Chốn Cô Độc Của Linh Hồn

Lượt đọc: 375 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 1

Bá Dương cứ tưởng rằng nỗi đau khổ sẽ khiến người ta cư xử khác đi. Những không, phòng chờ ở nhà hỏa táng chẳng có vẻ gì khác biệt so với những nơi khác: sự sốt ruột muốn được phục vụ trước và những ngờ vực rằng biết đâu ai đó đã chộp được một món hời hơn khiến người ta liên tưởng đến một cái chợ hay sàn giao dịch chứng khoán. Một người đàn ông chen vai anh, cố với lấy vài tờ phiếu giống hệt nhau. Chắc là chỉ thiêu một cái xác thôi chứ, Bá Dương bật cười một mình, người đàn ông quay lại trừng trộ nhìn anh, như thể nỗi mất mát riêng đã trao cho ông ta cái quyền chẳng nợ nần thế giới gì sất.

Một phụ nữ vận đồ đen chạy xộc vào, ngó nghiêng tìm một bông cúc trắng chắc vừa đánh rơi lúc trước. Vị thư ký già nhìn cô gài lại bông hoa lên ve áo và mỉm cười. “Sao họ không thể chậm lại nhỉ,” ông ta nói khi Bá Dương bày tỏ thông cảm với những gì mà ông phải chịu đựng. “Ngày qua ngày, họ quên mất rằng kẻ nào hối hả lao đi tìm kiếm những trái ngọt của đời cũng là lao đến với cái chết.”

Bá Dương thắc mắc không biết vị thư ký - người không ai muốn gặp, mà khi gặp thì sẽ trở thành một phần trong ký ức chẳng ai muốn - có tìm được sự an ủi trong những lời nói đó không; hẳn ông cũng vui, khi biết rằng những kẻ đối xử tệ với ông rồi sẽ trở lại trong một hình thái lạnh lẽo hơn. Ý nghĩ đó khiến Bá Dương cảm mến ông cụ.

Đợi ông già uống trà xong, họ kiểm tra giấy tờ để làm thủ tục hỏa táng cho Tiểu Ái: giấy chứng tử; nguyên nhân tử vong: suy phổi do viêm phổi cấp; thẻ thường trú vàng đóng dấu thôi cư trú chính thức; giấy chứng minh nhân dân. Vị thư ký săm soi kĩ các giấy tờ, trong đó có cả chứng minh nhân dân của Bá Dương, chiếc bút chì điểm những chấm nhỏ xíu bên dưới các con số và ngày tháng mà Bá Dương đã khai. Anh tò mò không biết ông có để ý Tiểu Ái hơn anh sáu tuổi hay không. “Họ hàng à?” Vị thư ký ngẩng đầu lên hỏi.

“Bạn bè ạ,” Bá Dương trả lời, hình dung thấy nỗi thất vọng trong đôi mắt ông lão vì anh không phải là một ca góa vợ nữa ở độ tuổi ba mươi bảy. Anh nói thêm rằng Tiểu Ái bị ốm suốt hai mươi mốt năm qua.

“May là mọi chuyện cũng kết thúc rồi.”

Chỉ còn cách đồng ý với những lời nói không mấy dễ chịu của ông lão. Bá Dương thấy mừng vì anh đã khuyên Dì, mẹ Tiểu Ái, đừng tới đây. Nếu không, hẳn anh sẽ chẳng bảo vệ được bà trước cả thiện ý lẫn ác ý của người lạ, và hẳn anh cũng đã bị nỗi đau khổ của bà đẩy vào tình thế khó xử.

Vị thư ký bảo Bá Dương hai giờ sau quay lại, nên anh tản bộ ra Thường Xuân Uyển. Có lẽ Tiểu Ái sẽ cười nhạo khi thấy những cây thông, cây bách - biểu tượng của tuổi trẻ vĩnh hằng - ở một nhà hỏa táng thế này. Có lẽ cô sẽ chế giễu sự đau đớn của mẹ, vẻ trầm tư của Bá Dương, thậm chí cả cái kết không mấy vinh quang của mình. Lẽ ra chính cô đã có thể sống cuộc đời mình tốt hơn. Mối ác cảm của cô dành cho những kẻ hèn nhát, những kẻ lờ đờ nhạt nhẽo, những kẻ tầm thường, cái sắc sảo đến cay nghiệt của cô: quả là uổng phí khi những góc cạnh của nó đã bị hoen gỉ dần, Bá Dương nghĩ vậy. Quá trình hủy hoại kéo dài quá lâu chỉ biến bi kịch thành nỗi phiền toái; cái chết, khi nó đến, đã hoàn thiện hơn hành vi hủy diệt đầu tiên của mình.

Trên đỉnh một ngọn đồi, những cây cổ thụ canh gác cho các lăng mộ được thiết kế tỉ mỉ. Vài con chim - quạ và ác là - líu ríu bay gần đến nỗi Bá Dương có thể lấy quả thông mà ném chúng, nhưng anh sẽ cần phải có khán giả để chứng kiến một thành tích trẻ con như thế. Nếu có Coco ở đây, cô sẽ biết cách mỉa mai cú ném của anh và trầm trồ khi anh chỉ cho cô những hạt thông bên trong nón thông, dù rằng cô không mấy để tâm đến những thứ đó. Coco hai mươi mốt tuổi, nhưng cô đã học được cách thờ ơ của người đã trưởng thành; khát vọng của cô - quá tham lam đối với một người ở độ tuổi ấy, hoặc quá nghèo nàn - hướng về những tiện nghi hữu hình và những sở hữu vật chất.

