Ngày mùng 1 tháng Tám năm 1989, khi con tàu đi vào nhà ga mái vòm ở Bắc Kinh, lúc này mắt Như Ngọc vẫn đang tập làm quen khi đột ngột chuyển từ ánh nắng gắt gao của buổi chiều sang không gian màu xám phủ bóng râm của nhà ga, vẫn chưa biết rằng người ta nên bắt tay vào chuẩn bị cho cuộc ra đi từ lâu trước khi đặt chân đến. Có quá nhiều thứ mà ở cái tuổi mười lăm này của cô cần phải học. Tìm kiếm câu trả lời cho những câu hỏi của mình nghĩa là sẽ hiểu thêm về thế giới. Những câu hỏi ngây thơ thuở thiếu thời, riêng tư hơn khi người ta lớn lên, rồi bị lờ đi khi trở nên vô vọng đối với những người cứ một, hai đòi phải có sự chắc chắn của tuổi trưởng thành, những câu hỏi ấy hình thành ngữ cảnh tồn tại của mỗi người. Tuy nhiên, với Như Ngọc, cô đã được nhận về một câu trả lời loại trừ tất cả mọi câu hỏi.
Hành khách di chuyển sang cả hai phía đầu toa tàu. Như Ngọc vẫn ngồi yên nhìn qua ô cửa sổ cáu bẩn. Trên thềm ga, người ta dùng tay và cả ba lô túi xách - thứ này hiệu quả hơn - để chen lấn, xô đẩy nhau mà đi. Sẽ có người nào đó - dù Như Ngọc không biết là ai, mà cô cũng không thấy cần thiết phải tò mò - đang đứng chờ cô ở sân ga. Cô lấy từ trong túi xách ra hai chiếc kẹp rồi đưa tay kẹp lên tóc. Một tuần trước khi lên đường, hai bà dì đã viết thư tả về cô cho chủ nhà nơi cô sẽ đến ở: áo sơ mi trắng, chân váy đen, hai chiếc kẹp tóc màu xanh da trời hình bươm bướm, một chiếc hòm bằng gỗ liễu màu nâu, một chiếc đàn phong cầm 120 âm bass đựng trong một hộp da màu đen, một túi xách đi học, và một bi đông đựng nước.
Hai người hành khách cuối cùng, một cặp chị em dâu trung niên, hỏi xem cô có cần giúp đỡ gì không. Như Ngọc cảm ơn và nói cô không sao. Trong suốt chuyến đi dài chín tiếng, hai người phụ nữ này đã quan sát nhất cử nhất động của cô với sự tò mò không cần bận tâm giấu giếm; chuyện cô chỉ nhấp vài hụm nước, chuyện cô không hề rời khỏi ghế để đi vệ sinh, hay chuyện cô cứ khư khư ôm chiếc túi học trò - tất cả đều không qua được mắt họ. Họ đã mời cô một quả đào, một gói bánh quy soda và sau đó là một chai nước cam ép mua qua cửa sổ tàu ở một nhà ga, nhưng Như Ngọc đều lễ phép từ chối cả. Tuy hai người đã ngầm tán thành với nhau về cung cách cư xử của cô, song điều đó cũng không khỏi khiến họ cảm thấy mếch lòng. Cô có vóc người nhỏ nhắn, và theo những người phụ nữ này cùng nhiều hành khách khác cùng đi, có vẻ cô còn quá nhỏ tuổi cho một chuyến độc hành như vậy; nhưng khi có người hỏi, cô chỉ dè dặt đáp lời, không tiết lộ quá nhiều về mục đích chuyến đi của mình.
Khi lối đi đã vắng người, Như Ngọc mới kéo chiếc hộp đàn phong cầm khỏi giá để đồ. Chiếc túi đi học làm bằng vải bạt cứng cô có từ lớp một, và màu xanh lá cỏ ban đầu của nó từ lâu đã phai thành một thứ màu trắng vàng, nhạt thếch. Bên trong chiếc túi, các bà dì đã khâu thêm vào một chiếc túi vải nhỏ, đựng hai mươi tờ 10 tệ mới cứng, số tiền lớn cho một cô gái trẻ mang đi. Như Ngọc thận trọng kéo chiếc hòm từ dưới ghế ngồi ra - đó là chiếc nhỏ nhất trong bộ ba chiếc hòm gỗ liễu mà theo như các bà dì của cô kể, họ đã mua từ năm 1947 trong cửa hàng bách hóa tốt nhất ở Thượng Hải, và họ đã nài nỉ cô phải nhẹ nhàng với nó.
