Chiếc Xe Sắt

Lượt đọc: 983 | 3 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
NGƯỜI CHẾT

“Bọn cháu nhìn thấy một xác chết trên đường,” cậu bé nói to. Trong lúc đó, mắt cậu nhấp nháy như người lên cơn sốt và cả thân hình run rẩy.

“Tôi cũng nhìn thấy,” ông lão đánh cá lắp bắp.

“Nhưng cháu nhìn thấy đầu tiên,” cậu bé nói to.

Rồi tôi không nghe được tiếng nói nào trong vài giây. Cái tin khủng khiếp ấy làm chúng tôi kinh ngạc. Tôi nhìn thấy khuôn mặt những người xung quanh hiện lên vẻ “thật không thể tin nổi”. Họ bị bất ngờ và kích động đến vậy vì cái tin từ trên trời rơi xuống ấy, thật tương phản mạnh mẽ với sự yên bình của mùa hè ấm áp dễ chịu đang ôm trọn chúng tôi. Gió thổi nhẹ nhàng qua bãi cỏ, bầu trời đầy tiếng chim ríu rít, và từ phía biển, người ta nghe được tiếng động cơ ồn ào gấp gáp của một chiếc thuyền máy. Một cái cửa kính trong khách sạn được mở tung ra, tôi nghe rõ tiếng bà chủ cãi nhau với mấy người khác. Bất thình lình, người nhân viên ngân hàng nói to:

“Trời ơi, thế thì chúng ta phải đến đó xem sao!”

Cánh đàn ông chúng tôi ngay lập tức nửa chạy nửa đi bộ, nhìn chằm chằm về phía trước. Những người phụ nữ ngần ngừ trong giây lát, rồi cũng đi theo chúng tôi nhưng cách một đoạn. Cậu bé chạy trước chúng tôi dọc theo con đường như một con chó nhỏ nhanh nhẹn, rồi lại chạy ngược lại như để chỉ đường.

Chúng tôi bước vội qua khu rừng trong vòng chưa đầy năm phút. Ở đó, chúng tôi gặp một vài người và rủ họ cùng đi. Rồi chúng tôi bước ra cánh đồng hoang, dưới ánh nắng mặt trời như một sa mạc nóng bỏng. Chúng tôi đi theo con đường ôm lấy rìa khu rừng, và nói với cậu bé trong lúc đi:

“Cháu có chắc là nhìn thấy đúng như thế không?” Chúng tôi hỏi.

“Đúng mà, đúng là như vậy,” cậu bé trả lời, “cháu phải lùa bò ra đồng cỏ, lúc ấy cháu nhìn thấy chú ấy.”

“Cháu nhìn thấy chú ấy như thế nào? Cháu vấp vào người đó à?”

“Không phải thế, con bò lớn dừng lại và đánh hơi trong bãi cỏ. Cháu quát nó, nhưng nó vẫn không chịu đi tiếp; thế là cháu đến gần để nhìn xem có cái gì, thế rồi cháu nhìn thấy chú ấy trong một chỗ trũng; chú ấy nằm sấp mặt xuống.”

“Rồi sau đó?”

“Cháu sợ quá và bỏ chạy nhanh nhất có thể. Trong rừng, cháu gặp một bác đang cầm cái xô. Sau khi cháu nói cho bác ấy biết cháu đã nhìn thấy gì thì cả hai bác cháu chạy trở lại nơi đó và bác ấy nhìn thấy ngay lập tức…”

“Đúng rồi, tôi nhìn thấy,” giờ thì người đàn ông đang bước vội bên cạnh cậu bé lên tiếng, “tôi nhìn thấy ngay là anh ta bị giết hại.”

“Làm sao mà ông chắc thế?”

“Cái đầu,” người đàn ông lầm bầm, “trông đáng sợ lắm. Nhưng chúng ta sắp đến nơi rồi.”

Chúng tôi đến nơi ngay sau đó. Người đàn ông nằm trong bóng râm, dưới một chỗ trũng nhỏ, khá gần với bìa rừng. Anh chàng sinh viên sắp thi tốt nghiệp ngành y chạy đến trước; tôi nghe thấy anh ta kêu lên:

“Đó là viên kiểm lâm Blinde.”

Giờ thì ai cũng biết người chết là ai, kể cả những người phụ nữ thở hổn hển đến sau một chút. Người chết là viên kiểm lâm, người mà vào đêm hôm trước tôi đã nhìn thấy bước ra từ phòng của cô Hilde. Anh ta vẫn mặc bộ quần áo đi săn màu xanh và khẩu súng ngay bên cạnh.

Chúng tôi nhận thấy ngay rằng anh ta hẳn đã bị giết, vì có một vết thương lớn ở sau đầu nạn nhân. Con người đáng thương này hẳn vì cú đánh ấy mà ngã về phía trước, và có lẽ đã chết ngay lập tức vì mặt anh ta úp xuống đất mềm. Anh ta nằm lên nòng khẩu súng, báng súng nhô ra.

Anh sinh viên hỏi mượn một chiếc khăn tay. Sau khi nhận lấy nó từ những người phụ nữ, anh ta cẩn thận đặt lên vết thương của nạn nhân. Rồi anh ta đứng dậy và nói:

“Không ai được phép chạm vào anh ấy.”

Một trong những người đàn bà bật khóc. Một bầu không khí kỳ dị bao trùm, một cái gì đó khiến người ta nghĩ tới đám tang lặng lẽ vào một ngày xuân đẹp trời trước ngôi nhà thờ nghèo nàn ở trong làng. Không khí thật trong lành, ánh nắng nhảy múa khiến mép chiếc khăn tay trắng phất phơ trên đầu của người bị sát hại kia, mặt trời như dát vàng lên đàn bò đang ăn cỏ, chúng mở to đôi mắt tròn ngu ngơ nhìn chúng tôi.

