽ đi dạo bên ngoài một chút, cho tới khi ông thay xong y phục,” ông ta nói. “Tôi hiếm khi có cơ hội về đồng quê; cho nên nếu có thể tranh thủ trong vài giờ ít ỏi mà tôi có được thì thật là hay. Không khí thật trong lành!”

“Ông muốn rời khỏi đây nhanh như thế à?”

“Có thể, nhưng tôi không đi khỏi đây một mình.”

“Ai sẽ đi cùng ông?”

Vị thám tử nheo mắt lại và mỉm cười:

“Kẻ giết người chứ còn ai nữa.”

Người ta bắt đầu to tiếng trong phòng bên cạnh. Krag lắng nghe.

“Người ta đang nói về người đã chết,” ông ta nói. “Tất cả mọi người đều nói về anh ta.”

Ông ta gật đầu chào tôi rồi đi ra ngoài, cầm theo máy ảnh.

⚝ ⚝ ⚝

Tôi nằm thêm một lúc và duỗi người trên giường, trăn trở với những suy nghĩ của riêng mình. Dù không hề muốn nhưng cuối cùng tôi cũng ra khỏi giường, mặc quần áo mỏng mùa hè vào. Khi tôi mở cửa sổ ra, hơi ấm từ bên ngoài tràn vào thật dễ chịu. Bên ngoài yên lặng và có sương mù. Bầu trời dường như nằm sát mặt đất, như thể nó muốn ép bầu không khí lại, trở nên nóng nực và ngột ngạt hơn. Không một chiếc lá nào đung đưa, cơn bão đêm qua cũng đã tan từ lâu.

Tôi đứng đó một lúc, lắng nghe tiếng nói từ phòng bên cạnh. - Tường mỏng thật, tôi nghĩ thầm, châm một điếu thuốc lá rồi bước ra ngoài. Khi bước vào phòng khách lớn, tôi đến gặp bà chủ và yêu cầu cho tôi một phòng khác vì trên đó quá ồn ào, tiếng người nói xung quanh gây phiền cho tôi. Bà chủ khách sạn hứa sẽ giải quyết vấn đề. Bây giờ tôi mới nhìn quanh để tìm viên thám tử. Tôi nhanh chóng nhìn thấy ông ta trong bóng râm dưới tán cây to.

“Ông cứ đứng yên,” ông ta lớn tiếng gọi tôi. “Tôi chụp một tấm ảnh, nhìn nghiêng ông thật đẹp.”

Máy ảnh kêu tách một tiếng. Ông ta mỉm cười, bước đến bên tôi và xin lỗi.

“Chụp ảnh dạo”, ông ta nói, “là đam mê mới nhất của tôi. Vì tôi luôn cố sống cố chết với những sở thích, nhất là với tư cách một nhiếp ảnh gia nghiệp dư, thành thử cũng gây phiền phức cho những người xung quanh. Ông đứng nổi bật trước vách đá đen quá nên… Tôi hy vọng ông sẽ thứ lỗi cho tôi. À mà này, ông ăn sáng chưa?”

Câu hỏi này đến thật bất ngờ.

“Chưa,” tôi trả lời. “Vì ông háo hức muốn nói chuyện với tôi nên tôi không muốn để ông chờ lâu hơn nữa.”

“Biết mà, biết mà,” ông ta lầm bầm trong khi thong thả luồn cánh tay mình vào dưới cánh tay tôi. “Cứ đi theo tôi, ông sẽ ngạc nhiên khi thấy tôi sắp xếp hay ho tới nhường nào.”

Sau đó, ông ta kéo tôi vào một gian phòng nhỏ khá biệt lập trong khách sạn, nơi có một cái bàn đã được dọn sẵn bữa sáng cho hai người. Trên bàn có củ cải và trứng, bánh mì trắng mềm, tôm càng, cá ướp lạnh và nhiều món ngon khác, đặc biệt dễ chịu trong cái nóng nực của mùa hè; thêm vào đó là những chiếc khăn ăn trắng tinh thoảng mùi thơm. Tinh thần của tôi phấn chấn hẳn lên; tôi nói lời cảm ơn vị thám tử vì sự chu đáo của ông ta.

“Người ta dễ nói chuyện hơn khi ở cạnh một cái bàn ăn như vậy”, ông ta nói. “Tôi đói lắm rồi, vì hôm nay tôi đã đi khá nhiều.”

“Vậy thì chắc ông đến đây sớm lắm?”

“Lúc 5 giơ rưỡi, trên một chiếc thuyền máy. Tôi đã tới thăm ông mục sư rồi.”

“Ông muốn gì ở ông ấy kia chứ?”

“Chỉ muốn hỏi vài câu chung chung thôi. Vì ông ấy không có điện thoại nên tôi phải đích thân đến tìm. Tôi chỉ muốn biết con ngựa của ông ấy đêm qua có đi đâu không.”

Tôi nhìn vị thám tử.

“Thế tức là ông đã nói chuyện với ông đánh cá Jan Jansen rồi à?”

“Đúng rồi. Ông có tin vào chiếc xe sắt không?”

