Chim Ưng Maltese

Lượt đọc: 731 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương II
cái chết dưới làn sương
(death in the fog)

Một tiếng chuông điện thoại reo vang trong bóng tối. Khi chuông reo được ba lần thì lò xo giường kẽo kẹt, mấy ngón tay mò mẫm trên gỗ, một vật nhỏ cứng rớt thịch xuống sàn lót thảm, lò xo lại kẽo kẹt lần nữa, rồi một giọng đàn ông cất lên:

“A lô… Ừ, tôi nghe… Chết hả?... Ừ… Mười lăm phút. Cảm ơn.”

Một cái công tắc tách một tiếng, và một cái bát màu trắng treo bằng ba sợi xích mạ vàng từ giữa trần nhà tỏa ánh sáng khắp phòng. Spade, chân trần trong bộ đồ ngủ kẻ ô vuông xanh trắng, ngồi trên mép giường. Anh nhăn nhó nhìn cái điện thoại trên bàn, trong khi tay anh lấy gói giấy nâu và túi thuốc lá Bull Durham ở bên cạnh nó.

Không khí lạnh, ẩm ướt lùa vào qua hai cửa sổ đang mở, mang theo tiếng còi sương ở Alcatraz rền rĩ, đều đặn mỗi phút khoảng nửa tá lần. Một cái đồng hồ báo thức kêu leng keng, được đặt không chắc chắn trên góc cuốn Duke’s Celebrated Criminal Cases of America —úm sấp trên bàn—chỉ hai giờ năm phút sáng.

Mấy ngón tay dày thò của Spade cuốn thuốc lá một cách cẩn thận, đổ lượng thuốc lá vàng nhạt đã định lượng xuống tờ giấy cong, trải đều thuốc để hai đầu bằng nhau, ở giữa hơi lõm xuống, hai ngón cái lăn mép giấy bên trong xuống và lộn lên dưới mép ngoài khi các ngón trỏ ấn nó qua, hai ngón cái và ngón tay lướt tới hai đầu ống giấy để giữ cho nó đều trong khi lưỡi liếm mép giấy, ngón trỏ và ngón cái bên trái bóp chặt đầu này trong khi ngón trỏ và ngón cái bên phải vuốt nhẹ đường nối ẩm ướt, ngón trỏ và ngón cái bên phải xoắn đầu đó lại rồi đưa đầu kia lên miệng Spade.

Anh nhặt cái bật lửa bọc da heo và ni-ken đã rớt xuống sàn, bấm bấm nó, và với điếu thuốc đang cháy ở một góc miệng, anh đứng dậy. Anh cởi bộ đồ ngủ ra. Sức vạm vỡ, trơn láng của cánh tay, chân và thân hình, cái vai tròn to thõng xuống làm thân hình anh giống như một con gấu. Giống như một con gấu đã cạo lông: ngực anh không có lông. Da anh mềm mại và hồng hào như da con nít.

Anh gãi gáy rồi bắt đầu mặc đồ. Anh mặc một bộ áo liền quần mỏng màu trắng, vớ xám, nịt vớ đen, và đôi giày nâu đậm. Khi thắt giày xong, anh nhấc điện thoại lên, gọi số Graystone 4500, và kêu một chiếc taxi. Anh mặc áo sơ mi trắng sọc xanh, cổ áo mềm màu trắng, cà vạt xanh, bộ vest xám đã mặc hôm đó, một cái áo khoác ngoài bằng vải tweed rộng thùng thình, và cái nón xám đậm. Chuông cửa nhà dưới reo lên lúc anh nhét thuốc lá, chìa khóa, và tiền vào túi.

Nơi đường Bush lợp trên đường Stockton trước khi lao xuống dốc về khu Chinatown, Spade trả tiền và ra khỏi taxi. Sương đêm của San Francisco, mỏng, ẩm ướt, và thấm thấu, làm con phố mờ ảo. Cách chỗ Spade vừa cho taxi đi vài thước, một nhóm người nhỏ đang đứng nhìn lên một con hẻm. Hai phụ nữ đứng với một người đàn ông bên kia đường Bush, cũng nhìn vào con hẻm. Có nhiều khuôn mặt ló ra ở các cửa sổ.