Tôi chắc chắn rằng trong khoảnh khắc này, không ai trong số những người đang đứng đó nghĩ về việc vụ giết người này đã xảy ra như thế nào, hay suy nghĩ xem ai là hung thủ. Tất cả đều bị sự kiện, bị những gì đã xảy ra lôi cuốn tới mức không có chỗ cho những suy nghĩ khác. Ấn tượng vẫn chưa định hình và hình ảnh của sự kiện vẫn chưa rõ ràng. Chỉ sau khi điều khó tin này ăn sâu trong nhận thức của từng người như là hiện thực thì câu hỏi mới xuất hiện: Việc này đã xảy ra như thế nào?

Anh chàng sinh viên y khoa nhỏ người rõ ràng là người có bản năng làm thám tử nhất. Anh ta đứng bật dậy khi nghe cậu bé nói:

“Chiếc mũ nằm ở đây.”

Và khi cậu bé cúi xuống định cầm chiếc mũ lên thì anh ta lao đến, nắm tay cậu bé.

“Cú để chiếc mũ ở đấy,” anh ta quát. Và thế là chiếc mũ bất di bất dịch.

Đó là chiếc mũ nỉ màu xanh mà những người đi săn thường đội, phía bên trái có cái nút lớn và một dải băng đẹp chạy vòng quanh đầu. Chiếc mũ của viên kiểm lâm.

Với kiến thức chuyên môn, anh chàng y khoa đưa ra lời giải thích:

“Một tội ác đã xảy ra tại đây,” anh ta nói, “người bạn của chúng ta, kiểm lâm viên Blinde, đã bị một người lạ đánh chết. Theo như tôi quan sát thì anh ấy đã chết ngay lập tức, bởi một vật khá cùn đánh vào ngay sau đầu.”

Khái niệm “bị tấn công bởi một vật khá cùn”, lại thêm loáng thoáng mấy chữ “nhà tù” và “cảnh sát” khiến cho những người đàn bà rùng mình. Họ lủi dần khỏi nơi đáng sợ ấy; cuối cùng chỉ còn mấy người đàn ông chúng tôi đứng quanh thi thể. Anh chàng sinh viên y khoa vẫn hăng say phân tích.

“Chiếc mũ của anh ấy nằm đây,” anh ta tiếp tục, “hẳn là nó rơi ra khỏi đầu anh ấy trong khoảnh khắc bị đánh. Tốt nhất cứ để yên nó ở đấy, cho tới khi thám tử đến.”

“Thám tử ư?” Tôi hỏi. “Anh nghĩ thế à?”

“Vâng, tất nhiên rồi!” Anh chàng sinh viên y khoa trả lời. “Chúng ta phải đánh điện yêu cầu một thám tử đến đây. Tôi biết một người rất giỏi ở Christiania.”

“Nhưng ông ta phải mất vài tiếng mới đến được đây,” tôi phản đối, “không thể để người chết ở đây được.”

“Chúng ta không thể để anh ấy ở đây qua đêm,” anh ta nói. “Nếu như thám tử không thể đến đây trước nửa đêm thì chúng ta phải tìm cách mang thi thể vào một ngôi nhà nào đó.”

Là người đi lại nhiều, tôi lúc nào cũng có một cuốn sổ ghi lịch trình của tàu hỏa và tàu thủy. Tôi lôi cuốn sổ ra, ngồi xuống đám cỏ để tra cứu. Anh chàng sinh viên y khoa quỳ xuống cạnh tôi và cũng hăm hở chúi đầu vào cuốn sổ.

“Bây giờ là 12 giờ,” tôi nói. “Anh có chắc rằng ông thám tử mà anh muốn nhờ hiện đang ở Christiania không?”

“Tương đối chắc chắn, tôi có địa chỉ của ông ấy.”

“Rất tốt. Thế thì chúng ta đánh điện tín thôi. Ông ta không thể nhận được bức điện tín trước 2 giờ chiều. Nếu thế thì ông ta không thể kịp đi chuyến tàu nhanh rời Christiania vào nửa giờ tới; hẳn là phải chờ chuyến tàu thường lúc 5 giờ 13 phút rồi.”

“Ông ấy có quyền được yêu cầu thêm một chuyến tàu.”

“Ông ta khó có thể làm điều đó. Đây không phải là việc ngăn chặn tội phạm, mà chỉ là làm sáng tỏ một bí ẩn đang hiện diện. Chúng ta phải tính đến việc ông ta chờ tới 5 giờ 13 phút. Ông ta cũng không thể rời đi ngay lập tức. Từ Christiania cho tới trạm dừng gần chúng ta nhất phải mất năm tiếng đồng hồ ngồi tàu hỏa, vậy thì không thể bắt kịp chuyến tàu thủy ban đêm đến đây dược.”

“Ông ấy chắc chắn sẽ tìm được một chiếc thuyền máy cao tốc.”

“Vâng, nhưng ngay cả một chiếc thuyền máy cao tốc cũng không thể đi hết quãng đường đó trong vòng dưới 4 tiếng đồng hồ. Tức là ông ấy không thể có mặt ở đây trước 2 giờ đêm.”

Anh chàng sinh viên y khoa lắc đầu.

“Ông không biết ông thám tử đấy thôi,” anh ta nói, “người mà tôi nói tới.”

“Không phải là vấn đề”, tôi đáp trả, “chúng ta phải dự tính trong hoàn cảnh hiện tại. Khi phần lớn khả năng cho thấy viên thám tử không thể có mặt trước 2 giờ đêm, thì tôi cho rằng chúng ta phải mang thi thể vào trong một ngôi nhà.”

“Vâng, vâng,” anh chàng sinh viên y khoa nói, “hẳn là không còn lựa chọn nào khác. Nhưng chúng ta đưa anh ấy về khách sạn như thế nào?”

Tôi đang định trả lời thì có một người đàn ông chen qua đám đông vây quanh chúng tôi. Đó là cảnh sát trưởng, người đại diện cho cảnh sát địa phương.