Sau một thoáng suy nghĩ, tôi trả lời:

“Ông đưa ra toàn những câu hỏi kỳ lạ, khiến tôi thật bất ngờ. Làm sao ông có thể cho rằng tôi, một người thực tế như này, lại có thể tin vào câu chuyện đặc mùi tưởng tượng xưa cũ ấy được.”

“Nhưng ông cũng nghe được tiếng loảng xoảng của chiếc xe kia mà?”

“Đúng thế!”

“Từ phía xa?”

“Vâng! Rất, rất xa. Nhưng tôi vẫn dám thề rằng tôi nghe được tiếng chiếc xe chạy trên cánh đồng hoang.”

“Ông có thể mô tả lại tiếng động đó được không? Nó có giống tiếng loảng xoảng của một sợi xích không?”

“Khá là giống đấy. Tiếng sắt rổn rảng như thế hiển nhiên là nghe thấy rồi.”

“Thật là thú vị,” vị thám tử lầm bầm. “Ông có muốn thuật lại cho tôi nghe tất cả những gì ông đã trải qua hay không, bắt đầu từ lúc ông nhìn thấy viên kiểm lâm đáng thương đó trong khu vườn của trang trại cho tới khi ông đi ngủ, càng chi tiết càng tốt?”

Tôi thuật lại cho ông ta nghe tất cả những gì tôi biết. Khi kể đến đoạn tìm thấy xác chết, tôi cũng không quên mô tả sự sợ hãi của nhưng người phụ nữ lẫn bộ dạng làm ra vẻ quan trọng của anh sinh viên y khoa. “Ông thử nghĩ xem,” tôi nói, “anh ta đánh hơi quanh dấu vết, vâng, lại còn đo khoảng cách đến cái cây gần nhất nữa.”

Nhưng các chi tiết ấy dường như không gây được sự chú ý ở người thám tử.

“Thật thế ư,” ông ta lơ đãng nói, “thế, cứ tiếp tục đi.”

Khi tôi nói đến cái mũ, ông ta hỏi:

“Chiếc mũ nằm cách người chết một khoảng à?”

“Vâng.”

“Chừng bao xa?”

“Tôi không thể nói chính xác, nhưng tôi nghĩ chừng hai, ba mét.”

Khi tôi dứt lời, Asbjörn Krag ngồi trầm tư suy nghĩ một lúc lâu.

“Một câu chuyện lạ lùng,” ông ta thì thầm.

“Vâng, bây giờ thì tôi đã kể đến đoạn tối hôm qua,” tôi tiếp tục. “Nhưng tôi còn phải nhắc đến một việc.”

Vị thám tử nhíu mắt lại, và rồi cái nét mỉa mai, nghi ngờ lại xuất hiện trên mặt ông ta.

“Đêm qua ông đi ngủ lúc mấy giờ?”

“Lúc một rưỡi,” tôi trả lời.

“Thế thì tôi biết chính xác là ông còn muốn kể thêm điều gì nữa. Tôi tin chắc ông cũng nghe thấy tiếng chiếc xe sắt vào đêm qua.”

Tôi không biết phải trả lời như thế nào, vì ông ta nói rất đúng.

Đúng lúc này, một chiếc xe dừng lại bên đường. Vị thám tử nhìn ra cửa sổ.

“Ông cảnh sát trưởng đến đón tôi. Ông được phép đi cùng.”

“Đi đâu?”

“Đến trang trại. Tôi còn chưa đến đó. Ông không thích đi cùng à?”

Tôi suy nghĩ.

“Ông chắc cũng hiểu rằng,” tôi nói, “tôi khá căng thẳng vì những sự việc ngày hôm qua. Tôi không muốn phát sinh thêm vấn đề gì nữa.”

“Căng thẳng nào nữa vậy?” Vị thám tử mỉm cười hỏi. “Tôi muốn nói chuyện với người chủ trang trại Gjaemaes và muốn nghe về chuyến viếng thăm cuối cùng của con người bất hạnh đó. Ông sẽ giúp ích cho tôi rất nhiều, nếu như ông đi cùng.”

“Nhưng tôi không quan tâm nhiều đến sự việc này cho lắm. Ông mang anh chàng sinh viên y khoa đi theo thì hơn.”

Vị thám tử cương quyết nắm lấy cánh tay tôi.

“Ông cứ đi cùng,” ông ta nói, “ông sẽ không bỏ lỡ việc gì đâu.”

Cảnh sát trưởng cư xử hết sức lịch sự đối vối vị thám tử. Ông ta thậm chí còn chải sạch chỗ ngồi trên xe, mặc dù nó không hề bẩn. Khi chúng tôi khởi hành, một số vị khách của khách sạn đứng trên hàng hiên, hiếu kỳ quan sát chúng tôi; sinh viên y khoa đi xuống trong bộ đồ thể thao trắng tinh; anh ta rất muốn được đi cùng nhưng ông cảnh sát đã cho xe chạy ngang qua. Anh ta thất vọng đứng lại, lấy tay che mắt nhìn theo. Tôi vẫy tay chào mỉa mai, thật không có thiện cảm với anh chàng ấy, mặc dù trông anh ta khá bảnh bao. Bộ râu của anh ta được chăm sóc kĩ lưỡng và ẩn giấu bên dưới là nụ cười nhạo báng.