Spade băng qua lề đường giữa mấy cái hầm có lan can sắt mở ra trên những bậc thang trần trụi xấu xí, đi tới chỗ lan can, và, đặt tay lên mép lan can ẩm ướt, nhìn xuống đường Stockton.

Một chiếc ô tô póc ra khỏi đường hầm bên dưới anh với tiếng ro ro vù vù như thể bị thổi ra, rồi phóng đi. Không xa miệng hầm, một người đàn ông đang ngồi chồm hổm trước một bảng quảng cáo dán hình một bộ phim và một loại xăng ngay mặt trước cái khe giữa hai cửa tiệm. Đầu người đàn ông ngồi chồm hổm cúi gần sát vỉa hè để anh ta có thể nhìn dưới bảng quảng cáo. Một tay áp xuống mặt đường, một tay nắm chặt khung xanh của bảng quảng cáo, giữ anh ta ở tư thế kỳ cục đó. Hai người đàn ông khác đứng lóng ngóng cạnh nhau ở một đầu bảng quảng cáo, lén nhìn qua vài phân không gian giữa nó và tòa nhà ở đầu đó. Tòa nhà ở đầu kia có một bức tường bên hông màu xám trơn nhìn xuống khu đất trống phía sau bảng quảng cáo. Ánh đèn nhấp nháy trên bức tường hông, và bóng của những người đang di chuyển giữa ánh đèn.

Spade quay lưng khỏi lan can và bước lên đường Bush tới con hẻm nơi mọi người đang tụ tập. Một viên cảnh sát mặc đồng phục đang nhai kẹo cao su dưới tấm biển tráng men ghi Burritt St. bằng chữ trắng trên nền xanh đậm đưa tay ra và hỏi:

“Anh muốn gì ở đây?”

“Tôi Sam Spade. Tom Polhaus gọi điện thoại cho tôi.”

“À, ra là anh.” Cánh tay viên cảnh sát hạ xuống. “Tôi không nhận ra anh ban đầu. Thôi, họ ở đằng kia.” Anh ta giật ngón cái qua vai. “Chuyện tồi tệ lắm.”

“Đủ tồi tệ rồi,” Spade đồng ý, và đi lên con hẻm.

Nửa đường lên hẻm, không xa lối vào, có một chiếc xe cứu thương tối màu đang đậu. Đằng sau xe cứu thương, về phía bên trái, con hẻm được ngăn bằng một hàng rào ngang thắt lưng, làm bằng các thanh gỗ thô. Từ hàng rào đó, mặt đất tối màu dốc đứng xuống bảng quảng cáo trên đường Stockton bên dưới.

Một đoạn thanh trên cùng của hàng rào, dài mười bộ Anh, đã bị giật ra khỏi cột ở một đầu và treo lủng lẳng ở đầu kia. Mười lăm bộ dưới con dốc, một tảng đá phẳng nhô ra. Trong cái khe giữa tảng đá và con dốc, Miles Archer nằm ngửa. Hai người đàn ông đứng trên anh ta. Một người trong số họ đang rọi ánh đèn pin vào người đàn ông đã chết. Những người đàn ông khác với đèn pin đang di chuyển lên xuống con dốc.

Một người trong số họ chào Spade, “Chào Sam,” và trèo lên con hẻm, bóng anh ta chạy lên con dốc phía trước. Anh ta là một người đàn ông cao to, bụng như thùng phuy, với đôi mắt nhỏ xảo quyệt, cái miệng dày, và bộ râu lởm chởm tối màu cạo vội. Giày, đầu gối, tay, và cằm anh ta lấm lem đất nâu.

“Tôi nghĩ anh sẽ muốn xem trước khi tụi tôi đưa anh ấy đi,” anh ta nói khi bước qua hàng rào bị gãy.