Ở cuối đường là một ngôi đình dựng bức tượng đồng bán thân của một người đàn ông. Bá Dương lấy tay gõ nhẹ vào mấy cây cột. Chúng khá chắc, tuy rằng đây không phải là loại gỗ tốt nhất, nước sơn đã phai màu và bong tróc ở nhiều chỗ; theo thông tin trên tấm bia, ngôi đình này chưa đầy hai năm tuổi. Một bó hoa loa kèn bằng nhựa đặt phía dưới tấm bia trông giống hoa chết hơn là hoa giả. Từ khi nền kinh tế khởi sắc, thời gian dường như di chuyển với một tốc độ phi thực ở Trung Quốc, cái mới nhanh chóng trở thành cái cũ, còn cái cũ trôi vào lãng quên. Một ngày nào đó, cả anh nữa cũng có thể - nếu anh muốn thế - bỏ tiền ra để tạc cho mình một bức tượng bán thân bằng đá hay kim loại, đạt được một sự vĩnh cửu nhỏ nhoi để mua vui cho thiên hạ. May chăng thì Coco, hay người phụ nữ nào đó thế chỗ Coco, có thể sẽ nhỏ vài giọt nước mắt trước mộ anh - nếu chẳng để khóc thương cho một thế giới không còn anh thì cũng là để ngậm ngùi cho tuổi thanh xuân bị uổng phí của mình.

Một người phụ nữ xuất hiện trên phía sườn đồi, nhưng vừa thấy Bá Dương đã quay vội đi khiến anh chỉ kịp thoáng thấy khuôn mặt cô trong chiếc khăn trùm đầu có họa tiết trắng đen. Nhìn chiếc áo khoác đen và chiếc túi xách hàng thiết kế trên tay, anh đoán cô là góa phụ, hay khá hơn thì là nhân tình của một kẻ giàu có. Trong đầu anh thoảng qua ý nghĩ đi dấn lên cho kịp cô để hỏi dăm câu ba điều. Nếu thấy hợp, họ có thể tạt vào một ngôi làng nào đó trên đường trở về thành phố và chọn một nhà hàng đồng quê sạch sẽ để thưởng thức những phong vị dân dã: khoai lang nướng trong một chiếc thùng cao bằng kim loại, gà hầm với cái gọi là nấm “hữu cơ tự trồng”, vài hớp rượu khoai mỡ loại mạnh để đưa đẩy câu chuyện và kéo dài bữa trưa. Về lại thành phố, tùy vào tâm trạng, họ có thể tiếp tục gặp nhau hoặc không.

Bá Dương quay trở lại quầy đăng ký đúng giờ đã hẹn. Vị thư ký thông báo rằng sẽ có chút chậm trễ, vì một gia đình vừa nhất quyết đòi kiểm tra mọi thứ để tránh nhiễm khuẩn. Nhiễm khuẩn với tro cốt của người khác hay sao? Bá Dương hỏi, ông lão cười, giải thích rằng đây là nơi phải chiều theo mọi cơn ngẫu hứng bất chợt của người khác. Thật nhạy cảm, Bá Dương bình phẩm về ngành này, tiện thể hỏi xem có phải một người phụ nữ đã một mình tới đây để hỏa táng cho ai đó hay không.

“Một phụ nữ à?” Vị thư ký hỏi.

Bá Dương đắn đo liệu có nên miêu tả hình dung người phụ nữ nọ, nhưng rồi anh quyết định phải cư xử cẩn trọng với người đàn ông có khuôn mặt đáng tin cậy và có khiếu hài hước tinh tế này. Anh nói lảng sang chuyện các quy định mới của thành phố về bất động sản. Sau đó, vị thư ký hỏi xem anh có muốn nhìn di hài Tiểu Ái một lần nữa trước khi đem hỏa thiêu không - ông giải thích rằng một số gia đình yêu cầu thủ tục này; có gia đình thậm chí còn muốn tự tay nhặt xương lên để hoàn tất nghi lễ. Bá Dương từ chối.