Tin đồn về một phát hiện đáng sợ đã lan đi rất nhanh. Từ khách sạn, người ta đã gọi điện cho cảnh sát trưởng, và ông ta vội vàng đạp xe đến đây chỉ trong ít phút.

Ông hẳn đang tim đập chân run bởi sự kiện khác thường này, tôi có thể nhận thấy điều đó qua gương mặt trắng bệch và đôi bàn tay lẩy bẩy. Ông ta cũng nhận ra ngay người đàn ông trong bộ đồ đi săn màu xanh và lầm bầm:

“Thật đáng thương! Mọi việc đã xảy ra như thế nào?”

“Anh ấy đã bị đánh chết,” anh chàng sinh viên y khoa nói, “ông có thể nhìn thấy rõ.”

Ông cảnh sát trưởng quỳ xuống nhìn xác chết, thì thào. “Đúng thế, đúng thế!”

“Chúng tôi cho rằng nên đưa người chết vào một ngôi nhà,” anh chàng sinh viên y khoa tiếp tục. “Ông thám tử chắc không thể đến đây trước sáng sớm mai được.”

Anh ta tiếp tục nói với cảnh sát trưởng, rằng chắc chắn một nhân viên cảnh sát có năng lực từ thủ đô sẽ tiếp nhận vụ việc. Ông cảnh sát địa phương đồng ý với anh ta về điều đó. Ông cảm ơn chàng sinh viên y khoa đã đảm nhận việc gọi một viên thám tử từ Christiania đến, trông bộ dạng hết súc vui mừng vì dường như trút bỏ được phần nào gánh nặng.

Nhưng bây giờ phải đưa thi thể đó đi đâu?

Lúc đầu người ta muốn mang vào khách sạn; cảnh sát trưởng nói rằng tất nhiên phải đưa người chết về nơi mà người đó đã ở lúc còn sống. Tôi phản đối, rằng làm như vậy sẽ khiến phần lớn du khách bỏ đi, ít nhất là đám phụ nữ sẽ bỏ chạy hết. Giờ ta phải tìm một nơi khác.

Lúc đó, cảnh sát trưởng sực nhớ ra có một ngôi nhà nhỏ bỏ không ở cách đây vài phút đi bộ, thường là chỗ dừng chân cho những người đào cát. Ngay lập tức, người ta quyết định đưa thi thể đến đấy.

Cả tá người sẵn sàng giúp. Người ta nhanh chóng làm một cái cáng, đặt người chết lên đó và khẩu súng đặt ở bên cạnh.

Gương mặt của người chết hoàn toàn không thay đổi gì, nhiều lắm chỉ bị đất cát làm cho lấm lem thôi.

Anh chàng sinh viên y khoa nắm lấy cánh tay tôi.

“Nhìn anh ấy kìa!”

“Có điều gì kia chứ?”

“Hãy nhìn vào khuôn mặt, anh ấy đã mỉm cười.”

“Tôi không nhận thấy cảm xúc nào cả,” tôi trả lời.

Anh sinh viên y khoa nhìn người chết một lúc lâu.

“Anh ấy đã mỉm cười,” anh ta lầm bầm, “một nụ cười nhạo lướt trên gương mặt ấy, đúng vào lúc bị cú đánh chí mạng.”

Anh sinh viên y khoa đề nghị dùng chiếc mũ đi săn che mặt người chết; điều này được thực hiện ngay. Bốn người đàn ông khiêng thi thể nạn nhân đến gian nhà của những người đào cát. Chúng tôi có thể nhận ra mặt tiền màu xanh lá cây đậm của nó trước một ngọn đồi màu nâu đầy cây thạch nam. Ông cảnh sát trưởng đi bên cạnh, tôi lùi lại phía sau một chút vì bản thân luôn có ám ảnh không thể vượt qua đối với xác chết và đám tang.

Nhưng anh sinh viên y khoa đâu rồi?

Tôi quay người lại. Có thật là anh ta đang nằm rạp xuống đất, nơi xảy ra án mạng và đánh hơi mặt đất xung quanh như một con chó không?

Tôi mỉm cười. Đó là một chàng trai trẻ, tuổi đời chỉ khoảng mười chín, đôi mươi. Có lẽ anh ta đã lậm đủ mấy chuyện cướp giật vào người và giờ muốn đóng vai thám tử thật ngầu. Anh ta khám xét dấu vết cứ như thể ngày nay người ta tìm kiếm tội phạm bằng cách ấy vậy!

Tôi bắc hai tay lên miệng như một cái loa và gọi thật to tên anh ta.

“Này! Anh kia!” Giọng nói của tôi vang to trên vùng đất hoang. “Chúng ta không đi cùng họ à?”

Anh chàng chậm chạp đứng dậy, phủi bụi bẩn trên đầu gối và thong thả bước tới chỗ tôi.

“Một việc kỳ lạ,” anh ta nói. “Anh ấy bị giết mới đây thôi.”

Thế là các suy luận đã bắt đầu; giai đoạn quan sát đã qua, không có gì mới theo hướng này. Suy nghĩ của chúng tôi đi ngược trở lại; câu hỏi đầu tiên xuất hiện là: Nó xảy ra lúc nào? Câu kế tiếp tự nhiên là: Nó xảy ra như thế nào?

Tôi trả lời, “Tại khách sạn, chúng ta sẽ xác định thời điểm anh ta rời đi, vì tôi không nhìn thấy anh ta lúc ăn sáng.”

Khi tiếp cận những người phụ nữ đang đứng thành nhóm và dường như rất hoang mang, chúng tôi hỏi họ nhưng không ai nhìn thấy viên kiểm lâm; anh ta thường dậy sớm, sớm hơn những người khách khác rất nhiều.