“Cảm ơn, Tom,” Spade nói. “Chuyện gì xảy ra vậy?” Anh đặt khuỷu tay lên một cột rào và nhìn xuống những người bên dưới, gật đầu với những người gật đầu với anh.

Tom Polhaus chọc ngón tay dơ vào ngực trái của mình. “Bắn trúng tim – bằng cái này.” Anh ta lấy ra một khẩu súng lục ổ quay mập mạp từ túi áo khoác và đưa cho Spade. Bùn bám đầy những chỗ lõm trên bề mặt khẩu súng lục. “Một khẩu Webley. Của Anh, phải không?”

Spade nhấc khuỷu tay khỏi cột rào và cúi xuống nhìn vũ khí, nhưng anh không chạm vào nó.

“Đúng,” anh nói, “súng lục ổ quay tự động Webley-Fosbery. Là nó đó. Cỡ 38, tám viên. Bây giờ họ không còn làm nữa. Mất bao nhiêu viên rồi?”

“Một viên.” Tom lại chọc vào ngực mình. “Chắc anh ấy chết rồi mới làm sập hàng rào.” Anh ta giơ khẩu súng lục lấm lem bùn lên. “Đã thấy cái này bao giờ chưa?”

Spade gật đầu. “Tôi đã thấy súng Webley-Fosberys rồi,” anh nói một cách không hứng thú, rồi nói nhanh: “Anh ấy bị bắn ở trên này, hả? Đứng ngay chỗ mày, lưng dựa vào hàng rào. Gã bắn anh ấy đứng đây.” Anh ta đi vòng ra trước mặt Tom và giơ một tay ngang ngực với ngón trỏ chĩa thẳng. “Bắn xong Miles té ngửa, làm sập cái hàng rào rồi lăn xuống dốc cho tới khi tảng đá chặn lại. Vậy hả?”

“Đúng vậy,” Tom trả lời từ từ, nhíu mày lại. “Vụ nổ làm cháy áo khoác ảnh.”

“Ai tìm thấy anh ấy?”

“Thằng Shilling, đi tuần tra đó. Nó đang đi xuống Bush, và ngay khi nó tới đây thì một chiếc xe đang quay đầu chiếu đèn pha lên đây, và nó thấy hàng rào bị sập. Thế là nó đi lên xem, rồi tìm thấy anh ấy.”

“Còn chiếc xe đang quay đầu thì sao?”

“Không có cái quái gì hết, Sam. Thằng Shilling không để ý tới nó, lúc đó đâu biết có chuyện gì sai đâu. Nó nói không thấy ai bước ra khỏi đây trong lúc nó đi xuống từ Powell, nếu không nó đã thấy. Lối thoát duy nhất khác là dưới bảng quảng cáo trên đường Stockton. Không ai đi lối đó. Sương làm đất bị sũng nước, và chỉ có dấu vết Miles trượt xuống và chỗ khẩu súng này lăn.”

“Không ai nghe tiếng súng sao?”

“Trời ơi, Sam, tụi tôi mới tới đây thôi. Chắc phải có người nghe, khi tụi tôi tìm ra họ.” Anh ta quay lại và gác một chân qua hàng rào. “Xuống xem ảnh một chút trước khi chuyển đi không?”

Spade nói: “Không.”

Tom dừng lại, dang chân trên hàng rào và nhìn lại Spade bằng đôi mắt nhỏ ngạc nhiên.

Spade nói: “Anh đã thấy rồi. Anh sẽ thấy mọi thứ mà tôi có thể thấy.”

Tom, vẫn nhìn Spade, gật đầu một cách ngờ vực rồi rút chân qua khỏi hàng rào.

“Súng của ảnh được nhét gọn ở hông,” anh ta nói. “Chưa bắn phát nào. Áo khoác ngoài của ảnh được cài nút. Có khoảng một trăm sáu mươi mấy đô trong người ảnh. Ảnh đang đi làm hả, Sam?”

Spade, sau một thoáng lưỡng lự, gật đầu.

Tom hỏi: “Sao rồi?”