Cái ý tưởng rằng mọi việc đã kết thúc như thế này là một sự giải thoát cũng khó tin như ánh mặt trời yếu ớt chiếu vào bảng điều khiển khi Bá Dương lái xe quay về thành phố. Anh đã gửi email cho Mạc Lan và Như Ngọc để báo tin về cái chết của Tiểu Ái. Anh biết Mạc Lan đang sống ở châu Mỹ, nhưng còn Như Ngọc thì không dám chắc: khả năng cao nhất là châu Mỹ; có thể là Canada, hoặc Australia, hoặc nơi nào đó ở châu Âu. Anh ngờ rằng hai người không còn liên lạc với nhau nữa; trong những lần liên lạc với họ, anh chưa từng được nhận một lời hồi âm. Vào ngày đầu tiên mỗi tháng, anh đều đặn gửi email riêng cho từng người để thông báo - nhắc nhở - họ rằng Tiểu Ái vẫn còn sống. Anh không kể về những ca cấp cứu, một lần nhắc tới chứng suy phổi, và vài lần nhắc tới chứng suy tim: hạn chế thông tin sẽ giúp anh bớt kỳ vọng về một lời hồi đáp. Trong suốt thời gian ấy, Tiểu Ái vẫn lay lắt sống, bám víu vào một thế giới không ích gì với cô và cũng không có chỗ dành cho cô, những thông điệp ngắn gọn mà Bá Dương gửi đi đã mang lại cho anh một cảm giác về sự vĩnh hằng. Trung thành với quá khứ là nền tảng của một cuộc đời chưa từng được sống, một cách vô tình hoặc có chủ đích. Sự kiên trì của anh đã bảo vệ cho cái phương án không mấy ấn tượng đó. Anh tin rằng sự im lặng của họ đã chứng tỏ điều đó là đúng: sự im lặng được duy trì bền bỉ nhường ấy chỉ có thể đồng nghĩa rằng lòng trung thành của họ cũng không thua kém gì anh.

Khi bác sĩ xác nhận Tiểu Ái đã chết, Bá Dương không đau khổ, không thấy trút được gánh nặng, mà tức giận - tức giận vì anh đã bị chứng minh là sai, vì đã bị khước từ cuộc tái ngộ mà anh từng coi là quyền của mình: trong trí tưởng tượng của anh, lúc ấy họ - anh, Mạc Lan và Như Ngọc - đã già, thậm chí là rất già, một người đàn ông và hai người phụ nữ đã đi gần hết cuộc đời trần tục của mình, tụ họp lại lần cuối bên hồ nước tuổi thanh xuân. Mạc Lan và Như Ngọc có lẽ sẽ xem sự trở về của họ là một bài ai điếu tự nhiên, nếu không muốn nói là thắng lợi. Để chào mừng sự kiện này, anh sẽ mang Tiểu Ái tới, sự hiện diện của cô sẽ biến hàng chục năm tích cóp của họ - hôn nhân, con cái, sự nghiệp, của cải - thành một bộ sưu tập tiếng cười của kẻ ưa tích trữ. Cuộc đời đẹp nhất là cuộc đời chưa từng sống, Tiểu Ái sẽ là người duy nhất được quyền sở hữu sự thật ấy.

Thế nhưng sự ngớ ngẩn của họ cũng là sự ngớ ngẩn của anh, và để cười nhạo sự ngớ ngẩn của chính mình, anh lại cần đến hai người họ: đau khổ một mình còn dễ chịu hơn là cười một mình. Có lẽ họ chưa nhìn thấy tin báo tử trong email - dù gì thì bây giờ mới là giữa tháng thôi. Bằng trực giác, Bá Dương biết rằng địa chỉ email mà anh nhận được từ Mạc Lan và Như Ngọc không phải là những địa chỉ họ sử dụng hằng ngày, cũng như địa chỉ email đó của anh chỉ dùng để liên lạc với họ vậy. Việc Tiểu Ái đã chết trong sự chăm sóc của anh vào thời điểm anh ít ngờ tới nhất, và việc cả Mạc Lan và Như Ngọc đều chưa hề xác nhận đã đọc được email của anh khiến cho cái chết này trở nên phi thực, như thể một mình anh đang tập dượt cho điều mà anh cần hai người phụ nữ kia - không, cả ba người họ mới đúng - cũng dự phần vào; Tiểu Ái nữa, cô cũng phải có mặt tại tang lễ của chính mình.

Một chiếc Porsche màu bạc chạy vượt lên trước, khiến anh băn khoăn không biết liệu người lái có phải là thiếu phụ anh vừa nhác thấy ở nghĩa trang hay không. Điện thoại rung, nhưng anh cứ kệ nó móc ở thắt lưng. Anh đã hủy các cuộc hẹn trong ngày rồi, nên rất có thể đó là cuộc gọi từ Coco. Anh vẫn thường mập mờ về vị trí của mình với Coco, để cô phải gọi cho anh, và phải sẵn sàng cho những thay đổi vào phút chót.

Đặt cô vào thế lúc nào cũng phải đoán già đoán non mang lại cho anh khoái cảm của việc nắm thế kiểm soát. Sugar daddy 1 - cô và đám bạn bè hẳn đã gọi anh bằng cụm từ vay mượn đó sau lưng anh, nhưng khi anh nửa say nửa tỉnh hỏi cô rằng có phải cô coi anh là như vậy không thì cô cười ngất và nói rằng anh còn quá trẻ để gọi bằng biệt danh đó. Anh nuôi , cô nói sau đó trên điện thoại với một người bạn gái, nháy mắt với anh, về sau anh đã cảm ơn cô vì sự hào phóng đó.