Khi chúng tôi đến căn nhà của những người đào cát, ông cảnh sát trưởng đứng lại theo yêu cầu của Asbjörn Krag. Krag kiểm tra lại chiếc máy ảnh và nhờ ông cảnh sát trưởng mở cửa ngôi nhà nhỏ đó.

“Ông muốn gì ở trong đó?” Tôi hỏi. “Ông đã nhìn thấy người chết rồi mà?”

“Đúng thế,” vị thám tử trả lơi, “nhưng lúc đó tôi không có đủ ánh sáng.”

“Không đủ ánh sáng?”

“Vâng, để chụp ảnh người chết. Ông không hiểu à?”

“Nhưng như vậy thì ông đã vi phạm thỏa thuận rồi,” tôi phản đối. “Ông hứa với tôi là không căng thẳng gì cơ mà.”

Trong lúc đó, ông cảnh sát trưởng loay hoay kéo thanh chốt cửa ra. Asbjörn Krag và tôi đứng bên cạnh chiếc xe. Đôi mắt híp cùng biểu cảm hoài nghi trên khuôn mặt cho thấy ông ta đang khó chịu.

“Ông sợ không dám nhìn anh ta à?” Ông ta hỏi. “Nếu thế thì ông có thể ở lại ngoài này. Tôi không ép ông phải đi vào trong đó.”

Không trả lời, tôi bước nhanh về phía ngôi nhà. Asbjörn Krag đi theo sau, vẫn còn bận bịu chỉnh sửa cái máy ảnh của ông ta.

Ngôi nhà nhỏ của những người đào cát giống như những căn nhà bé tí được xây ở các vùng đất không người trong lúc làm đường sắt. Căn nhà này trước kia được dùng để chứa cuốc, xẻng và những đồ dùng khác phục vụ việc đào cát. Vẫn còn một dãy những dụng cụ được để dựa vào các bức tường, trên đó phủ một lớp đất sét đã khô cứng.

Chỉ có một gian phòng trong căn nhà này.

Vị thám tử mở cửa sổ, để không khí trong lành có thể ùa vào. Ngay giữa phòng có một cái bàn rộng, thô sơ. Nạn nhân được đặt trên đó.

Tôi bước lại gần, nhìn vào mặt ông ta. Bây giờ thì tôi cũng nhớ lại những gì anh chàng sinh viên y khoa đã nói ngày hôm qua, và phải thầm công nhận rằng anh ta nói đúng. Người chết đúng là trông như đang mỉm cười, và trong nụ cười ấy có một nét nhạo báng nhất định, một nét gì đó tựa như đắc thắng.

Tôi bất chợt giật mình vì nghe thấy một tiếng tách phát ra từ chiếc máy ảnh của vị thám tử. Khi quay lại, tôi thấy ông ta đang chăm chú nhìn tôi.

“Tôi nghĩ, ông muốn chụp hình người chết,” tôi nói.

“Đúng thế,” vị thám tử trả lời, “nhưng tôi phải đồng thời chụp gương mặt của ông. Ông bộc lộ một nét ngạc nhiên và kinh sợ không thể nhầm lẫn được. Nó giống như một thói quen khó bỏ của tôi, đó là ghi lại những cảm xúc biểu lộ ra ngoài.”

Vị thám tử xoay chiếc bàn đặt thi thể nạn nhân, để ánh sáng ban ngày chiếu được vào khuôn mặt. Viên kiểm lâm bây giờ trông như vẫn còn sống; má vẫn còn nét hồng hào. Tôi đứng trước anh ta và kinh ngạc nhìn xuống gương mặt nằm nghiêng với vầng trán cao. Tóc anh ta dày và có màu nâu, được chải sang bên phải. Bộ râu của anh ta ánh lên màu đỏ nhẹ.

“Chúng ta có nên chỉnh lại cà-vạt cho anh ta không,” tôi hỏi vị thám tử. Chiếc cà-vạt đã bị đẩy ra sau trong lúc ngã xuống nên cái nút cà-vạt nằm trên một tai, và cái chiếc áo được hồ cứng bị gãy ở hai nơi.

“Không,” vị thám tử trả lời, “ông cứ để yên như cũ.”

Tôi có cảm giác rằng vị thám tử này không muốn ngừng việc chụp hình người chết. Không khí trong phòng càng lúc càng ngột ngạt hơn, tôi cảm thấy khó chịu nhưng không muốn để ông ta nhận ra sự yếu đuối của mình. Cuối cùng thì ông ta cũng xong, nhưng khi ông ta gập chiếc máy lại thì tôi suýt chút nữa cũng bất tỉnh. Asbjörn Krag mở cửa để gió thổi vào gian phòng. Điều này khiến cho tôi cảm thấy dễ chịu. Tôi có thể nhận thấy gương mặt viên cảnh sát trưởng cũng hơi tái xanh một chút, vì ông ta chưa bao giờ liên quan đến những việc như thế này. Ngược lại, Asbjörn Krag vẫn cứ bình thản và điềm tĩnh như trước đó. Ông ta vừa huýt sáo vừa đưa một tấm phim khác vào trong chiếc máy ảnh. Người chết trên cái bàn trước mặt ông ta dường như chỉ là một mô hình chụp ảnh hay ho.