“Anh ấy được giao bám theo một gã tên Floyd Thursby,” Spade nói, và mô tả Thursby y như cô Wonderly đã tả.

“Vì cái gì?”

Spade đút tay vào túi áo khoác ngoài và chớp chớp đôi mắt buồn ngủ nhìn Tom.

Tom lặp lại một cách thiếu kiên nhẫn: “Vì cái gì?”

“Hắn có thể là người Anh. Tôi không biết rõ hắn làm gì. Tụi tôi đang cố tìm xem hắn sống ở đâu.” Spade cười nhẹ và lấy một tay ra khỏi túi vỗ vai Tom. “Đừng có dồn tôi. Tôi sắp đi báo tin cho vợ Miles đây.” Anh quay lưng đi.

Tom, nhăn nhó, há miệng ra, rồi ngậm lại mà không nói gì, hắng giọng, bỏ vẻ nhăn nhó, và nói bằng giọng khàn khàn, hơi dịu dàng:

“Thật tệ, anh ấy bị như vậy. Miles có lỗi lầm như bao người khác, nhưng tôi đoán anh ấy cũng có vài điểm tốt.”

“Tôi đoán vậy,” Spade đồng ý bằng một giọng hoàn toàn vô nghĩa, và đi ra khỏi con hẻm.

Trong một tiệm thuốc tây mở cửa suốt đêm ở góc đường Bush và Taylor, Spade dùng điện thoại.

“Cưng à,” anh nói vào máy một lát sau khi đã quay số, “Miles bị bắn rồi… Ừ, ảnh chết rồi… Giờ đừng có kích động… Ừ… Em phải báo tin cho Iva… Không, anh thề là anh không làm đâu. Em phải làm chuyện đó… Ngoan lắm cưng… Và giữ cổ tránh xa văn phòng… Nói với cổ là anh sẽ gặp cổ – ừ – lúc nào đó… Ừ, nhưng đừng có ràng buộc anh chuyện gì… Vậy đó. Em là thiên thần. Tạm biệt.”

Đồng hồ báo thức leng keng của Spade chỉ ba giờ bốn mươi phút khi anh bật đèn trong cái bát treo lên lần nữa. Anh quăng nón và áo khoác ngoài lên giường rồi đi vào bếp, quay lại phòng ngủ với một ly rượu và một chai Bacardi cao. Anh rót một ly và uống cạn khi đang đứng. Anh đặt chai và ly lên bàn, ngồi xuống mép giường đối diện chúng, và cuốn một điếu thuốc lá. Anh đã uống ly Bacardi thứ ba và đang châm điếu thuốc thứ năm thì chuông cửa nhà dưới reo. Kim đồng hồ báo thức chỉ bốn giờ rưỡi.

Spade thở dài, đứng dậy khỏi giường, và đi tới hộp điện thoại bên cạnh cửa phòng tắm. Anh nhấn nút mở khóa cửa nhà dưới. Anh lầm bầm, “Đồ quỷ sứ,” và đứng nhăn nhó nhìn hộp điện thoại đen, thở không đều trong khi một màu đỏ sậm từ từ lan trên má anh.

Tiếng thang máy ken két và loảng xoảng mở ra rồi đóng lại vang lên từ hành lang. Spade thở dài lần nữa và bước về phía cửa hành lang. Tiếng chân nặng nề, nhẹ nhàng bước trên sàn lót thảm bên ngoài, tiếng bước chân của hai người đàn ông. Khuôn mặt Spade sáng lên. Đôi mắt anh không còn vẻ bồn chồn nữa. Anh mở cửa nhanh chóng.

“Chào Tom,” anh nói với viên thám tử cao to, bụng như thùng phuy, người mà anh đã nói chuyện ở Burritt Street, và, “Chào Trung úy,” với người đàn ông bên cạnh Tom. “Vô đi.”

Họ cùng gật đầu, không ai nói gì, rồi bước vào. Spade đóng cửa lại và mời họ vào phòng ngủ. Tom ngồi ở một đầu ghế sofa bên cửa sổ. Trung úy ngồi trên một cái ghế cạnh bàn.