Anh phải đi vòng vèo mấy lượt mới tìm được chỗ đỗ xe ở khu chung cư phức hợp, vốn được xây dựng từ lâu trước khi ô tô trở thành một phần trong đời sống của những người cư ngụ nơi đây. Một người đàn ông đang lau kính chắn gió của chiếc xe nhỏ - liếc qua có thể biết đấy là xe sản xuất ở Trung Quốc - ném một cái nhìn không mấy thân thiện về phía Bá Dương khi anh vừa bước ra khỏi xe. Bá Dương cũng cứng cỏi nhìn lại, trong lòng không khỏi chột dạ, liệu gã có kỷ niệm vết xước nào đó trên chiếc BMW của anh, hay chí ít là đá vào lốp hay cái giảm xóc của nó khi anh đi khuất không. Lối đoán người như thế dĩ nhiên cũng cho thấy sự nhỏ nhen ở anh, nhưng người ta không được để trí tưởng tượng của mình phải bất ngờ trước thế giới. Bá Dương đắc chí với sự khinh miệt mà anh dành cho người khác và cho cả chính mình. Thế giới này, cũng giống như nhiều người sống trong đó, chắc chắn sẽ đối xử với người ta đàng hoàng hơn khi họ chỉ có chút ít lòng tử tế dành cho nó.

Anh định mở khóa căn hộ với chìa riêng thì Dì từ trong nhà mở cửa ra. Chắc Dì vừa khóc, hai mí mắt đỏ lên và sưng húp, nhưng bà vẫn làm ra vẻ bận rộn, gần như là vui vẻ nữa, sốt sắng pha trà dù Bá Dương đã nói không cần, đẩy một đĩa quả hồ trăn về phía anh và hỏi thăm sức khỏe bố mẹ anh.

Bá Dương ước rằng anh chưa từng biết đến căn hộ một phòng ngủ này, vốn đã tồi tàn khi Dì và Chú chuyển đến cùng Tiểu Ái, và không hề thay đổi gì nhiều trong suốt hai mươi năm qua. Đồ đạc cũ kĩ từ những năm 60, 70, những chiếc bàn ghế gỗ rẻ mạt cùng những khung giường bằng sắt từ lâu đã mất đi độ bóng ban đầu. Sự bổ sung duy nhất là một khung tập đi cũ bằng kim loại mà Dì đã mua rẻ được từ bệnh viện khi còn làm y tá ở đó trước lúc nghỉ hưu. Bá Dương đã giúp Chú cưa chân khung, điều chỉnh độ cao, rồi gắn nó vào tường. Ba ngày một lần, Tiểu Ái lại được đưa lên đó để tập đứng cho khỏe cơ.

Những tấm ga trải giường cũ bọc xung quanh tay vịn đã sờn vải sau nhiều năm, lớp sơn màu xanh da trời bị bong tróc tệ hại, để lộ khung sắt bẩn thỉu bên trong. Bá Dương nghĩ vậy là anh sẽ không còn phải lấy kẹo dụ Tiểu Ái tập đứng nữa, nhưng liệu thế giới thiếu cô có tốt hơn cho anh? Như dòng sông đến một khúc ngoặt, thời gian đã trôi đi một nơi nào khác, để lại phía sau nó căn hộ này và những con người sống trong đó, cuộc sống và cái chết của họ giờ chỉ như những hóa thạch của một quá khứ vặt vãnh. Mười năm qua, bố mẹ Bá Dương đã mua bốn ngôi nhà, cái sau lớn hơn cái trước; hiện tại họ đang sống trong một ngôi nhà liền kề hai tầng mà họ luôn hào hứng mời bạn bè lại chơi để ngắm bồn tắm bằng cẩm thạch, chùm đèn pha lê nhập khẩu từ Italy và những thiết bị bóng loáng nhập từ Đức. Bá Dương đã giám sát việc tu sửa cả bốn nơi, quản lý ba căn nhà mà bố mẹ anh hiện đang cho thuê. Bản thân anh cũng có ba căn hộ ở Bắc Kinh; căn đầu tiên, mua khi cưới, anh đã giao cho vợ cũ như một hành động bố thí vì gã đàn ông khiến cô ta phản bội Bá Dương đã không chịu ly hôn vợ như lời hắn hứa.

Tấm ảnh đen trắng phóng to lồng khung đen của Tiểu Ái được treo bên cạnh ảnh của Chú, người đã qua đời từ năm năm trước do ung thư gan. Phía trước hai di ảnh bày một đĩa hoa quả tươi, cam bổ tư, dưa thái miếng, táo và lê, tất cả vẫn còn nguyên vẹn, trông như nhựa sáp và phi thực. Dì rụt rè chỉ cho Bá Dương tất cả những thứ này, như thể muốn chứng minh rằng bà cũng đau đớn ở mức hợp lý - quá nhiều thì bà sẽ trở thành một gánh nặng; quá ít thì lại cho thấy bà là người vô tâm. “Mọi chuyện ổn thỏa cả chứ?” Bà hỏi khi đã nói cạn những chuyện mà ắt hẳn bà đã chuẩn bị trước khi anh quay lại.

Bá Dương chột dạ khi mường tượng cảnh Dì cứ vài phút lại ngó đồng hồ, thắc mắc không biết thi thể con gái mình đang ở đâu. Anh chợt thấy tiếc vì đã một mực yêu cầu Dì không tới nhà hỏa táng, nhưng vội xua ý nghĩ đó ngay. “Mọi việc ổn ạ,” anh nói. “Suôn sẻ cả.”