“Bây giờ chúng ta đi tiếp được chưa?” Tôi hỏi.

“Chưa,” ông ta trả lời. “Tôi còn muốn xem xét chiếc mũ nữa.”

Ông ta cầm chiếc mũ của người chết, đặt nó lên những đầu ngón tay và trầm ngâm xem xét, tựa hồ như đang đứng ở nơi gửi áo mũ dành cho đàn ông và tìm một cái mũ.

“Ông có nhớ,” ông ta quay sang hỏi tôi, “anh ta đội mũ như thế nào không, khi ông nhìn thấy anh ta lần cuối cùng?”

“Thì như người ta luôn đội một chiếc mũ đi săn màu xanh thôi, không có gì khác thường,” tôi trả lời.

Rõ ràng vị thám tử không quan tâm rằng tôi đang bực mình vì ông ta đã phí nhiều thời gian đến thế trong gian phòng này, bên cạnh một người đã chết.

“Để xem nào,” ông ta lầm bầm trong lúc chụp chiếc mũ đi săn màu xanh ấy lên đầu tôi.

“Tức là như thế này,” ông ta tiếp lời, và chỉnh chiếc mũ một chút. “Nó phải như thế này… Rất thú vị. Ông cảm thấy không ổn à?” Ông ta hỏi.

“Tôi không có thần kinh thép,” tôi nói. “Ông nhìn ông cảnh sát trưởng mà xem, dường như ông ấy cũng cảm thấy không được khỏe.”

“Ô, ngược lại,” người này nhanh nhảu trả lời. “Tôi chỉ cảm thấy không khí trong này… hơi oi bức và ngột ngạt.”

“Vâng, nhưng giờ thì chúng ta cũng xong việc rồi. Xin lỗi vì tính chậm chạp của tôi.”

Vị thám tử đặt tay lên vai tôi; nheo mắt nhìn cho đến khi mắt ông ta trở thành hai cái vạch đen ở phía sau cặp kính không gọng.

“Ông nói đúng đấy, thần kinh của ông không phải bằng thép.”

Ông ta đặt chiếc mũ đi săn màu xanh lên ngực người chết; rồi chúng tôi rời ngôi nhà của những người đào cát. Ông cảnh sát trưởng đẩy chiếc then cài cửa lại.

Tôi có cảm giác như được giải thoát khi có thể bước ra ngoài trên cánh đồng hoang và hít thở không khí trong lành dưới bầu trời xanh cao. Trong lúc chúng tôi vắng mặt, con ngựa đã đi xa khỏi con đường để ăn cỏ và kéo chiếc xe xuống một con mương: ba chúng tôi phải hợp sức để cố kéo chiếc xe về lại đường như cũ. Rồi chúng tôi tiếp tục đi đến trang trại Gjaemeas, lúc này đã 2 giờ chiều. Vị thám tử dường như cũng thích phong cảnh vùng này, ông ta chỉ tay về phía khu rừng và ao nước, như thể đang vẽ một bức tranh, và nói:

“Cảnh đẹp này phải họa sĩ vẽ mới xứng.”

Thật ngạc nhiên khi ông ta có thể nghĩ đến những điều như thế trong lúc này, đáng lẽ mọi ý nghĩ của ông ta chỉ nên xoay quanh cái điều bí ẩn đáng sợ và kỳ lạ ấy, mà giải đáp nó chính là nhiệm vụ ông ta tự đặt ra cho mình.

Chúng tôi đến gần trang trại Gjaernaes. Trên cánh đồng, mọi người đang luôn tay luôn chân. Họ đứng thẳng người và dùng tay che trên mắt để không bị chói nắng khi xe của chúng tôi chạy ngang qua. Asbjörn Krag trầm trồ khen ngợi con đường đầy bóng cây xinh đẹp dẫn vào trang trại. Ở phía cuối lối đi, người ta nhìn thấy mặt tiền màu trắng của ngôi nhà. Khi chúng tôi chạy ngang qua khu vườn, tất cả những màu sắc sặc sỡ tươi đẹp đập vào mắt: những tán hoa màu tím nhô ra giữa các tấm ván trắng như tuyết của hàng rào; tất cả cửa ra vào và cửa sổ của ngôi nhà chính đều được mở tung ra, gió tự do thổi vào nhà và chơi đùa với các tấm màn. Thoảng trong gió có mùi rơm và mùi cỏ ba lá đang nở hoa - tóm lại, đó là một ngày hè sôi nổi dưới bầu trời rộng lớn của Chúa.

Ông cảnh sát trưởng giật cương dừng ngựa, làm những hòn đá dăm nóng bỏng kêu lạo xạo dưới chân chúng. Chúng tôi vẫn ngồi trên xe và nhìn cánh cửa ra vào, xem có ai đó bước ra hay không. Cuối cùng, một người đàn ông đầu trần xuất hiện trong chiếc áo khoác màu trắng ở khung cửa. Đó là ông quản gia; tôi gật đầu chào ông ta và nhảy xuống.