Trung úy là một người đàn ông thân hình rắn chắc với cái đầu tròn dưới mái tóc muối tiêu cắt ngắn và khuôn mặt vuông sau bộ ria mép muối tiêu cắt ngắn. Một đồng tiền vàng năm đô-la được ghim trên cà vạt của ông ta và có một huy hiệu hội kín nhỏ được đính kim cương tinh xảo trên ve áo.

Spade mang hai ly rượu từ bếp vào, rót đầy chúng và ly của mình bằng Bacardi, đưa cho mỗi người khách một ly, rồi ngồi xuống với ly của mình trên mép giường. Khuôn mặt anh điềm tĩnh và không tò mò. Anh giơ ly lên, nói, “Chúc tội phạm thành công,” và uống cạn.

Tom uống hết ly, đặt nó xuống sàn bên cạnh chân, và lau miệng bằng ngón trỏ lấm bùn. Anh nhìn chằm chằm vào cuối giường như thể đang cố nhớ điều gì đó mà nó gợi nhớ một cách mơ hồ.

Trung úy nhìn ly rượu của mình khoảng mười hai giây, nhấp một ngụm rất nhỏ, rồi đặt ly lên bàn cạnh khuỷu tay. Ông ta quan sát căn phòng bằng đôi mắt cứng cỏi, có chủ đích, rồi nhìn Tom.

Tom cựa quậy một cách khó chịu trên ghế sofa và, không nhìn lên, hỏi: “Anh đã báo tin cho vợ Miles chưa, Sam?”

Spade nói: “Rồi.”

“Bà ấy phản ứng sao?”

Spade lắc đầu. “Tôi không biết gì về phụ nữ hết.”

Tom nói nhỏ: “Anh xạo quá xạo.”

Trung úy đặt tay lên đầu gối và nghiêng người về phía trước. Đôi mắt xanh lục của ông ta nhìn chằm chằm vào Spade một cách đặc biệt cứng đờ, như thể tiêu điểm của chúng là một vấn đề cơ học, chỉ có thể thay đổi bằng cách kéo cần gạt hoặc nhấn nút.

“Anh xài loại súng nào?” ông ta hỏi.

“Không. Tôi không thích chúng lắm. Dĩ nhiên là có một vài khẩu ở văn phòng.”

“Tôi muốn xem một khẩu,” Trung úy nói. “Anh có mang theo khẩu nào ở đây không?”

“Không.”

“Anh chắc không?”

“Cứ nhìn quanh đi.” Spade mỉm cười và vẫy vẫy ly không một chút. “Cứ lật tung cái chuồng này lên nếu ông muốn. Tôi sẽ không than phiền đâu – nếu ông có lệnh khám xét.”

Tom phản đối: “Ối trời ơi, Sam!”

Spade đặt ly xuống bàn và đứng dậy đối diện Trung úy.

“Ông muốn gì, Dundy?” anh hỏi bằng một giọng cứng và lạnh như đôi mắt anh.

Đôi mắt Trung úy Dundy đã di chuyển để giữ tiêu điểm vào Spade. Chỉ có đôi mắt ông ta di chuyển.

Tom lại chuyển trọng lượng trên ghế sofa lần nữa, thở ra một hơi sâu qua mũi, và lầm bầm một cách than vãn: “Tụi này không muốn gây rối đâu, Sam.”

Spade, phớt lờ Tom, nói với Dundy: “Vậy, ông muốn gì? Nói thẳng đi. Ông nghĩ ông là ai mà xông vào đây cố gắng gài bẫy tôi?”

“Được rồi,” Dundy nói trong lồng ngực, “ngồi xuống mà nghe đây.”

“Tôi sẽ ngồi hay đứng tùy ý tôi,” Spade nói, không nhúc nhích.

“Vì Chúa, hãy cư xử phải lẽ đi,” Tom van nài. “Cãi nhau có ích gì? Nếu anh muốn biết tại sao tụi này không nói thẳng thì là tại vì khi tôi hỏi anh Thursby là ai, anh như thể bảo tôi là chuyện không phải của tôi vậy. Anh không thể đối xử với tụi này như vậy, Sam. Chuyện đó không đúng và cũng chẳng giúp anh được gì đâu. Tụi này có công việc phải làm.”