Nửa tiếng sau, chúng tôi cùng nhau ngồi trên hàng hiên của khách sạn. Anh sinh viên y khoa đã đi đến sở điện tín, còn những người còn lại đang chờ anh ta trở về, chăm chú nhìn dọc theo con đường. Cảnh sát trưởng vội vã đạp xe ngang qua, người nọ người kia qua lại như thoi đưa. Bây giờ thì khắp nơi đã biết đến sự việc đó, và tin đồn đáng sợ lan truyền đi như lửa cháy từ trang trại này sang trang trại khác. Chúng tôi có thể nhìn thấy rõ rằng người dân đã ngừng công việc đồng áng, và một vài người bước nhanh về nhà, vác công cụ sau lưng. Có tiếng chuông ở cổng. Đó là chàng sinh viên y khoa, vừa trở về từ sở điện tín. Anh ta vẫy cái mũ, để lớp vải lót màu đỏ sáng rực dưới ánh mặt trời, và gọi to từ đằng xa:

“Tôi đã nói chuyện qua điện thoại với ông ấy!”

Anh ta rất kích động, có vẻ đang run lên vì sốt sắng.

“Chính tôi đã nói chuyện với ông ấy qua điện thoại,” anh ta lặp lại, khi giậm bước đi lên hàng hiên một cách ồn ào.

Tuy anh ta không nêu tên ngài thám tử, nhưng tất cả chúng tôi đều biết anh ta muốn nói đến ai.

“Ông ta có đến không?” Chúng tôi đồng thanh hỏi.

“Có, ông ấy sẽ đến đây nhanh nhất có thể, nhưng ông ấy không nói chính xác là khi nào.”

“Chúng ta phải tỉnh táo đánh giá sự việc. Ai mà biết được liệu đó có phải là vụ án mạng hay không?” Tôi đưa ra nhận xét.

“Nếu không thì là gì?”

“Có thể là một sự cố đáng tiếc.”

“Không thể được, không thể như thế được!” Một vài người kêu to, và chúng tôi bàn luận về sự việc. Bất thình lình, một trong số những người phụ nữ lên tiếng hỏi:

“Nhưng ai đã giết anh ta kia chứ?”

Phải, đó là ai? Thật là một điều bí ẩn. Theo như chúng tôi biết thì anh kiểm lâm này không có kẻ thù. Anh ta là người hiền lành nhưng sống tương đối khép kín, không thích giao tiếp với những người khách khác, hiếm khi nói chuyện trong lúc ăn và hay đi dạo xa một mình.

“Ông biết anh ấy từ trước, đúng không?” Anh sinh viên y khoa nói với tôi. “Ông có suy đoán gì không?”

“Tôi chỉ quen biết sơ sơ thôi,” tôi đáp, “tổng cộng tôi chỉ gặp anh ta hai, ba lần, vì vậy tôi không thể đưa ra được thông tin nào cả.”

Có thể là một vụ giết người cướp của chăng?

Hầu như không thể; cả sinh viên y khoa và tôi đều thấy chiếc nhẫn kim cương và dây đeo đồng hồ bằng vàng của anh ta vẫn còn đó.

Giờ thì bà chủ khách sạn bước tới chỗ chúng tôi và nói rằng viên kiểm lâm đêm qua đã không về đây ngủ. Tức là anh ta đã đi vắng suốt đêm qua.

Vậy thì, vụ án mạng có thể đã xảy ra vào tối hôm trước.

Anh sinh viên y khoa rõ ràng khá bối rối.

“Lẽ ra tôi đã có thể nhìn thấy điều đó từ dấu vết để lại,” anh ta lầm bầm, “vì đêm qua trời mưa. Trời bắt đầu mưa từ lúc nào nhỉ?”

Hầu hết mọi người cho rằng trời bắt đầu mưa lúc nửa đêm.

Anh sinh viên y khoa nhìn tôi.

“Dường như ông đang nhớ ra điều gì,” anh ta nói.

“Đúng thế,” tôi đáp, “trời bắt đầu mưa lúc gần 1 giờ.”

“Làm sao ông biết?”

“Lúc đó tôi vẫn thức và nghe thấy những hạt mưa đầu tiên lộp độp rơi xuống. Tôi có thể kể tiếp, thưa quý bà và quý ông, rằng tôi đã đi qua cánh đồng hoang trong thời gian từ 11 giờ đến 11 giờ rưỡi đêm.”

“Ông có nghe được gì không?”

“Tôi nghe tiếng một chiếc xe từ đằng xa đang lăn bánh về đây, chỉ thế thôi.”

“Ông từ trang trại trở về à?”

“Vâng, tôi trở về từ trang trại Gjaemaes. Ai là người cuối cùng nhìn thấy anh ta?” Tôi đột nhiên hỏi.

Các câu trả lời rất khác nhau.

Một vài người nhìn thấy anh ta tối qua lúc dùng bữa tối, bà chủ khách sạn nhìn thấy anh ta đi lên phòng một tiếng sau đó. Một người phụ nữ nhìn thấy anh ta lúc 9 giờ rưỡi trong bộ đồ đi săn với khẩu súng trên vai. Khi đó là lúc anh ta chuẩn bị rời đi, tươi cười chào người phụ nữ này và trao đổi vài lời, rằng trời sắp mưa, chỉ tay lên trời và nói rằng, “Cô xem mây bay kia kìa, một cơn dông đang thổi chúng đi đấy.”

“Nhưng còn ông,” sinh viên y khoa hỏi. “Sau đó, ông vẫn nhìn thấy anh ấy phải không?”

“Lúc 10 giờ rưỡi,” tôi trả lời, “tôi nhìn thấy Kiểm lâm Blinde lần cuối cùng vào lúc đó.”

Bây giờ tôi mới thuật lại những gì mình đã gặp tối qua; rằng tôi nhìn thấy Blinde đi ra từ căn nhà chính của gia đình Gjaemaes và biến mất trên cánh đồng hoang. Tôi đặc biệt cẩn thận lời ăn tiếng nói khi kể lại câu chuyện của mình, không nhắc đến việc nhân viên kiểm lâm đi ra từ phòng của cô Hilde. Khi tôi kể xong, những khán giả lặng lẽ và suy tư ngồi đó. Mấy người phụ nữ nhút nhát nhìn nhau và anh sinh viên nhận xét:

“Ông không được mời vào trong trang trại thì lạ thật, anh Gjaemaes vốn là người quảng giao mà.”