“Ông bà chủ có ở nhà không?” Tôi hỏi.

“Có chứ.”

Ông ta vẫn đứng yên tại chỗ, thọc tay vào túi quần và tò mò nhìn chúng tôi.

“Chúng tôi muốn nói chuyện với ông Gjaemaes,” tôi bước tới đề nghị.

“Thế thì ông phải vào trong nhà,” người quản gia trả lời nhưng không rời ô cửa.

Giờ thì tôi nhìn ông ta kĩ hơn. Đó vẫn là ông quản gia đã không cho tôi vào nhà đêm hôm kia. Tôi thấy ông ta vẫn còn rất xanh xao. Đôi mắt ông ta nheo lại, chứng tỏ ông ta đã có những đêm không ngủ; nét xanh xao cùng với vẻ ngoài vàng nhợt nhạt, như những con người khỏe mạnh, cứng cỏi biểu lộ khi họ có một nỗi lo âu nặng trĩu hay sự sợ hãi tột độ.

Cuối cùng con người chậm chạp ấy cũng bắt đầu cử động, ông ta dẫn chúng tôi vào một gian phòng. Vị thám tử đặt hộp máy ảnh lên trên bàn, và đứng trân trân nhìn ông quản gia. Mãi một lúc sau, cho tới khi ông quản gia ngạc nhiên về sự tò mò của vị thám tử, quay sang hỏi tôi:

“Ông ta là ai?”

“Tôi đến từ Christiania,” Krag trả lời, “và là thám tử.”

Krag lại nhìn chăm chú ông ta và nói thêm:

“Còn ông là quản gia ở đây, đúng không?”

“Đúng vậy.”

Ông quản gia xoay người lại và lầm bầm về việc thông báo cho chủ nhà biết. Ông ta rõ làng có chút ngượng ngùng, xoay người lại một lần nữa ở cửa ra vào, nhưng khi chạm phải ánh mắt của Asbjörn thì ông ta nhanh chóng biến mất.

Một nụ cười kỳ lạ xuất hiện quanh miệng của vị thám tử. Ông ta ngồi xuống cạnh cửa sổ, quay lưng lại với ánh sáng. Đôi mắt ông ta khép lại một nửa, giống như đang quan sát chiếc mũ rơm trên đầu gối mình bằng tất cả sự chú ý. Ông ta bất động trong khi ngài cảnh sát trưởng đứng cạnh cửa sổ và trông chừng con ngựa. Thỉnh thoảng, giọng nói giận dữ của một phụ nữ vang lên trong ngôi nhà, còn ở ngoài đường có tiếng chuông xe đạp kêu. Nhưng lại không có ai.

“Ông đã nhìn kĩ người quản gia chứ?” Tôi hỏi.

“Hử?” Vị thám tử đáp lời như muốn nói, “Thì sao?”

“Ông có quan sát gương mặt của ông ta không? Tôi có cảm giác ông ta rất không vui.”

“À há.”

“Ông nên nói chuyện với ông ta.”

“À há, tại sao vậy?”

“Có thể ông ta biết điều gì đó.”

“Ông ta có thể biết điều gì kia chứ?”

Câu hỏi này làm tôi bối rối; tôi không muốn tiếp tục nói chuyện nữa. Cuối cùng, sau hơn mười phút chờ đợi, chúng tôi nghe được tiếng bước chân trong gian phòng kế cận, người đó bước một cách nặng nề về phía chúng tôi.

Đó chính là Gjaemaes, người đàn ông vạm vỡ ở độ tuổi bốn mươi. Anh ta tươi cười gật đầu chào tôi, bắt tay tôi và chào mừng tất cả chúng tôi sau khi tôi giới thiệu về Asbjörn Krag.

Anh ta hỏi ngay vị thám tử:

“Ông đến đây vì vụ án mạng?”

Asbjörn Krag xác nhận điều đó. Gjaemaes trầm tư gật đầu và lầm bầm nói, tựa như chỉ để cho chính mình nghe:

“Vâng, vâng, người ta có thể trải qua những việc thật kỳ lạ.”

Thái độ của anh ta trong khoảnh khắc này kỳ lạ tới mức khiến tôi giật mình. Tôi chợt nghĩ: Asbjörn Krag phải nghĩ như thế nào về việc đó? Ông ta đến đây để làm sáng tỏ một vụ giết người bí ẩn, và những người mà ông ta trao đổi cho tới nay chỉ thể hiện sự ghê tởm và kỉnh sợ về hành động đó. Bây giờ thì ông ta đến trang trại này, hy vọng tìm được một vài thông tin về hành vi của kẻ bạc mệnh trong những giờ phút cuối cùng. Ông ta gặp người quản gia của Gjaernaes và ngạc nhiên về vẻ ngoài hờ hững và u sầu cửa người đàn ông này. Cả người chủ trang trại cũng ứng xử như thể vừa gặp phải một bất hạnh lớn lao, không thể nào bù đắp. Tôi chưa bao giờ nhìn thấy một người nào buồn bã, bất hạnh như Gjaemaes! Chẳng cần gì nhiều thì kể cả người lạ cũng sẽ nghi ngờ rằng những người ở trang trại này, người chủ cũng như người quản gia, phải biết nhiều về tên tội phạm hơn chúng tôi. Asbjörn Krag ngạc nhiên nhìn anh ta. Gjaemaes lúc đầu đi lại trong gian phòng trước mặt vị thám tử. Rồi anh ta kiềm chế, khó nhọc buộc mình phải bình tĩnh lại và đúng bất động ở giữa phòng - không chớp mắt cũng không động ngón tay. Tôi biết trạng thái đó, khi sự hồi hộp đang áp đảo người ta lại đem lại sự bình thản, trong khi mọi dây thần kinh đều căng như dây đàn.