Trung úy Dundy nhảy dựng lên, đứng gần Spade, và đưa khuôn mặt vuông của mình lên sát người đàn ông cao hơn.

“Tôi đã cảnh báo anh là một ngày nào đó chân anh sẽ trượt,” ông ta nói.

Spade mím môi tỏ vẻ coi thường, nhướng mày. “Chân ai cũng có lúc trượt thôi,” anh trả lời bằng giọng điệu chế nhạo, ôn hòa.

“Và đây là của anh.”

Spade mỉm cười và lắc đầu. “Không, tôi ổn rồi, cảm ơn.” Anh ngừng cười. Môi trên anh, bên trái, giật giật trên răng nanh. Mắt anh trở nên hẹp và nóng nảy. Giọng anh trầm xuống như giọng Trung úy. “Tôi không thích chuyện này. Ông đang lượn lờ làm gì? Nói cho tôi biết, hoặc đi ra ngoài và để tôi đi ngủ.”

“Thursby là ai?” Dundy hỏi.

“Tôi đã nói với Tom những gì tôi biết về hắn.”

“Anh nói với Tom quá ít.”

“Tôi biết quá ít.”

“Tại sao anh bám theo hắn?”

“Tôi không bám. Miles bám – vì một lý do chính đáng là tụi tôi có một khách hàng đang trả tiền đô-la Mỹ kha khá để bám theo hắn.”

“Khách hàng là ai?”

Sự điềm tĩnh trở lại trên khuôn mặt và giọng nói của Spade. Anh nói một cách trách móc: “Ông biết tôi không thể nói với ông chuyện đó cho đến khi tôi nói chuyện xong với khách hàng.”

“Anh sẽ nói cho tôi biết hoặc anh sẽ nói ở tòa,” Dundy nói một cách nóng nảy. “Đây là án mạng và anh đừng có quên chuyện đó.”

“Có lẽ. Và đây là điều ông đừng quên, cưng ơi. Tôi sẽ nói hay không là tùy ý tôi. Đã lâu lắm rồi tôi không có khóc lóc ầm ĩ chỉ vì cảnh sát không thích tôi.”

Tom rời ghế sofa và ngồi ở cuối giường. Khuôn mặt lấm bùn, cạo vội của anh ta trông mệt mỏi và đầy nếp nhăn.

“Hãy cư xử phải lẽ đi, Sam,” anh ta cầu xin. “Cho tụi này một cơ hội. Làm sao tụi này điều tra được vụ giết Miles nếu anh không cung cấp những gì anh có?”

“Ông không cần phải đau đầu vì chuyện đó,” Spade nói với anh ta. “Tôi sẽ tự lo cho người chết của tôi.”

Trung úy Dundy ngồi xuống và đặt tay lên đầu gối lần nữa. Đôi mắt ông ta là những đĩa màu xanh lục ấm áp.

“Tôi nghĩ anh sẽ làm vậy,” ông ta nói. Ông ta mỉm cười với vẻ hài lòng ghê gớm. “Đó chính xác là lý do tại sao tụi này đến gặp anh. Phải không, Tom?”

Tom rên rỉ, nhưng không nói gì rõ ràng.

Spade cảnh giác nhìn Dundy.

“Đó chính xác là điều tôi nói với Tom,” Trung úy nói tiếp. “Tôi nói: ‘Tom, tôi có cảm giác là Sam Spade là người giữ chuyện gia đình trong nhà.’”

Sự cảnh giác biến mất khỏi mắt Spade. Anh làm cho đôi mắt mình trở nên đờ đẫn vì chán nản. Anh quay mặt sang Tom và hỏi một cách rất thờ ơ: “Bây giờ bạn trai mày đang ngứa ngáy chuyện gì vậy?”

Dundy nhảy dựng lên và gõ vào ngực Spade bằng đầu hai ngón tay cong.