“Tôi cảm tưởng như có việc gì đó khác thường đã xảy ra trong trang trại. Ông quản gia trông rất bối rối, giọng nói của ông ta hết sức nghiêm trọng khi không cho tôi vào nhà. Tôi nghĩ mình đã không hề được chào đón khi đó, nhưng chắc chắn rằng bản thân tôi không phải là nguyên nhân.”

“Ông cho rằng có việc gì đó xảy ra trong trang trại?”

“Vâng, tôi cho là thế.”

“Nhưng ông không nhìn thấy điều gì khác thường ư?”

“Không, tôi cũng không nghe được gì. Tuy vậy, tôi lại thấy ánh sáng chập chờn đi từ phòng này sang phòng khác, chắc chắn trong nhà có người đi lại.”

Anh sinh viên lầm bầm rằng có lẽ cái chết của viên kiểm lâm có liên quan tới sự rối loạn rõ rành rành xuất hiện trong trang trại vốn rất yên tĩnh kia.

“Blinde tối qua trông thế nào? Anh ấy có vẻ hồi hộp bồn chồn không?”

“Hoàn toàn không,” tôi trả lời, “anh ta bình thản như mọi ngày. Gương mặt không biểu lộ sự hồi hộp nào cả. Anh ta châm tẩu hút thuốc khi đứng cách tôi mười thước, đúng ở chỗ mấy cây lê lớn; que diêm cháy sáng rất gần gương mặt anh ta nên tôi có thể nhìn thấy mọi đường nét. Không, anh ta rất bình thản…”

Câu chuyện cứ thế tiếp tục qua cả buổi chiều. Tội ác bí ẩn ấy khiến chúng tôi bối rối tới mức những câu hỏi tương tự cứ lặp đi lặp lại. Thêm vào đó là trí tưởng tượng. Những việc khó tin nho nhỏ bắt đầu xuất hiện, và sự căng thẳng làm phái nữ choáng ngợp đến mức chẳng ăn được gì — họ chỉ rón rén gắp mấy miếng và còn bỏ lại cả ly sữa, để có thể quay lại nói chuyện về vụ giết người kia và làm người khác giật mình. Viên kiểm lâm đã làm gì ở trang trại Gjaernaes vào lúc tối khuya như thế? Bắt đầu là một đôi mắt phụ nữ lóe lên bí ẩn, cùng một nụ cười nhẹ nhàng để lộ ra những thông tin đặc biệt - và chẳng bao lâu sau câu chuyện đã thành hình. Người ta đã thấy viên kiểm lâm và cô Hilde đi chung với nhau vài ba lần. Có trời mới biết anh Blinde cần gì ở vùng đồng quê này nếu không phải muốn gặp cô Hilde, bởi vì anh ta có cả một cánh rừng rộng rãi để đi dạo. Tôi đã cố tình không nhắc tới cái tên Hilde, vì tôi biết tài năng thiên bẩm của những người phụ nữ, dẫn dắt những suy đoán của họ đi theo một hướng nhất định. Chính vì lý do đó mà tôi không nói rằng mình đã nhìn thấy Blinde bước ra khỏi phòng riêng của cô ấy vào lức 10 giờ rưỡi tối. Mặc dù vậy, các bà các chị vẫn say sưa thêu dệt một tấn bi kịch yêu đương từ những chi tiết mơ hồ nhất. Có vẻ họ đã phần nào thuyết phục được chàng sinh viên nọ và khi, lúc chiều muộn, có tin đồn rằng cô Hilde đang lái xe trên con đường gần đó, hiên nhà cô đã chất đầy người, nam nữ đủ cả; người nọ người kia xô đẩy nhau trong háo hức muốn gặp nữ chính.

Cô Hilde đang lái một chiếc xe bốn bánh, một mình ngồi trong chiếc xe ngựa chạy thật nhanh, nắm chặt dây cương và mắt dán về phía trước. Cô đội chiếc mũ trắng bằng vải flannel, được cố định trên mái tóc nâu dày bằng một cây kim dài. Tôi có thể nhìn rõ cây kim, vì cái đầu kim mạ vàng óng ánh sáng ngời. Và tôi cũng thấy dáng vẻ của cô nữa; da dẻ cô xanh xao hơn bình thường và có vẻ gì đó căng thẳng, như thể đang cố gắng nín nước mắt. Cô vội vàng phóng vụt qua, rẽ phải và cái xe ngựa biến mất trong đám mây bụi.

“Đi gặp ông cảnh sát rồi,” ai đó nói. “Cô ấy đi gặp cảnh sát trưởng, ông ta sống ở phía đó.”

Chưa đầy năm phút sau, cô lại chạy ngang qua theo hướng ngược lại. Lần này ông cảnh sát trưởng ngồi cạnh cô. Cô cầm cây roi trên tay và những con ngựa túa mồ hôi như vừa được xông hơi.

Mấy người phụ nữ cho rằng cô muốn nhìn thấy thi thể, vì không ai được phép đi vào gian nhà của những người đào cát mà không có mặt ông cảnh sát trưởng. Vì vậy cô đã đến đón ông ấy. Cô quay trở lại rất nhanh và chắc đã dùng vũ lực dể lôi ông cảnh sát trưởng ra khỏi văn phòng, tựa như đó là việc sống còn. Cô phóng xe ngựa đi như thế đó! Chúng tôi còn nghe được tiếng bánh xe lạo xạo trên đường một lúc lâu sau khi chiếc xe biến mất trong khu rừng rậm.