“Kiểm lâm Blinde rời trang trại này vào khoảng 11 giờ đêm hôm kia,” vị thám tử bắt đầu. “Ở khách sạn, người ta nhìn thấy anh ta lúc 9 giờ. Tức là có lý do để cho rằng anh ta đã ở đây trong khoảng một tiếng rưỡi. Có đúng không?”

“Vâng, đúng thế.”

“Anh ta đến đây với mục đích gì?”

“Cậu ta đến đây vì một việc quan trọng.”

“Vì một việc quan trọng?”

“Vâng, cậu ta đến đây để xin cưới em gái tôi.”

Tiếp đó là một sự im lặng kéo dài trong bầu không khí nặng nề.

Rồi Asbjörn Krag hỏi tiếp:

“Khi rời khỏi nơi đây Blinde hạnh phúc hay không vui?”

“Tôi đoán rằng,” Gjaemaes nói, “cậu ta đã vô cùng hạnh phúc, vì cậu ta yêu em gái tôi và em tôi đã đính hôn với cậu ta.”

Tôi không chờ được cho tới khi vị thám tử lái câu chuyện sang hướng khác mà nói xen vào:

“Trước khi rời khỏi đây, anh ta có nói điều gì đó về việc mình có kẻ thù hay không?”

“Tôi nghĩ là cậu ấy có nhắc đến việc đó.”

Asbjörn Krag đứng bên cạnh nhìn tôi và để cho tôi hỏi tiếp:

“Anh ta có nói tên họ của ai đó ra không?”

“Không, cậu ta không làm điều đó. Cậu ta hạnh phúc và hài lòng tới mức ý nghĩ về những kẻ thù chỉ như bóng tối thoảng qua trong tâm trạng cậu ta mà thôi. Tôi nhớ lúc sắp sửa ra về, cậu ấy còn nói to: Nghĩ xem sẽ có bao nhiêu người ghen tị với tôi đây. À mà, hẳn là tôi đã gây thù chuốc oán với bao nhiêu kẻ thù tồi tệ rồi.

“Ông có tán thành cho cuộc hôn nhân này không?”

“Có, tất nhiên rồi,” Gjaernaes trả lời.

“Tại sao lại là tất nhiên?”

“Vì chính em tôi muốn thế. Tôi không bao giờ phản đối những gì em tôi muốn.”

“Thế thì tôi muốn hỏi thẳng ông một câu,” Asbjörn Krag tiếp tục. “Mối liên kết này có khiến ông hài lòng không?”

“Không,” Gjaemaes nghiêm trang trả lời.

“Tại sao không?”

“Tất nhiên là vì tôi không thích anh kiểm lâm đó. Tôi không có thiện cảm với cậu ta. Tôi luôn có ấn tượng rằng cậu ta rất trịnh thượng và cao ngạo, kể cả khi đã quen lâu rồi nhưng cậu ta vẫn không biết sửa. Ngay cả trong khoảnh khắc đính hôn với em gái tôi, cậu ta cũng làm cho tôi cảm thấy không dễ chịu. Có vẻ cậu ta tỏ vẻ đắc thắng.”

Asbjörn Krag bất ngờ tỏ vẻ quan tâm nhiều hơn.

“Ông vừa mới dùng từ đắc thắng, phải không?” Ông ta hỏi.

“Phải, tôi đã thấy như thế…”

“Nhưng người ta có thể dùng từ đó với nhiều nghĩa khác nhau. Anh ta đắc thắng vì đã may mắn được đính hôn với em gái ông, hay là tự cao tự đại vì là anh ta đã có được cái phúc ấy chứ không phải đối thủ nào khác.”

“Tôi muốn nói tự cao tự đại. Cậu ta luôn luôn có một vẻ tự cao.”

“Ông có ngạc nhiên không khi nghe về vụ việc?”

“Ngạc nhiên là một mô tả quá nhẹ nhàng,” Gjaemaes trả lời. “Tôi sợ đến cứng đờ cả người.”

“Còn em gái ông?”

“Con bé đã khóc cả ngày. Nó vừa lên giường nằm nghỉ vì cảm thấy đau khổ và không được khỏe.”

“Tôi rất muốn nói chuyện với cô ấy.”

Gjaernaes đột nhiên cảm thấy bất an tới mức anh ta bắt đầu nói lắp.

