Sau một đêm đàm đạo bên ánh nến, Huệ Ánh và Mông Trọng đã trở nên thân thiết và hiểu rõ về nhau hơn, dần dần quen với cách xưng hô "A huynh", "A đệ".
Mặc dù tuổi tác của Huệ Ánh lớn hơn Mông Trọng gần ba mươi tuổi, nhưng xét về vai vế, người trước là cháu của Huệ Tử, người sau là đệ tử của Trang Tử, cả hai quả thực cùng hàng, vì vậy gọi nhau là huynh đệ cũng không có gì không ổn.
Sau khi đã thân quen, Mông Trọng mới cảm nhận được Huệ Ánh là người ngoài lạnh trong nóng. Nhớ lại hôm qua, khi lần đầu gặp mặt ở ngoài cửa phủ, hắn chỉ thấy vị trọng thần bên cạnh Tống Vương Yển này có vẻ mặt lạnh lùng, dáng đi mạnh mẽ như rồng bay hổ vồ, đầy khí thế, thiếu đi vài phần gần gũi.
Nhưng sau khi đã hiểu nhau, đối đãi chân thành, Mông Trọng mới thấy Huệ Ánh thực ra là một người rất dễ gần.
Tất nhiên, đó là vì mối quan hệ giữa hai người đã gần gũi, nếu đổi lại là người khác, tin rằng Huệ Ánh sẽ không thể tâm tình thẳng thắn như vậy.
Theo những gì trao đổi, Mông Trọng cảm thấy học vấn của Huệ Ánh rất tạp, dường như bao gồm cả Đạo gia, Danh gia, Pháp gia, Nho gia và Mặc gia. Tuy nhiên, tinh túy nhất lại không phải Đạo gia hay Danh gia, mà là Nho gia và Pháp gia.
Phải nói rằng điều này khiến Mông Trọng cảm thấy vô cùng bất ngờ.
Dẫu sao xét về sự gần gũi, Huệ Ánh đáng lẽ nên tập trung vào tư tưởng Đạo gia và Danh gia, chứ không phải Nho gia hay Pháp gia.
Về điều này, Huệ Ánh giải thích: "Đạo gia trị quốc, trị là trị thời thái bình thịnh trị, hơn nữa Đạo gia lấy 'trị mình' làm gốc. Đệ cũng là đệ tử Đạo gia, chắc hẳn có thể hiểu ý của ngu huynh."
Mông Trọng khẽ gật đầu.
Hắn đương nhiên hiểu, tư tưởng trị quốc của Đạo gia chính là "vô vi nhi vô bất vi", được xây dựng trên nền tảng "trị người", tức yêu cầu quân chủ và bề tôi đều phải có những chuẩn mực đạo đức nhất định. Đạo đức của quân chủ và thần dân càng cao thì tư tưởng trị quốc của Đạo gia càng được thể hiện rõ. Nhưng ngược lại, tư tưởng của Đạo gia rất khó thực hiện, ví như thời loạn lạc hiện nay, các nước vì muốn thôn tính đất đai mà chiến tranh liên miên, trong tình thế này, tư tưởng Đạo gia rất khó được quân chủ chấp nhận, dù có được chấp nhận cũng khó lòng trở thành chiến lược trị quốc.
Nói trắng ra, tư tưởng Đạo gia không thích hợp làm công cụ để vương quyền cai trị thần dân.
Mà thứ thích hợp làm công cụ cai trị chính là tư tưởng Nho gia và Pháp gia.
Nho gia của Khổng Tử bắt nguồn từ Chu Lễ, bản thân nó vốn dĩ là để quý tộc cai trị thứ dân. Chỉ là nó đề cao "Nhân Nghĩa", chủ trương kẻ bề trên đối xử tốt với kẻ bề dưới, còn kẻ bề dưới phải chiều lòng, ủng hộ kẻ bề trên, bản chất vẫn là vì sự cai trị của quân quyền.
"Hình bất thượng đại phu, lễ bất hạ thứ nhân", câu nói này đã giải thích đầy đủ bản chất tư tưởng trị quốc của Nho gia.
Còn về Pháp gia, tuy từng chủ trương "vương tử phạm pháp, thứ dân đồng tội", nhưng bản chất vẫn là để duy trì sự cai trị của quân quyền.