Trong khi vẫn lắng nghe tiếng chiếc xe đang nhỏ dần và biến mất trong rừng, tôi sực nhớ lại một việc vào đêm qua: tôi đã gặp ông đánh cá. Tôi nhớ rằng ông ta cũng trở về từ cánh đồng hoang, và cũng đã nghe tiếng bánh xe từ phía xa giống như tôi. Nhưng ông ta nói về cái gì nhỉ? Về một chiếc xe!

Hình ảnh ông đánh cá hiện ra trước mặt tôi, thân hình bé lùn gầy gò của ông ta đứng trong màn đêm trước mặt tôi như thế nào và trả lời câu hỏi “Chiếc xe đó của ai?” bằng cách lắc đầu và nói “Phải, chiếc xe đó của ai thế nhỉ?”

Buổi tối, nhiều người địa phương đã đến khách sạn. Họ muốn biết nhiều hơn về sự kiện đáng sợ đó. Trong lúc nói, họ hạ thấp giọng và cẩn trọng với ngôn từ, tựa như đang dự một tang lễ. Họ hỏi han đám người hầu và bà chủ, một vài người cũng tiếp cận khách du lịch và bắt chuyện bằng cách vòng vo tam quốc về mùa màng và thời tiết. Tất cả đều đã đến ngôi nhà của những người đào cát và ở lại hiện trường án mạng.

Ông chủ cửa hiệu bán nông cụ kể rằng cô Hilde hẳn đã phải ở trong căn nhà đó và nhìn thấy người chết, nhưng rồi vội vàng đi khỏi. Cô không khóc, nhưng mặt trắng bệch thật đáng sợ, nét mặt cứng đờ chẳng khác gì xác chết. Điều kỳ lạ là không ai trong số những người này đưa ra nhận định gì về nguyên nhân gây án hay về kẻ giết người. Tuy nhiên, qua những lời bàn tán linh tinh và từ nét mặt của họ, người ta có thể thấy rằng họ đều có những suy nghĩ riêng. Họ nói về cánh đồng hoang. Có gì đó kì lạ về cánh đồng hoang này; nhiều điều đã xảy ra ở đó. Còn trang trại cũ cũng chứa đựng vô số bí mật, những bí mật mà người ta có biết đến nhưng không dám bàn tán.

Đêm tối kéo đến, đẹp đẽ và yên lặng. Chúng tôi ngồi trên hàng hiên và tiếp tục bàn tán qua lại về đề tài nóng hổi trước mặt, những người phụ nữ càng cảm thấy sợ khi ánh chiều tà còn nấn ná mãi chưa tắt. Chúng tôi vẫn canh cánh trong lòng cảm giác hồ nghi, bất khả thi, vì những điều tương phản quá rõ ràng: Ở ngoài kia, trên cánh đồng hoang là sự kinh hoàng đen tối, trong khi chúng tôi, vài người khách du lịch, đang ngồi cùng nhau ở đây, trong một buổi tối ấm áp, an lành. Chúng tôi lắng nghe tiếng chèo thuyền từ biển và tiếng giậm chân từ con đường. Tiếng chim ríu rít xung quanh, làn khói xì gà bay thẳng lên cao, mang một sắc xanh huyền ảo. Khi đàn muỗi gây khó chịu quá mức, chúng tôi lui vào phòng khách. Các bà các cô đã buồn ngủ nhưng không muốn đi nghỉ; rõ ràng họ sợ phải ở một mình.

Bỗng tôi nghe thấy ai đó gọi tên tôi. Tiếng gọi từ ở ngoài hàng hiên, một giọng nói mà tôi thấy vô cùng lạ lẫm.

“Có người gọi ông kìa,” anh sinh viên y khoa nói.

“Vâng, tôi cũng nghe thấy.”

Tôi nhanh chóng đứng dậy, bước đến mở hai cánh cửa ra ngoài hàng hiên. Nhưng không có một bóng người nào cả, chỉ có những cái ghế đan và một cái bàn; trên bàn có hai chai nước khoáng và một vài cái ly rỗng. Tôi thấy chưng hửng trong khoảnh khắc, nhưng rồi lại nghe thấy tiếng người ta gọi tên tôi và lúc này tôi mới để ý thấy một cái mũ rơm màu vàng dưới hàng hiên. Tôi bước tới vài bước, cái mũ rơm biến mất, và một mái đầu hoa râm xuất hiện qua hàng song. Đó là ông đánh cá tối qua, đang đứng đó và chào tôi.

Tôi tựa người qua lan can và nói với ông ta, cảm giác nhẹ nhõm dạt dào khó tả:

“À, thì ra là ông. Được gặp lại ông thật hay quá. Chúng ta đã nói chuyện với nhau tối hôm qua, phải không?”

“Tôi phải đi làm cả ngày,” người đàn ông trả lời, “nếu không thì tôi đã đến đây từ lâu rồi.”

“Ông tìm tôi có việc gì?”

Người đàn ông nheo đôi mắt trắng đục nhìn tôi.

“Một điều kỳ lạ vừa xảy ra, phải không?”

“Ông muốn nói đến vụ án mạng ấy à?”

“Vâng, tôi nghe nói anh kiểm lâm bị đánh chết vào tối qua.”

“Đúng rồi.”

“Vào lúc 11 giờ à?”

“Không thể nói chính xác được, người ta nhìn thấy anh ta lần cuối cùng vào lúc 10 giờ rưỡi; chính tôi đã nhìn thấy anh ta.”

“Vâng, thật kỳ lạ, thật kỳ lạ…,” người đàn ông lầm bầm. “Ông cũng nghe thấy nó có phải không?” Ông ta hỏi.

“Cái gì cơ?”

“Chiếc xe sắt. Ông với tôi cùng đứng và nghe thấy mà. Chiếc xe sắt lăn đi từ nơi xa.”

Một cảm giác kỳ lạ dâng lên trong ngực tôi.

“Ông từ cánh đồng hoang về đây à?”