“Điều này khó đấy,” anh ta nói, “em tôi đã đi ngủ.”

Asbjörn Krag không nói gì, nhưng ngay lập tức lại chuyển sự quan tâm của mình sang những đồ vật trong phòng. Trần gian phòng tương đối thấp, như ở phần lớn các trang trại; bàn ghế đã cũ được bọc bằng một loại vải sọc đã bạc màu.

“Tôi luôn rất hứng thú khi được lang thang tại các trang trại cổ,” vị thám tử nói trong lúc đứng dậy. “Tôi có được phép tham quan các gian phòng khác không, thưa ông Gjaemaes?”

“Tất nhiên rồi, rất sẵn lòng. Nhưng ông đến không đúng lúc lắm,” Gjaemaes trả lời. “Chúng tôi đang rất bận rộn với công việc mùa hè và không có thời gian để quét dọn chúng.”

“Không sao cả.”

Vị thám tử nhìn ra cửa sổ, gật đầu hài lòng. Trên sân, ông quản gia đang đúng đó và giữ dây cương ngựa, mặc dù điều đó hoàn toàn không cần thiết. Trong lúc đó, ông ta thì thầm với con ngựa, còn con ngựa lại phe phẩy hai tai để đuổi ruồi. Tôi có cảm giác ông quản gia đứng đó chỉ để chờ đến khi vị thám tử đi về.

Gjaernaes dẫn chúng tôi đi qua các gian phòng cũ, và Asbjörn Krag quan tâm nhìn hết mọi thứ, hỏi điều này, sờ vào thứ kia, hỏi bàn ghế đã bao nhiêu năm rồi và người này là ai trong lúc xem những bức ảnh gia đình. Trên chiếc bàn viết của Gjaernaes có treo một bức ảnh được phóng to từ một tấm hình. Là ảnh của một ông già, có chòm râu dê, đôi mắt nhỏ, sắc sảo, và cái mũi khoằm.

“Là ai đấy?” Krag hỏi.

“Cha tôi,” Gjaernaes trả lời.

Tôi cố ra hiệu cho vị thám tử đừng hỏi tiếp nữa, vì tôi lập tức nhớ lại câu chuyện của ông đánh cá về kết cục thảm thương của người đàn ông này. Hoặc là vị thám tử không nhìn thấy ám hiệu của tôi, hoặc ông ta không quan tâm đến nó.

“Ông ấy chết rồi à?”

“Vâng.” Gjaernaes trả lời và mở cửa đi vào gian phòng kế tiếp.

“Ông ấy chết như thế nào?”

“Cha tôi chết đột ngột.” Gjaemaes lẩm bẩm.

“Hừm, đột ngột…”

Vị thám tử đứng lại và ngắm nhìn bức ảnh. Nhưng khi Gjaernaes sốt sắng đánh lạc hướng thì rốt cuộc Krag cũng phải bước đi.

Gjaemaes chỉ cho chúng tôi gian phòng của em gái mình.

“Nhưng cô ấy không có ở đó à?” Asbjörn Krag ngạc nhiên hỏi to.

“Cái gì cơ?”

“Ông nói rằng cô ấy đã đi ngủ rồi.”

“Vâng, tất nhiên, nhưng em tôi đang ở trong một phòng khác.”

Gjaernaes nhìn chằm chằm vào căn hộ đầy ánh sáng của cô gái.

“Con bé nằm trong một phòng ở phía khuất ánh mặt trời,” anh ta nói.

“À thì ra thế, thảo nào.”

Chúng tôi đi tiếp và bước vào thư viện của Gjaemaes. Anh ta là một người rất thích sách. Một tấm màn dày treo trước cửa sổ duy nhất của căn phòng, cho nên trong này tương đối tối.

“Bây giờ thì tôi không có gì để chỉ cho các ông xem nữa,” Gjaernaes nói.

“Nhưng còn cánh cửa này?” Asbjörn Krag hỏi và chỉ vào một cái cửa có hai cánh ở phía trước. “Nó dẫn đi đâu?”

Gjaemaes đứng chắn trước cửa.

“Em tôi đang nằm ngủ trong đó,” anh ta nói.

Tôi bất chợt giật mình. Trong giọng nói của người đàn ông này có âm điệu của sự vô vọng và chán nản, và tôi lại nhớ tới cái cảnh trong đêm trăng ấy, khi người quản gia cố ngăn không cho tôi vào nhà.

Tôi không biết Asbjörn Krag có nhận ra sự thay đổi trong thái độ của người chủ nhà hay không, có vẻ như nó không gây được sự chú ý, dù là nhỏ nhất, với ông ta. Ý nghĩ của ông ta lại xoay quanh vụ giết người. Khi chúng tôi từ từ đi ngược trở lại gian phòng đã đi qua trước đó, ông ta hỏi:

“Ông không biết ai là kẻ giết người à?”

Gjaernaes đứng lại và chống tay vào lưng ghế.

“Tôi chịu,” anh ta trả lời.

“Còn em gái ông?”

“Em gái tôi cũng không biết gì đâu.”

“Và ông không thể đưa ra cho chúng tôi manh mối nào đáng giá để tiếp tục điều tra ư?”