Hơn nữa, Pháp gia bắt buộc phải có sự ủng hộ của quân chủ mới có thể thi triển hoài bão trị quốc của mình.
Ngày trước, Thái tử Tần (Doanh Tứ) phạm tội, Thương Quân Vệ Ương nói rằng "pháp luật không thực hiện được là do người đứng đầu phạm phải", quyết định trừng phạt nặng Thái tử để thể hiện sự uy nghiêm của pháp luật. Mặc dù sau đó nhờ người khuyên can mới đổi thành trừng phạt thầy của Thái tử là Công tử Kiền, nhưng kết quả thì sao? Vị Thái tử đó, tức Tần Huệ Văn Vương kế vị sau này, việc đầu tiên ông ta làm sau khi lên ngôi là giết chết Vệ Ương, khiến Vệ Ương, vị trọng thần từng chấp chính nước Tần, phải chạy trốn trong hoảng loạn mà không một người Tần nào dám thu nhận.
Đó chính là kết cục của đệ tử Pháp gia khi mất đi sự ủng hộ của quân chủ.
Tuy nhiên, so sánh mà nói, tư tưởng Pháp gia vẫn có lý luận trị quốc cụ thể khả thi, không giống Nho gia, từ thời Khổng Tử đến thời Mạnh Tử, ngoài những khẩu hiệu quy phạm về "Nhân Nghĩa", "Lễ Đức" ra thì cơ bản không có chiến lược trị quốc nào. Mạnh Tử cũng vậy, các nước Trung Nguyên đã bắt đầu thực hiện "Danh điền chế", mà Nho gia bên kia vẫn còn đề xướng "Tỉnh điền chế" đã lạc hậu hàng trăm năm, nghiêm trọng tách rời khỏi nhu cầu xã hội.
Vì vậy, chủ trương của Huệ Ánh là lấy Pháp trị quốc, lấy Nho trị người, nói chung là thiên về chiến lược trị quốc ôn hòa.
Còn các tư tưởng Đạo gia, Mặc gia, Danh gia khác, Huệ Ánh cho rằng không thích hợp với thế tục hiện tại nên đã từ bỏ. Dẫu sao tư tưởng Đạo gia và Mặc gia quá lý tưởng hóa, còn tư tưởng Danh gia lại như mây bay gió cuốn, đa phần chỉ dùng để làm học vấn tăng thêm kiến thức, chứ không thể khiến quốc gia trở nên hùng mạnh.
Sau khi trao đổi về học thuật, Mông Trọng cũng hỏi Huệ Ánh về nỗi nghi hoặc trong lòng: "A huynh, đệ mạo muội hỏi một câu, Đại vương chinh phạt nước Đằng là để gây áp lực cho nước Tề sao?"
Huệ Ánh nghe vậy có chút ngạc nhiên, nhưng cũng không giấu giếm, gật đầu nói: "Đại vương quả thực có ý định này."
Mông Trọng nghe xong trong lòng nhẹ nhõm, lại hỏi: "Nếu đã như vậy, nước Tống với nước Triệu, nước Tần chắc hẳn đã có minh ước ngầm?"
Huệ Ánh nghe vậy ngẩn ra, nhìn Mông Trọng tò mò hỏi: "Là Phu tử nói cho đệ biết sao?"
Mông Trọng lắc đầu nói: "Phu tử không nói cho đệ, chỉ là đệ tự suy đoán thôi."
Nghe thấy lời này, Huệ Ánh càng cảm thấy kinh ngạc, bèn hỏi: "Sao đệ đoán ra được?"
Mông Trọng bèn giải thích: "Nước Tề là nước mạnh, mà nước Tống ta là nước tầm trung. Lấy nước tầm trung phạm vào kiêng kỵ của nước mạnh, chắc hẳn phải có chỗ dựa. Các nước hiện nay, chỉ có Tần, Tề là mạnh nhất. Nước Tống ta muốn phạm nước Tề, chắc hẳn đã nhận được lời hứa hẹn nào đó từ phía nước Tần, nếu không, hành động này không phù hợp với lợi ích của nước Tống ta. Còn về nước Triệu, nếu Tam Tấn đoàn kết một lòng, dù nước Tần có hứa hẹn với nước Tống ta, nghĩ cũng không dám mạo phạm nước Tần. Rõ ràng trong Tam Tấn có một nước ngầm liên kết với Tần, có thỏa thuận riêng với nước Tống ta..."