Vừa chạy lên vấp phải thềm ga, Tiểu Ái đã nhận ra ngay Như Ngọc. Ngoài hai người phụ nữ trung niên nọ, ai còn có thể nghĩ đến chuyện nhồi một cô gái vào trong bộ đồ cổ lỗ sĩ như vậy, rồi chưa hết, còn bắt cô mang theo một chiếc túi đi học lỗi thời và trông như đồ của trẻ con, lại còn lủng lẳng bi đông đựng nước nữa chứ? “Em trông trẻ hơn chị tưởng đấy,” Tiểu Ái nói khi cô tiến lại gần Như Ngọc, nhưng đó là một lời nói dối. Trong tấm ảnh đen trắng mà hai bà dì đã gửi, tuy Như Ngọc mặc chiếc váy len thùng thình như đồ bầu, nhưng trông như một nữ sinh bình thường, đôi mắt chất phác hướng về phía camera; đó là đôi mắt của một đứa trẻ vẫn chưa biết và không bận tâm đến vị trí của mình trong thế giới này. Còn gương mặt đang xuất hiện trước Tiểu Ái bây giờ lại toát lên một vẻ bất khả xâm phạm đến lạnh lùng, điều mà một cô gái ở độ tuổi của Như Ngọc không nên có. Tiểu Ái hơi bực mình, như thể con tàu vừa mang tới nhầm người.
“Chị Tiểu Ái?” Như Ngọc cất tiếng hỏi khi nhận ra cô gái lớn tuổi hơn mình trong bức ảnh gia đình gửi về cho các bà dì: tóc ngắn, gương mặt xương xương, đôi môi mỏng mang lại nét nóng nảy hay hờn dỗi cho gương mặt.
Tiểu Ái rút từ trong túi quần soóc ra bức ảnh mà các bà dì của Như Ngọc đã gửi kèm thư. “Để em biết là không phải gặp nhầm người,” Tiểu Ái nói, rồi lại nhét bức ảnh vào túi.
Như Ngọc nhận ra bức ảnh mới chụp cách đây hai tháng, khi cô vừa bước sang tuổi mười lăm. Hằng năm vào ngày sinh nhật - dù rằng thi thoảng cô vẫn băn khoăn mà không hỏi liệu đó có phải là ngày sinh thực sự của mình không hay chỉ là một sự áng chừng - các bà dì lại đưa cô tới tiệm ảnh để chụp một bức chân dung đen trắng. Những bức ảnh in ra được lưu vào một album, mỗi bức đều được dính vừa khít vào một trang mới với bốn góc viền bạc, và cuối trang đề rõ năm chụp. Suốt bao nhiêu năm qua, người thợ ảnh, vốn ban đầu từng là thợ học việc nhưng giờ đã không còn trẻ nữa, chưa hề bảo cô thay đổi tư thế, vậy là trong bức ảnh chân dung sinh nhật nào, cô cũng ngồi thẳng lưng, hai tay đặt lên đùi. Bức ảnh mà Tiểu Ái có hẳn là bức in thêm, chứ các bà dì của Như Ngọc không phải là người có thể dễ dàng làm xáo trộn một album đã được sắp xếp hoàn hảo và để một khoảng trống giữa bốn góc trang được. Dẫu vậy, Như Ngọc vẫn thấy chột dạ khi nghĩ đến chuyện một người lạ đang giữ thứ gì đó của mình. Cô thấy hai lòng bàn tay mình nhơm nhớp mồ hôi nên chùi vào sau chân váy bằng vải cotton đen.
“Mùa hè thì phải mặc đồ gì mát vào chứ,” Tiểu Ái vừa nói vừa nhìn vào chân váy dài mà Như Ngọc đang mặc.
Trong cái nhìn trách móc của Tiểu Ái, Như Ngọc nhận thấy sự sỗ sàng mà cô phát hiện được ở hai người phụ nữ trung niên nọ trên tàu. Vậy là cô gái này cũng không khác gì với những người khác - họ nhanh chóng đặt mình vào vị trí có thể khuyên nhủ Như Ngọc về cách sống. Họ không biết rằng điều khiến Như Ngọc khác với họ là ở chỗ cô là người được chọn. Những gì cô biết họ sẽ không bao giờ được biết: cô có thể nhìn, và nhìn xuyên thấu họ theo một cách mà họ không thể nhìn thấy cô, hoặc thấy chính mình.
Tiểu Ái hai mươi hai tuổi, là con một của Chú và Dì, họ hàng của hai bà dì Như Ngọc mà vì một lý do khó hiểu nào đó họ lại chưa giải thích cho cô biết. “Những người thật thà,” họ khẳng định như vậy về gia đình đã hứa sẽ cho cô ở nhờ trong một năm - hoặc nếu mọi việc suôn sẻ thì trong ba năm sắp tới, cho đến khi Như Ngọc vào đại học. Thực ra, các bà dì còn cân nhắc hai gia đình nữa ở Bắc Kinh, cũng là họ hàng dây mơ rễ má xa xôi, nhưng cả hai đều có những cậu con trai bằng hoặc xấp xỉ tuổi Như Ngọc. Rốt cuộc, họ chọn Tiểu Ái và bố mẹ cô để tránh những phiền phức có thể xảy ra.
“Em có cần nghỉ lấy hơi một lúc không?” Tiểu Ái hỏi rồi nhấc chiếc hòm cùng chiếc đàn phong cầm lên, không để Như Ngọc kịp trả lời. Cô nói muốn tự mang một thứ, nhưng Tiểu Ái chỉ hất hàm về phía lối ra và nói có người đến giúp đang chờ.