“Không, hoàn toàn không. Tất cả những gì tôi có thể kể về chuyến thăm của con người bất hạnh đó chỉ khiến cho sự việc càng thêm khó hiểu.”

“Ông nói đúng đấy,” Asbjörn Krag nói.

Khi chúng tôi chuẩn bị từ giã Gjaemaes, vị thám tử bất ngờ nói:

“Nhưng còn chuyện chiếc xe?”

Gjaemaes tỏ vẻ không hiểu.

“Chiếc xe nào?” Anh ta hỏi.

“Thế ông không biết à?” Asbjörn Krag trả lời. “Người ta đã nghe được tiếng chiếc xe sắt trong đêm xảy ra vụ án mạng.”

Người chủ nhà mỉm cười — một nụ cười gượng gạo, kỳ lạ.

“Câu chuyện cũ rích,” anh ta lẩm bẩm. “Tất nhiên là câu chuyện cũ này giờ lại xuất hiện trong trí tưởng tượng phong phú của mọi người. Ông nghĩ gì về chiếc xe sắt, ông thám tử?”

“Tôi không tin vào ma quỷ,” Asbjörn Krag trả lời, “nhưng người ta nghe được tiếng chiếc xe sắt lăn đi trên cánh đồng hoang vắng vẻ, đó là điều chắc chắn.”

“Vâng, rồi sao nữa?”

“Thì tất nhiên đó là một chiếc xe, không phải một chiếc xe ma mà là một chiếc xe thật sự. Trong vòng nhiều dặm quanh đây, chỉ có ông, ông mục sư và ông cảnh sát là có ngựa. Ngựa của ông mục sư không đi ra ngoài vào đêm đó, cũng giống như ngựa của ông cảnh sát.”

“Và của tôi cũng không,” Gjaemaes thêm vào rất nhanh.

Trong khoảnh khắc đó, anh ta nhìn thấy người quản gia qua chiếc cửa sổ mở, vẫn đứng ở bên ngoài và giúp con ngựa của ông cảnh sát đuổi ruồi nhặng.

Anh ta vỗ tay vào trán và bất thình lình sốt sắng hẳn lên.

“Các ông đã còn một chặng đường dài trước mắt,” anh ta lẩm bẩm, mặc dù thực tế thì chúng tôi không phải đi xa lắm. “Tốt nhất nên cho ngựa của ông ăn một ít lúa mạch.”

Ông cảnh sát trưởng ngạc nhiên rồi phản đối, nói rằng điều đó là không cần thiết.

Nhưng Gjaernaes bước nhanh ra sân và chúng tôi đi theo sau.

Bây giờ thì ai cũng có thể thấy rằng câu chuyện lúa mạch chỉ là cái cớ - chỉ có Chúa mới biết tại sao, nhưng dù thế nào đi nữa thì nó cũng quá rõ ràng. Gjaemaes bước tới chỗ ông quản gia và hấp tấp thì thào vài câu trong khi bồn chồn xoa mõm con ngựa khiến nó phải ngẩng đầu lên, nhe ra những chiếc răng trắng.

Cả ông cảnh sát trưởng lẫn tôi đều thấy, chỉ có Asbjörn Krag bất chợt bị một việc khác thu hút. Ông ta mỉm cười chăm chú nhìn một con chó nhỏ, tròn và có đốm đen như nòng súng, đang gầm gừ và rõ ràng là bực bội, há miệng nhìn chằm chằm.

Cuối cùng, chúng tôi bước lên xe. Asbjörn Krag vẫy tay chào từ biệt Gjaemaes.

“Xin tạm biệt,” ông ta nói to, “tôi hy vọng chúng ta còn gặp lại nhau. Tôi ở trong khách sạn.” Nhưng trong cùng lúc đó thì ông ta lại nhìn người quản gia, đang đưa mắt nhìn xuống.

Khi chúng tôi đi trên con đường lớn, tôi nhận xét:

“Tôi không hiểu tại sao ông không hỏi người quản gia.”

“Về việc gì?”

“Tất nhiên là về việc vài con ngựa của Gjaemaes có đi đâu trong đêm hôm đó hay không.”

“Tôi nghĩ hoàn toàn không cần thiết,” vị thám tử trả lời.

Xe đưa chúng tôi chạy qua cánh đồng hoang.

Asbjörn Krag đặt chiếc mũ rơm trên mắt, để bảo vệ chúng trước ánh mặt trời như thiêu như đốt. Chiếc máy ảnh màu đen, không thể thiếu được, lắc lư trên đầu gối phía trước ông ta.

Ông ta im lặng một lúc lâu, nhưng tôi có cảm giác ông ta đang suy nghĩ trong khi ngồi im, dưới cái mũ rơm như thế.

Cuối cùng, ông ta hỏi:

“Ông ấy chết như thế nào?”

“Ai?”

“Người đàn ông lớn tuổi, cha của Gjaernaes.”

“Ông ấy chết đuối.”

“Tức là ông ấy không bị giết chết?” Vị thám tử hỏi.

“Không,” tôi trả lời.

« Lùi
Tiến »