“Vâng,” ông ta trả lời, “tôi đi qua ngôi nhà của những người đào cát lúc 11 giờ.”

“Ông có nghe thấy gì không?”

“Tôi không nghe thấy gì khác ngoài chiếc xe sắt.”

“Không có tiếng hét?”

“Không.”

“Ông chờ chút,” tôi nói, “tôi sẽ quay lại ngay.”

Tôi vội cầm lấy chiếc mũ và cây gậy có đầu nắm bằng ngà voi của mình.

Rồi tôi bước ra đường, vẫy tay gọi người đàn ông nọ.

“Đi theo tôi,” tôi nói, “và hãy kể cho tôi nghe những gì ông biết về chiếc xe sắt. Đó có phải là một truyền thuyết cổ hay không?”

“Truyền thuyết cổ ư?” Người đàn ông lầm bầm không hiểu. Ông ta lại lắc đầu. “Chúng ta hãy ngồi xuống ở đâu đó đi,” ông ta thêm vào, “vừa đi vừa kể chuyện không thoải mái chút nào. Vả lại ông đi nhanh như thế, còn tôi thì mệt mỏi lắm rồi, vì tôi đã làm việc cả ngày.”

Ông liền chỉ vào một hòn đá nằm trên đồng cỏ gần nhất như một cái đầu lâu giữa bãi cỏ um tùm. Chúng tôi băng qua bãi cỏ ướt sương đêm.

“Sắp muộn rồi,” tôi nói trong khi chúng tôi ngồi xuống. Tôi biết tính chậm chạp của những người ở nông thôn và muốn người đàn ông này khẩn trương một chút.

“Vâng,” ông ta nói, “tối qua vào giờ này là đã xảy ra chuyện rồi.”

“Ông nghe thấy tiếng chiếc xe sắt lần đầu tiên ở đâu?”

“Khi tôi bước vào rừng. Tôi biết rõ tiếng động ấy, không thể nào nhầm lẫn được. Tôi cũng có thể nói với ông rằng trước đây tôi đã nghe được tiếng chiếc xe sắt.”

“Khi nào?”

“Cách đây bốn năm, trong cái đêm ông già Gjaemaes qua đời.”

“Ông ấy cũng bị đánh chết?”

“Không, ông ấy chết đuối. Người ta tìm thấy chiếc mũ và cây gậy của ông ấy ở dưới kia, trên bãi cát lớn; vài ngày sau chúng tôi tìm thấy chiếc thuyền của ông ấy; nó bị lật và va phải bãi đá.”

“Thế còn cái xác?”

“Người ta không tìm thấy.”

“Ông ấy bao nhiêu tuổi?”

“Trên năm mươi rồi. Không ai hiểu nổi tại sao ông già đó lại nghĩ đến việc chèo một chiếc thuyền nhỏ ra ngoài biển.”

“Kỳ lạ thật đấy.”

“Vâng, hết sức kỳ lạ. Người dân vùng này thỉnh thoảng vẫn nói về việc đó, nhưng chỉ nói với nhau thôi. Chúng tôi có nghi ngờ riêng.”

“Tự tử ư?”

Nhưng người đàn ông không trả lời câu hỏi của tôi.

“Ai cũng phải chịu trách nhiệm cho hành động của mình,” ông ta nói.

“Tức là trong đêm đó ông cũng nghe được tiếng chiếc xe sắt?”

“Vâng, tôi nghe thấy rõ như đêm qua. Người ta nói rằng Gjaernaes là một trang trại cổ, nó có một bí mật khác thường.”

Người đàn ông thuật lại cho tôi nghe câu chuyện dài về những điềm báo hiểm ác đã xuất hiện ở trang trại cổ này. Theo truyền thuyết, người chủ cũ của trang trại, cách đây khoảng một trăm năm, đã chết trong một chiếc xe sắt. Ông ta là một người kỳ lạ, lập dị, đã đi đây đó khắp thế giới và tốt bụng nức tiếng gần xa. Ông ta phung phí gia tài thừa hưởng từ người cha vào việc theo đuổi những phát minh kỳ lạ. Ông ta đặc biệt ám ảnh với ngựa và những cỗ xe kì lạ. Cuối cùng, ông ta cho chế tạo một chiếc xe hoàn toàn bằng sắt. Với hai bánh và một lớp mái bảo vệ to ở phía trước, trông nó khá giống một chiếc xe đánh trận của người Do Thái trước đây, mà người ta có thể nhìn thấy trong những cuốn Kinh Thánh có hình minh họa. Ông ta đã chết trên chiếc xe này khi đánh nó chạy trên cánh đồng hoang. Sau này, khi có chuyện không hay xảy ra trong nhà Gjaernaes hay có ai đó sắp qua đời thì sau đó người ta luôn nghe thấy tiếng loảng xoảng của chiếc xe sắt trên cánh đồng hoang. Ấy vậy, chưa ai thấy chiếc xe đó hay dấu vết nó bỏ lại. Có vài người khăng khăng nói rằng ngày nay, chiếc xe sắt ấy vẫn được giấu đâu đó ở trang trại, trong một gian phòng được khóa kín ở nhà kho. Lần cuối cùng người ta nghe được tiếng chiếc xe sắt ấy là bốn năm trước, trong đêm mà ông già Gjaernaes biến mất. Lúc đó có nhiều lời đồn đại về ông ấy. Người ta nói rằng tình hình tài chính của ông ấy không được tốt cho lắm, nhắm mắt cũng thấy trang trại làm ăn lụn bại như thế nào. Nhưng rồi người con trai mạnh mẽ và nhiều nghị lực của ông ấy đã giữ lại trang trại và trả được một ít nợ cho cha… Ông đánh cá kể lại cho tôi nghe tất cả những điều đó một cách ngần ngừ và cẩn trọng, giống như ông ta lúc nào cũng sợ tôi không tin những gì ông nói.