“Dì thật không biết phải làm gì nếu không có cháu,” bà nói.

Bá Dương lấy chiếc bình đựng tro cốt ra khỏi chiếc túi lụa trắng và đặt bên cạnh đĩa hoa quả. Anh tránh nhìn gần Tiểu Ái trong bức ảnh, có lẽ được chụp khi cô còn học đại học. Sau hai mươi năm, người cô đã to gấp đôi, gương mặt cũng mất đi khuôn hàm góc cạnh. Và được đắp thêm bằng lớp thịt mềm như vậy, để rồi biến mất trong một lò thiêu... Bá Dương rùng mình. Cơ thể đó, khi mất đi, lại chiếm nhiều không gian hơn khi nó còn sống. Anh đột nhiên bước về phía chiếc khung tập đi gắn cạnh tường, ngẫm nghĩ cách tháo bỏ nó.

“Nhưng chúng ta sẽ giữ nó, phải không cháu?” Dì hỏi. “Biết đâu có ngày dì lại cần đến nó.”

Không muốn để Dì lái câu chuyện sang tương lai, Bá Dương gật đầu rồi nói anh phải đi sớm; có đối tác kinh doanh cần gặp.

Phải rồi, Dì nói, bà sẽ không giữ anh ở lại.

“Con đã gửi email cho Như Ngọc và Mạc Lan rồi,” anh nói khi bước ra đến cửa. Thật hèn nhát khi nhắc đến tên hai người, nhưng anh sợ rằng nếu không tự trút bỏ gánh nặng cho mình, anh sẽ lại mất thêm một đêm nữa uống vô độ, cố tình hát lệch tông ở quầy bar karaoke, và hô hố kể những câu chuyện cười tục tĩu.

Dì khựng lại như thể chưa nghe rõ, nên anh nói lại rằng tin này đã được gửi tới Mạc Lan và Như Ngọc. Dì gật đầu tán thành việc anh thông báo cho họ, dẫu anh biết rằng bà đang nói dối.

“Con nghĩ Dì cũng muốn con làm thế,” Bá Dương nói. Thật tàn nhẫn khi lợi dụng một bà lão không có khả năng phản kháng nhưng anh muốn nói với ai đó về Mạc Lan và Như Ngọc, muốn nghe tên họ do một giọng nói khác nhắc đến.

“Mạc Lan là một cô gái tốt,” Dì nói, rướn người lên để vỗ về vai anh. “Dì cứ tiếc mãi chuyện con không lấy nó.”

Ngay cả người ngây thơ nhất, khi bị dồn vào chân tường, cũng có thể thực hiện một tội ác tàn nhẫn. Bá Dương sửng sốt khi thấy Dì có thể tạo ra một cơn đau chí tử như vậy một cách dễ dàng đến thế. Thật lạ lùng khi Dì nhắc đến chuyện hôn nhân của anh. Từ trước đến giờ, giữa họ chỉ có chung Tiểu Ái. Anh từng kể với Dì về chuyện ly hôn, nhưng anh không cần phải nhắc bà, như đã phải nhắc bố mẹ mình, rằng không nên nói tới chuyện đó nữa. Và nói Mạc Lan là lựa chọn tốt hơn cho đám cưới của anh trong khi cố tình bỏ cái tên kia ra - Bá Dương cảm thấy cần phải trừng phạt ai đó, dù rằng anh chỉ lắc đầu. “Cưới hay không cưới thì bây giờ con phải đi rồi,” anh nói.

“Cháu nghĩ mà xem, cũng lâu quá rồi chúng ta chưa được nghe tin tức gì từ Mạc Lan,” Dì vẫn chưa chịu bỏ cuộc.

Bá Dương lờ đi, nói trong tuần anh sẽ quay lại. Trước đó, khi anh hỏi về việc mai táng cho Tiểu Ái, Dì nói bà vẫn chưa sẵn sàng. Anh nghi ngờ, một cách không chính đáng, rằng có lẽ Dì giữ bình đựng tro cốt vì đó là thứ cuối cùng còn ràng buộc anh với căn hộ này. Anh và Dì không phải họ hàng.

Khi trở ra xe, Bá Dương mới thấy là cả mẹ và Coco đều đã gọi cho mình. Anh gọi cho mẹ, và sau đấy gửi tin nhắn cho Coco nói rằng mình sẽ bận đến hết ngày. Những ngày này, Coco và mẹ là hai đối thủ chính tranh giành sự chú ý của anh. Nhưng anh không nghĩ nên giới thiệu cho hai người biết nhau - một người xuất hiện quá ngắn ngủi trong cuộc đời anh, còn người kia, lại quá dài lâu.

Đến nhà bố mẹ sau khi ở nhà Dì là một niềm khuây khỏa. Ngôi nhà được tu sửa như thể để chuẩn bị cho một chương trình quảng cáo trên một tạp chí tiêu dùng, nên nó là một tấm màn hoàn hảo mà thế giới phiền phức ngoài kia tiêu tán dần đằng sau nó. Hơn bất kỳ nơi nào khác, ở đây Bá Dương mới hiểu được tầm quan trọng của việc đầu tư vào những thứ nhỏ nhặt: những thứ đẹp đẽ, chẳng hạn như đồ uống đắt tiền và tiếp đãi thân hữu, buộc con người ta phải nghĩ bé lại, không cảm nhận được gì khác vượt quá môi trường ngay trước mắt.