Nghe Mông Trọng giải thích, Huệ Ánh vuốt râu thầm khen ngợi.
Ông tin vào phẩm đức của Mông Trọng với tư cách là đệ tử của Trang Tử, đã là lời của cậu thiếu niên này nói là tự mình đoán ra, thì chính là tự mình đoán ra, tuyệt đối không có chuyện giả dối.
Một thiếu niên mới mười bốn tuổi, ở tại Cảnh Bạc mà có thể đoán ra minh ước ngầm giữa Tần, Triệu, Tống, tài trí này khiến Huệ Ánh cảm thấy vô cùng kinh ngạc, không nhịn được thầm khen một câu: Không hổ danh là đệ tử của Trang Tử!
Nghĩ ngợi một chút, Huệ Ánh nghiêm sắc mặt dặn dò Mông Trọng: "Những lời này, ra khỏi miệng ta, vào tai đệ, không được tiết lộ cho người ngoài." Nói đoạn, thấy Mông Trọng gật đầu, ông tiếp tục nói: "Minh ước giữa nước Triệu và nước Tống ta đã hình thành từ lâu, không phải mới đây. ... Năm thứ ba sau khi Vương trục xuất Hoàng Hỷ (Tống Tích Thành Quân), quân chủ nước Triệu là Triệu Ngữ qua đời, tức người đời gọi là Triệu Túc Hầu. Triệu Túc Hầu khi còn sống liên tục chiến tranh với các nước Ngụy, Sở, Tần, Yên, Tề mà không hề lép vế, là một vị hùng chủ. Sau khi ông qua đời, quân chủ nước Ngụy là Ngụy Anh liền liên kết bốn nước Sở, Tần, Yên, Tề nhằm tấn công tiêu diệt nước Triệu. Khi đó, tân quân nước Triệu là Triệu Ung mới kế vị, đã phái sứ giả đến giao thiệp với Đại vương, thúc đẩy minh ước Triệu - Tống. Trong thời gian đó, Triệu Ung phái người thuyết phục nước Việt tấn công nước Sở, lại hối lộ Lâu Phiền đánh nước Yên và Trung Sơn, lại lôi kéo nước Hàn, khiến cục diện Triệu, Hàn, Tống ba nước đối địch với ba nước Ngụy, Tần, Tề, cuối cùng giành được thắng lợi, đập tan âm mưu của nước Ngụy muốn liên kết bốn nước thảo phạt nước Triệu... Cho nên nói, minh ước Triệu - Tống đã hình thành từ rất sớm."
"Nước Hàn?" Mông Trọng lộ vẻ kinh ngạc, không nhịn được hỏi: "Nước Hàn sao lại kết minh với nước Triệu, nước Tống? Chẳng phải nước Hàn thuộc phe nước Tề sao?"
"Đệ chỉ biết một mà không biết hai." Huệ Ánh vuốt râu giải thích: "Khi đó, tộc thúc Huệ Tử của ta đang giữ chức tướng quốc nước Ngụy, ông đã thúc đẩy Tề - Ngụy xưng vương, hai nước Tề - Ngụy kết thành đồng minh, liên kết đánh bại nước Triệu. Nước Hàn sợ bị nước Ngụy thôn tính nên đã kết minh với nước Triệu để chống lại Tề - Ngụy. Khi đó quân chủ nước Tống ta là Hoàng Hỷ, ông ấy dựa vào nước Tề nên bị Triệu, Hàn tấn công... Sau đó nước Tần khí thế hung hăng tấn công nước Ngụy, nước Ngụy liền hòa giải với nước Hàn, liên kết nước Tề chống lại nước Tần."
"Thì ra là vậy."
Mông Trọng chợt hiểu ra, ngay sau đó hắn lại hỏi: "Vậy nước Tần kết minh với nước Triệu, nước Tống từ khi nào?"