“Lần này thì chúng ta hẳn là nhưng người duy nhất nghe được tiếng chiếc xe sắt vào đêm hôm qua,” cuối cùng ông ta nói, “và tôi rất muốn hỏi ông rằng liệu tôi có được phép kể cho những người khác biết tôi đã nghe được gì không?”

“Tại sao không?”

Ông đánh cá ngồi im lặng một lúc lâu.

Cuối cùng, ông ta lầm bầm:

“Nguời ta không tin tôi. Có lần tôi đến gặp mục sư và kể cho ông ấy nghe nhiều trải nghiệm kỳ lạ mà tôi đã tận mắt nhìn thấy trên đất liền cũng như trên mặt nước. Tôi cũng đến gặp một thầy giáo, nhưng họ chỉ cười tôi và nói rằng tôi có trí tưởng tượng thật sống động. Nhưng lần này, tôi tự nhủ rằng có thể mình sẽ được xem xét công bằng, với một người thành phố hiểu xa trông rộng bên cạnh. Vâng, đúng vậy, vì chính ông cũng nghe được tiếng chiếc xe sắt, đúng không?”

Một lần nữa, tôi phải thán phục sự nhiệt tình của ông đánh cá và cam đoan với ông ta rằng tôi sẽ đứng ra chứng thực, nếu cần.

“Đúng là tôi đã nghe được tiếng một chiếc xe đang lăn đi trên cánh đồng hoang vào đêm đó; tuy vậy tôi không thể khẳng định được rằng đó chính là chiếc xe ma quái ấy.”

“Làm gì còn chiếc xe nào nữa,” ông đánh cá nói, “ông chỉ cần kiểm tra các con đường, đêm đó trời mưa mà. Một chiếc xe lăn đi nặng nề như chiếc xe mà chúng ta đã nghe thấy phải để lại dấu vết. Nhưng ông cứ khám xét tất cả - ông sẽ không phát hiện ra dấu bánh xe nào trên các con đường. Cả vùng này chỉ có gia đình Gjaernaes và ông linh mục là có ngựa.”

Vì tôi không muốn tiếp tục sa đà vào chuyện này nên tôi bảo ông ta hãy kể câu chuyện đượm mùi kỳ dị này vào ngày mai, khi một người nào đó sẽ đến đây.

“Ông tên gì?” Tôi hỏi ông ta.

“Jan Jansen.” Ông ta đáp.

“Được rồi, Jan Jansen! Sáng sớm mai sẽ có một viên thám tử đi tàu chở thư từ Christiania đến đây; ông có thể nói với ông ta. Chắc chắn ông ta sẽ thích thú lắng nghe đấy.”

Tôi châm một điếu xì gà để xua muỗi. Ông đánh cá ngồi im lặng thật lâu bên cạnh tôi và chán nản nhìn chằm chằm phía trước.

“Có gió thổi đâu đây,” ông ta lẩm bẩm.

“Gió ư?” Tôi giật mình. “Ö đây hoàn toàn yên lặng. Ông không thấy khói xì gà luẩn quẩn xung quanh chúng ta thành những làn khói màu xanh đó sao?”

Ông đánh cá chỉ về phía cánh rừng hướng ra biển và nói:

“Gió nam. Nếu có tiếng động như thế từ biển vào, tận từ ngoài xa trên các đảo đá, thì sẽ có gió thổi về.”

Tôi lắng nghe, quả thật cảm giác như có tiếng rì rầm nhỏ vô tận vang đến tai mình; thứ âm thanh mà người ta phải lắng tai mới nhận ra, sau đó trở thành âm thanh duy nhất họ nghe thấy. Nhưng màn đêm không chút gió thoảng, ánh sáng chỉ là một màu u ám, cảnh vật đã lụi tàn màu sắc và cây cối nhô cao lên bầu trời như những bộ xương cháy thành than.

Bất thình lình, ông đánh cá quay đầu, đứng bật dậy. Ông ta lắng nghe, khuôn mặt căng thẳng, miệng há hốc.

“Ông nghe được gì?”

“Tôi nghĩ là tôi nghe được…,” ông lắng nghe thật lâu, nhưng rồi lại ngồi xuống tảng đá và lẩm bẩm, “Không, không nghe được gì.”

Ông đánh cá nói đúng, trời bắt đầu có bão trong đêm ấy. Khi tôi bước vào phòng lúc 1 rưỡi đêm, cánh cửa sổ đập chan chát và cơn cuồng phong đã giật tung nó ra khỏi tay tôi rồi phản lại đánh rầm. Tôi không buồn đốt cây đèn lên mà đứng một lúc lâu cạnh cửa sổ, nhìn chằm chằm qua cánh đồng hoang hướng về phía trang trại Gjaemaes. Hôm nay, từ hướng đó không có chút ánh sáng lấp lánh nào.

Ngọn gió ngoài biển mang theo làn hơi ẩm ướt đầy muối vào đất liền, thổi vào mặt tôi. Nó nắm chặt cây cối, lay những ngọn cây to và lấp đầy cánh rừng bằng những tiếng ồn ào hoang dại, đến mức tôi có cảm giác như cả cánh rừng đang lao tới chỗ tôi. Cuối cùng, hơi thở mạnh mẽ của nó quét qua các cánh đồng lúa mì vàng ươm, dập dìu sóng bạt ngàn. Tôi giữ chặt chiếc áo khoác đang tung phần phật quanh mình và cảm thấy lạnh buốt hai bên sườn. Cơn nóng nực hầm hập khiến chúng tôi khó chịu cả ngày hôm nay đã bị cơn bão xé tung và thổi bay.

Tôi nắm chặt cửa sổ để đóng lại, nhưng bất thình lình lại dừng lại vì chợt nghe thấy tiếng động từ nơi xa, lại là tiếng kim loại rổn rảng trên đường được những ngọn gió mang theo, lúc mạnh lúc yếu. Tiếng động ấy phát ra từ cánh đồng hoang.

Đó lại là chiếc xe sắt!

« Lùi
Tiến »