Chẳng là tối qua họ đã mời bạn bè ra ngoài ăn tối, mẹ Bá Dương giải thích. Họ mang về quá nhiều đồ ăn thừa, nên bà gọi anh đến để xử lý giúp. Anh bật cười, nói rằng không biết mình lại là thùng nước gạo của họ. Bố mẹ anh đã trở nên rất kén chọn trong thói quen ăn uống, bị ám ảnh về những thứ có lợi cho sức khỏe, hoặc sợ thiếu chúng, đối với mọi thứ đi vào cơ thể họ. Anh có thể thấy rằng họ đã gọi một lượng đồ ăn thừa mứa cho bạn bè nhưng bản thân mình chỉ đụng chạm qua loa.

Bữa tối xoay quanh những chủ đề về cặp song sinh mà chị gái anh mới sinh tại Mỹ, giá bất động sản ở Bắc Kinh và ở một thành phố duyên hải, nơi bố mẹ anh đang định mua một căn hộ cạnh bờ biển, cùng sự kém cỏi của người quản gia mới. Sau khi rửa xong bát đũa, mẹ anh mới hỏi, như thể vừa sực nhớ ra, rằng anh đã biết tin Tiểu Ái qua đời hay chưa. Lúc này, bố anh đã đi vào phòng đọc sách.

Bá Dương vốn không thấy có lý do gì để kể cho bố mẹ về chuyện mình vẫn giữ liên lạc với bố mẹ Tiểu Ái và chăm sóc họ kể từ khi bệnh tật và cái chết ập xuống gia đình họ. Hoặc giả có nghi ngờ về bất kỳ mối liên hệ nào, bố mẹ anh cũng không muốn biết thêm. Theo họ, chìa khóa thành công là khả năng sống có chọn lựa, quên đi những gì không nên nhớ, không dây dưa với những người thấp kém hơn và không phù hợp, nhận ra cái vô tích sự của những cảm xúc con người. Danh tiếng và vật chất là thứ yếu song điều này cũng không có gì đáng ngạc nhiên, nếu một người có thể chọn sống phần đời của mình với trí tuệ lạnh lùng. Vì niềm tin này mà họ tạo ra được một tấm gương, là chị gái của Bá Dương, hiện đang là một nhà vật lý nổi tiếng ở Mỹ.

“Con có nghe nói,” Bá Dương đáp. Chắc Dì đã báo tin này cho những người hàng xóm cũ, và anh không hề ngạc nhiên nếu một - mà có lẽ là hơn một - người trong số họ gọi điện cho bố mẹ anh. Nếu việc báo tử mà vui vẻ thì hẳn nó sẽ là cuộc gọi đó, sự trừng phạt bị che giấu vụng về đằng sau vỏ bọc của vẻ lịch thiệp.

Mẹ anh từ phòng bếp quay trở ra với hai tách trà và đưa cho anh một tách. Bá Dương điếng người khi mẹ anh đưa cuộc nói chuyện đi chệch khỏi không khí thoải mái của những chủ đề thông thường giữa họ. Hễ khi nào mẹ gọi là anh đều có mặt; anh tin rằng cách tốt nhất để giữ khoảng cách là làm theo mọi đòi hỏi của bà.

“Vậy con nghĩ sao?” Mẹ anh hỏi.

“Nghĩ gì ạ?”

“Toàn bộ chuyện đó,” bà nói. “Người ta phải thừa nhận sự uổng phí chứ, chẳng nhẽ lại không sao?”

“Cái gì uổng phí kia ạ?”

“Thì đấy, cuộc sống của Tiểu Ái chứ sao,” mẹ anh vừa nói vừa tiện tay chỉnh lại bông hoa thủy vu trong chiếc lọ thủy tinh đặt trên bàn ăn. “Nhưng ngay cả khi bây giờ gạt con bé đó ra thì cuộc sống của những người khác cũng đều đã bị ảnh hưởng mất rồi.”

Bá Dương định hỏi rằng ai là những người bị ảnh hưởng trong suy nghĩ thoáng qua của bà. Hóa chất tìm thấy trong máu Tiểu Ái là lấy từ phòng thí nghiệm của mẹ anh; cho đến nay vẫn chưa xác định được đó là một vụ mưu sát, một vụ tự tử hụt, hay một tai nạn đáng sợ. Gia đình anh không nói về chuyện này, nhưng Bá Dương biết mẹ mình vẫn chưa hề nguôi nỗi oán giận.

“Ý mẹ là sự nghiệp của mẹ bị uổng phí?” Bá Dương hỏi. Sau vụ việc đó, trường đại học đã kỷ luật mẹ anh vì quản lý hóa chất không nghiêm. Lẽ ra đó chỉ là một rắc rối, một sự cố nhỏ trong sự nghiệp học thuật lẽ ra đã rất xuất sắc của bà, nhưng mẹ anh lại một mực phản đối quyết định kia: mọi phòng thí nghiệm trong khoa đều hoạt động theo những quy định lỗi thời, cho phép mọi sinh viên cao học đều có thể tiếp cận các hóa chất. Đành rằng một cuộc đời đã bị hủy hoại, bà thừa nhận điều đó; nhưng bà muốn bị kỷ luật vì tội đã để cho ba đứa trẻ còn đang tuổi vị thành niên ở trong phòng thí nghiệm của mình mà không có người giám sát - tức là sai phạm về mặt quản lý con người chứ không phải quản lý hóa chất.