Huệ Ánh lắc đầu giải thích: "Nước Tần có minh ước với nước Triệu, nhưng với nước Tống ta thì không có minh ước, chỉ là ba bên ngầm có sự ăn ý mà thôi... Mục tiêu của nước Tần là khiến nước Ngụy, Hàn thần phục, mục đích của nước Triệu là thúc đẩy nước Tề và nước Tần giao tranh, còn nước Tống ta, hay nói đúng hơn là ý của Đại vương, chính là nhân cơ hội thôn tính nước Vệ và một phần đất của nước Tề." Nói đến đây, thấy trên mặt Mông Trọng lộ vẻ mơ hồ, ông bèn khuyên bảo: "A Trọng, cái gọi là minh ước giữa các nước chẳng qua chỉ là những thẻ tre có thể xé rách bất cứ lúc nào mà thôi, thứ thực sự có thể thúc đẩy đồng minh chỉ có lợi ích. Nước Tần không muốn nước Tề tranh hùng với mình, nước Triệu muốn nước Tần và nước Tề kìm hãm lẫn nhau, còn quân chủ nước ta lại muốn tằm ăn lá dâu nước Tề. Nói cách khác, Tần, Triệu, Tống ba nước ngầm đều nhắm vào 'nước Tề', có minh ước hay không, thực ra không quan trọng."
Dừng một chút, Huệ Ánh nói tiếp: "Hai năm trước, nước Tống ta tấn công nước Đằng, quả thực như đệ nói, là để gây áp lực cho nước Tề, nhưng thực tế là nước Triệu muốn chúng ta làm vậy, bởi vì nước Triệu chuẩn bị tiêu diệt Trung Sơn."
"Trung Sơn? Nước Trung Sơn?" Mông Trọng tò mò hỏi.
"Đúng!" Huệ Ánh gật đầu nói: "Nước Trung Sơn nằm ở vùng bụng của nước Triệu, trước đây thường xuyên chịu sự sai khiến của nước Tề để tấn công nước Triệu, vì vậy Triệu Vương Ung muốn một lần tiêu diệt nước Trung Sơn để tránh bị nước Tề kiềm tỏa. Để ngăn nước Tề cản trở việc này, nước Triệu yêu cầu nước Tống ta gây áp lực cho nước Tề, cho nên nước Tống ta mới phát binh tấn công nước Đằng, bày ra tư thế uy hiếp nước Tề."
"Cái này..." Mông Trọng nhíu mày nói: "Đây chẳng phải là bị nước Triệu lợi dụng sao?"
"Phải." Huệ Ánh thở dài đầy phiền muộn, ngay sau đó khuyên nhủ Mông Trọng: "Nhưng làm việc gì cũng không thể chỉ nhìn vào trước mắt. Nước Triệu muốn tấn công Trung Sơn, muốn nước Tống ta kiềm chế nước Tề, nhìn qua thì như thể nước Tống ta bị họ lợi dụng, nhưng đệ nghĩ xem, sau khi nước Triệu tiêu diệt Trung Sơn, nước Triệu và nước Tống có thể hình thành thế kìm kẹp nước Tề. Khi đó, nước Tống ta theo nước Triệu tấn công nước Tề cũng có thể thu lợi từ đó... Còn nước Yên nữa, năm xưa nước Tề tàn sát cướp bóc trong lãnh thổ nước Yên, Yên Vương vô cùng căm hận. Đến lúc đó, ba nước Triệu, Tống, Yên liên thủ tấn công nước Tề, dù nước Tề là nước mạnh thì sao có thể chống đỡ được sự kìm kẹp của ba nước Triệu, Tống, Yên? ... Đến lúc đó, nước Tề chỉ có thể cầu cứu nước Sở, hoặc cầu cứu hai nước Hàn, Ngụy. Nhưng dù là nước Sở hay hai nước Hàn, Ngụy, đều có nước Tần kiềm chế giúp chúng ta, bởi vì nước Tần cũng không muốn nước Tề đứng ngang hàng với nó. Đệ nghĩ xem, nước Tề làm sao có lý do không diệt vong?"
Nghe xong những lời này của Huệ Ánh, Mông Trọng trong lòng vô cùng chấn động.
Hắn không thể ngờ được, đằng sau việc nước Tống phạt Đằng lại ẩn giấu những bí mật sâu xa đến thế.