“Chính là chuyện này,” ông ta nói, cố gắng làm cho mỗi từ đều rõ ràng, nhấn mạnh chúng bằng các đầu ngón tay đang gõ của mình: “Thursby đã bị bắn gục trước khách sạn của hắn ta chỉ ba mươi lăm phút sau khi anh rời Burritt Street.”

Spade nói, cũng cố gắng làm cho lời nói của mình rõ ràng không kém: “Bỏ cái tay quỷ sứ của ông ra khỏi người tôi.”

Dundy rút các ngón tay đang gõ lại, nhưng giọng ông ta không thay đổi: “Tom nói anh quá vội vàng đến nỗi không thèm dừng lại nhìn đối tác của mình.”

Tom lầm bầm xin lỗi: “Thôi đi, mắc dịch, Sam, anh đúng là đã chạy đi như vậy mà.”

“Và anh không tới nhà Archer để báo tin cho vợ anh ấy,” Trung úy nói. “Tụi tôi gọi điện thoại và cô gái trong văn phòng anh ở đó, và cô ấy nói anh đã gửi cô ấy đi.”

Spade gật đầu. Khuôn mặt anh trông ngu ngơ trong sự bình tĩnh đó.

Trung úy Dundy giơ hai ngón tay cong về phía ngực Spade, nhanh chóng hạ chúng xuống, và nói: “Tôi cho anh mười phút để tới một cái điện thoại và nói chuyện với cô gái. Tôi cho anh mười phút để tới chỗ ở của Thursby – đường Geary gần Leavenworth – anh có thể làm được dễ dàng trong thời gian đó, hoặc mười lăm phút là tối đa. Và điều đó cho anh mười hoặc mười lăm phút chờ đợi trước khi hắn xuất hiện.”

“Tôi biết hắn sống ở đâu à?” Spade hỏi. “Và tôi biết hắn không đi thẳng về nhà sau khi giết Miles à?”

“Anh biết những gì anh biết,” Dundy trả lời một cách cố chấp. “Anh về nhà lúc mấy giờ?”

“Ba giờ bốn mươi phút. Tôi đi dạo quanh suy nghĩ mọi chuyện.”

Trung úy ngoắc ngoắc cái đầu tròn của mình lên xuống. “Tụi tôi biết anh không có ở nhà lúc ba giờ rưỡi. Tụi tôi đã cố gọi điện thoại cho anh. Anh đã đi dạo ở đâu?”

“Ra đường Bush một đoạn rồi quay lại.”

“Anh có thấy ai mà—?”

“Không, không có nhân chứng,” Spade nói và cười một cách dễ chịu. “Ngồi xuống đi, Dundy. Ông chưa uống hết ly rượu của mình. Lấy ly của mày đi, Tom.”

Tom nói: “Không, cảm ơn, Sam.”

Dundy ngồi xuống, nhưng không để ý đến ly rượu rum của mình.

Spade rót đầy ly của mình, uống, đặt ly không lên bàn, và trở lại chỗ ngồi bên giường.

“Bây giờ tôi biết tôi đang đứng ở đâu rồi,” anh nói, nhìn bằng đôi mắt thân thiện từ người thám tử cảnh sát này sang người kia. “Tôi xin lỗi vì đã nổi nóng, nhưng mấy thằng chim tụi ông xông vào đây và cố gắng đổ lỗi cho tôi làm tôi lo lắng. Chuyện Miles bị hạ làm tôi bực bội, rồi mấy thằng chim tụi ông lại chơi trò khôn lanh. Nhưng bây giờ thì ổn rồi, giờ tôi biết mấy ông đang định làm gì.”

Tom nói: “Quên nó đi.”

Trung úy không nói gì.

Spade hỏi: “Thursby chết rồi hả?”

Trong khi Trung úy do dự thì Tom nói: “Ừ.”

Rồi Trung úy nói một cách giận dữ: “Và anh cũng nên biết – nếu anh chưa biết – là hắn chết trước khi kịp nói với ai bất cứ điều gì.”