“Nếu con muốn nói đến sự nghiệp của mẹ thì chắc chắn rồi - nó đã bị uổng phí mà chẳng vì lý do nào cả.”

“Nhưng mọi chuyện với mẹ rốt cuộc lại ổn thỏa cả kia mà,” Bá Dương nói. “Tốt hơn hết, mẹ hãy thừa nhận điều đó đi.” Mẹ anh đã rời trường và tới làm cho một công ty dược phẩm mà sau đó được một công ty của Mỹ mua lại. Với vốn tiếng Anh hoàn hảo bà đã học được ở một trường phổ thông Công giáo, và một vài bằng sáng chế đứng tên mình, bà có được thu nhập lớn gấp ba lần so với mức lương có thể kiếm được trên cương vị một giáo sư.

“Nhưng mẹ đâu có nói rằng mẹ chỉ nói về mình?” Bà nói. “Con cứ tưởng mẹ chỉ biết nghĩ cho mình, nhưng đấy chỉ là con nghĩ thế chứ không phải thực tế.”

“Con thấy có ai khác đáng để mẹ bận tâm đâu?”

“Ngay cả con cũng không à?”

“Ý mẹ là sao?” Bá Dương hỏi, trong lòng không khỏi nghĩ đó quả là một phản ứng quá yếu ớt: người ta chỉ đặt câu hỏi như thế khi đã biết rõ câu trả lời.

“Con không thấy rằng cuộc sống của con cũng bị vụ hạ độc Tiểu Ái tác động sao?”

Bà muốn nghe câu trả lời nào đây? “Rồi người ta cũng quen dần với những việc như thế mà,” anh nói. Nhưng chợt nghĩ lại, nên anh nói thêm, “Không, con sẽ không nói rằng chuyện của cô ấy đã tác động lớn đến con.”

“Ai muốn con bé chết?”

“Sao cơ?”

“Con nghe rõ rồi đấy. Khi ấy ai muốn giết con bé? Nó không phải là đứa có thể đi tự tử được, dù dĩ nhiên là một trong đám bạn gái của con, mẹ không nhớ là đứa nào, đã bóng gió về chuyện đó.”

Mỗi khi nhớ lại những khả năng xung quanh cái chết của Tiểu Ái, Bá Dương chưa từng nghĩ đến mẹ - nhưng có khi nào một bậc phụ huynh lại có chỗ trong trí tưởng tượng của con cái kia chứ? Dẫu vậy, việc mẹ anh có để ý, và rằng cả việc bấy lâu nay anh đã đánh giá thấp những gì bà biết về vụ việc đó, khiến anh bực mình. “Mẹ chắc chắn con hiểu là nếu quả thực con kể với mẹ rằng con chính là người đã đầu độc nó, mẹ sẽ không hé răng hay làm bất kỳ điều gì,” bà nói. “Mẹ nói đây chỉ vì tò mò mà thôi.”

Họ đang tuân theo cùng một nguyên tắc hành xử, là duy trì sự cùng tồn tại giữa hai kẻ xa lạ, một sự gần gũi - nếu như có thể gọi sự thỏa thuận giữa họ là như vậy - được bồi đắp bởi một sự lãnh đạm có tiết chế. Anh thích mẹ cứ như vậy hơn, và biết rằng xét ở ý nghĩa nào đó, anh chưa từng là con của bà; mà bà, khi già đi, cũng sẽ không cho phép mình trở thành người phụ thuộc vào anh. “Con không đầu độc cô ấy,” anh nói. “Con xin lỗi.”

“Sao con lại xin lỗi?”

“Mẹ sẽ vui hơn nếu có câu trả lời. Con cũng sẽ vui hơn nếu có thể nói cho mẹ biết một cách chắc chắn ai là người đã hạ độc cô ấy.”

“Thế thì chỉ có hai khả năng khác nữa thôi. Thế con nghĩ là Mạc Lan hay Như Ngọc?”

Anh đã từng tự hỏi mình câu hỏi đó suốt những năm tháng qua rồi. Anh mỉm cười nhìn mẹ, thận trọng không để lộ điều gì qua nét mặt. “Mẹ nghĩ sao?”

“Mẹ không biết đứa nào cả.”

“Mẹ không có lý do nào để phải biết họ cả,” Bá Dương nói. “Hoặc là bất kỳ ai.”

Người mẹ mà anh vẫn biết, không phải tuýp người ưa ngẫm nghĩ về những câu nói mỉa mai. “Mẹ chưa bao giờ gặp Như Ngọc cả,” bà nói. “Mạc Lan thì dĩ nhiên mẹ có gặp thấp thoáng, nhưng mẹ không nhớ nó lắm. Hình như nó không được thông minh lắm thì phải, đúng không?”

“Con sợ rằng trong mắt mẹ thì không có ai là thông minh cả.”

“Có chị gái con đấy,” mẹ Bá Dương nói. “Nhưng đừng làm mẹ phân tâm. Con biết rõ cả hai đứa mà, nên chắc con phải biết gì đó chứ.”

“Con không mà,” Bá Dương nói.

Bà nhìn anh, anh hình dung bà đang sắp xếp lại vị trí của anh và những người khác trong đầu như cách bà vẫn làm với các phân tử hóa học. Anh nhớ có lần đưa bố mẹ sang Mỹ để kỷ niệm bốn mươi năm ngày cưới của họ. Tới sân bay ở San Francisco, họ nhìn thấy một nơi trưng bày những con vịt giả bằng gỗ. Mặc dù vừa trải qua chặng bay kéo dài mười hai giờ, mẹ anh vẫn săm soi tìm hiểu từng con. Màu sắc và hình dáng khác nhau của chúng khiến bà thích thú, rồi bà đọc những tấm áp phích cũ từ thập niên 1920 quảng cáo giá bán của chúng là hai mươi xu, vận dụng kiến thức sẵn có về tỷ lệ lạm phát qua các năm để tính toán giá của từng con ngày nay. Lúc nào cũng tò mò, Bá Dương nghĩ, tò mò một cách lạnh lùng.

“Con đã bao giờ hỏi chúng chưa?” Bà nói.

“Hỏi là ai trong số họ từng mưu sát ai đó chưa à?” Bá Dương nói. “Con chưa.”

“Tại sao thế?”

“Con nghĩ mẹ đang đánh giá quá cao khả năng con trai mẹ rồi.”

“Nhưng chẳng lẽ con không muốn biết à? Sao con không hỏi chúng?”

“Khi nào chứ? Ngày đó, hay bây giờ?”

“Sao không hỏi bây giờ đi? Giờ Tiểu Ái chết rồi đấy, biết đâu chúng sẽ kể thật với con?”

Bá Dương nghĩ bụng, vì lẽ thứ nhất, cả Mạc Lan và Như Ngọc đều không chịu trả lời email của anh. “Nếu không phải mẹ đang đánh giá quá cao khả năng của con, thì mẹ đang đánh giá quá cao khao khát trung thực của người khác,” anh nói. “Nhưng mẹ đã bao giờ nghĩ rằng biết đâu đó chỉ là một tai nạn thôi không? Liệu chuyện đó có quá ngu ngốc đối với mẹ không?”

Mẹ anh nhìn xuống tách trà của mình. “Nếu mẹ cho quá nhiều lá trà vào ấm, thì có thể coi đó là một nhầm lẫn. Nhưng không ai vô tình bỏ thuốc độc vào tách trà của người khác cả. Hay có phải ý con là Mạc Lan hoặc Như Ngọc mới là mục tiêu thực sự, còn Tiểu Ái đáng thương chỉ vô tình uống nhầm tách trà? Nghĩ mà xem, người đó có thể là con lắm chứ!”

“Việc con vô tình uống phải thuốc độc sao?”

“Không. Mẹ đang hỏi là: con nghĩ sao về khả năng ai đó đang định hạ sát con?”

Đóa thủy vu duy nhất trong bình - loài hoa mà mẹ anh yêu thích - trông đáng sợ và phi thực với đường cong hoàn hảo. Bà khẽ thổi khói phía trên miệng tách trà, không nhìn vào anh nhưng anh biết mình là một phần trong những dò xét. Phải chăng bà đang vặn vẹo quá khứ cho thỏa ý mình, hay bà đang thể hiện nỗi hoài nghi của mình - hay phải chăng cái lằn ranh giới giữa việc vặn vẹo và thể hiện kia nó mong manh quá đến nỗi cái này không thể diễn ra mà không có cái kia? Anh chỉ biết là bấy lâu nay anh đã sống trong sự vô thức có chọn lọc của mẹ, nhưng có lẽ đây chỉ là một điều huyễn tưởng. Người ta không nên đinh ninh bất cứ điều gì về mẹ mình cả.

Anh thừa nhận với mẹ rằng ý nghĩ đó chưa từng xuất hiện trong anh. “Đó cũng là một khả năng chứ con,” bà nói.

“Nhưng tại sao người ta lại muốn giết con?”

“Tại sao ai đó lại muốn giết người khác à?” Bà nói, và Bá Dương lập tức nhận ra rằng anh vừa ăn nói bất cẩn. “Nếu có người lấy trộm chất độc từ một phòng thí nghiệm, thì hẳn người đó đang có ý định làm hại người khác hoặc chính mình. Mẹ chỉ biết rằng ngay vào lúc hóa chất kia bị đánh cắp thì cái hại đó đã diễn ra rồi. Mà bây giờ mẹ không hỏi con lý do. Mẹ không hiểu và cũng không quan tâm đến chuyện tại sao ai đó làm việc này. Tất cả những gì mẹ muốn biết là lúc ấy ai đang muốn giết ai, nhưng rất tiếc con lại không có câu trả lời. Và đáng buồn là có vẻ con cũng không có chung sự tò mò ấy với mẹ.”

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của yiyun li