Spade đang cuốn thuốc lá. Anh hỏi, không nhìn lên: “Ông có ý gì? Ông nghĩ tôi biết chuyện đó hả?”

“Tôi có ý như tôi đã nói,” Dundy trả lời thẳng thừng.

Spade nhìn lên ông ta và mỉm cười, giữ điếu thuốc đã cuốn xong trong một tay, bật lửa trong tay kia.

“Ông chưa sẵn sàng còng tay tôi, phải không, Dundy?” anh hỏi.

Dundy nhìn Spade bằng đôi mắt xanh lục cứng cỏi và không trả lời.

“Vậy thì,” Spade nói, “chẳng có lý do đặc biệt nào để tôi phải quan tâm đến những gì ông nghĩ, phải không, Dundy?”

Tom nói: “Thôi đi, phải lẽ đi, Sam.”

Spade đặt điếu thuốc vào miệng, châm lửa, và phả khói cười.

“Tôi sẽ cư xử phải lẽ, Tom,” anh hứa. “Tôi đã giết Thursby bằng cách nào vậy? Tôi quên rồi.”

Tom cằn nhằn tỏ vẻ ghê tởm. Trung úy Dundy nói: “Hắn bị bắn bốn phát vào lưng, bằng súng cỡ bốn mươi bốn hoặc bốn mươi lăm, từ bên kia đường, khi hắn bắt đầu đi vào khách sạn. Không ai thấy, nhưng chuyện đó diễn ra theo kiểu đó.”

“Và hắn đang đeo một khẩu Luger trong bao da đeo vai,” Tom nói thêm. “Nó chưa được bắn.”

“Người ở khách sạn biết gì về hắn?” Spade hỏi.

“Không gì ngoài việc hắn đã ở đó một tuần.”

“Một mình hả?”

“Một mình.”

“Ông tìm thấy gì trên người hắn? Hay trong phòng hắn?”

Dundy mím môi lại và hỏi: “Anh nghĩ tụi tôi sẽ tìm thấy gì?”

Spade vẽ một vòng tròn thờ ơ bằng điếu thuốc lá mềm èo của mình. “Thứ gì đó để nói cho các ông biết hắn là ai, câu chuyện của hắn là gì. Các ông có tìm thấy không?”

“Tụi tôi nghĩ anh có thể nói cho tụi tôi biết chuyện đó.”

Spade nhìn Trung úy bằng đôi mắt vàng xám chứa đựng một sự thành thật gần như phóng đại. “Tôi chưa bao giờ thấy Thursby, dù còn sống hay đã chết.”

Trung úy Dundy đứng dậy, trông không hài lòng. Tom đứng lên ngáp và vươn vai.

“Tụi tôi đã hỏi những gì tụi tôi đến để hỏi,” Dundy nói, nhăn mặt trên đôi mắt cứng như những viên sỏi xanh. Ông ta giữ môi trên có ria mép sát vào răng, để môi dưới đẩy lời nói ra. “Tụi tôi đã nói cho anh biết nhiều hơn những gì anh nói cho tụi tôi. Vậy là công bằng rồi. Anh biết tôi mà, Spade. Dù anh làm hay không làm thì anh cũng sẽ được đối xử công bằng từ tôi, và hầu hết các cơ hội. Tôi không biết tôi sẽ trách anh lắm đâu – nhưng điều đó sẽ không ngăn tôi đóng đinh anh.”

“Công bằng thôi,” Spade đáp lại một cách bình thản. “Nhưng tôi sẽ cảm thấy tốt hơn nếu ông uống ly rượu của mình.”

Trung úy Dundy quay sang bàn, nhặt ly của mình lên, và từ từ uống cạn. Xong ông ta nói, “Chào buổi tối,” và chìa tay ra. Họ bắt tay một cách nghi thức. Tom và Spade bắt tay một cách nghi thức. Spade tiễn họ ra ngoài. Sau đó anh cởi đồ, tắt đèn, và đi ngủ.

— ✧ —

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của dashiell hammett