Như Ngọc chưa quen với tiếng ồn ào và cái nóng của thành phố bên ngoài nhà ga. Mặt trời buổi chiều muộn trông như một chiếc đĩa trắng nằm khuất sau màn sương khói, qua những chiếc loa phóng thanh, một người đàn ông đang đọc bằng một chất giọng đanh thép, tên tuổi và đặc điểm của những kẻ đang bị truy nã về tội phá hoại chính quyền diễn ra đầu mùa hè năm đó. Những hành khách chỉ dừng lại ở Bắc Kinh để chuyển ga đã chiếm hết mọi chỗ có bóng râm ở phía dưới các tấm bảng thông báo lớn, những người kém may mắn hơn thì ngả người nằm dưới các tờ báo. Năm người phụ nữ cầm những tấm bảng bằng bìa các tông lao về phía Tiểu Ái, tranh nhau hò hét giới thiệu về nhà nghỉ và dịch vụ đưa đón của họ. Tiểu Ái khéo léo đưa chiếc hòm và hộp đàn lách qua đám đông, trong khi Như Ngọc vì chần chừ giây lát mà bị những người bán hàng dạo khác vây quanh. Một người phụ nữ trung niên mặc váy không tay túm lấy khuỷu tay Như Ngọc rồi kéo cô ra khỏi những người bán hàng còn lại. Như Ngọc cố xoay xoay cánh tay để thoát ra, miệng phân trần rằng cô chỉ đi thăm người thân, nhưng sự phản kháng yếu ớt của cô bị chìm nghỉm trong biển tiếng ồn. Ở quê cô, một người lạ hoặc thậm chí là người quen cũng không bao giờ lại gần cô đến thế này; khi còn nhỏ, dáng vẻ nghiêm khắc và phong thái trang nghiêm của hai bà dì đã giúp bảo vệ cô khỏi sự xâm phạm của thế giới bên ngoài; sau này, ngay cả khi cô đi ra đường hoặc vào chợ mà không có họ đi cùng, mọi người vẫn không dám lại gần cô, họ đã nhận thấy và tôn trọng sự nghiêm nghị của hai bà dì trong chính tác phong nghiêm nghị của cô.
Khi quay lại, Tiểu Ái nhanh chóng giải thoát cho Như Ngọc khỏi đám người bán hàng rong. Đàn của em đâu rồi, cô lên tiếng hỏi khi thấy hai tay Tiểu Ái không mang gì. Lời buộc tội này khiến Tiểu Ái dừng lại. “Ở chỗ những người tới giúp chị, dĩ nhiên rồi,” cô nói. “Sao nào, em nghĩ chị lại bỏ mặc món đồ quý giá của em chỉ để chạy đến cứu một người có đủ chân để bỏ chạy hay sao?”
Như Ngọc chưa từng rơi vào tình huống phải bỏ chạy; hai bà dì - và trong mấy năm gần đây cô còn nhận ra rằng chính bản thân cô nữa - có khả năng khiến người khác phải lùi bước. Khi mới chào đời, cô bị đem bỏ trước cửa nhà một cặp chị em gái không lấy chồng và theo Công giáo, vậy là cô được hai người phụ nữ không có quan hệ máu mủ nuôi dạy mình. Giống như các nhà tiên tri, hai bà dì của cô đã vạch sẵn hành trình cuộc đời cho cô, rằng hành trình đó sẽ đưa cô từ căn hộ nhỏ của họ ở một thành phố tỉnh lẻ tới Bắc Kinh, sau đó là ra nước ngoài, nơi cô có thể tìm được ngôi nhà thực sự và duy nhất của mình trong Giáo hội. Ngoại trừ việc cô ở chung với họ trong căn hộ một phòng ngủ, hàng xóm, thầy cô giáo và bạn cùng lớp không thấy họ cần phải tò mò thêm về cuộc sống của cô, như thể rằng món cháo cô ăn buổi sáng hay cặp găng tay xỏ ngón treo lủng lẳng từ một sợi dây vòng qua cổ cô đã trưng ra những manh mối cho một câu đố nằm ngoài sự hiểu biết của họ. Như Ngọc đã học được cách đáp trả những thắc mắc của họ bằng phong thái lạnh lùng. Dẫu vậy, cô vẫn không khỏi cảm thấy coi khinh sự ngu dốt của họ: cuộc đời họ sẽ trôi qua trong đám bụi mù; cuộc sống của cô, là sự thuần khiết hoàn hảo.
Những người đến giúp Tiểu Ái, một chàng trai và một cô gái, đang đợi dưới bóng râm của một tòa nhà cạnh đường. Tiểu Ái giới thiệu họ: Bá Dương, chàng trai khỏe khắn với làn da rám nắng, có hàm răng trắng bóng khi anh cười, đang buộc hộp đàn phong cầm vào đuôi sau xe đạp; Mạc Lan, cô gái mảnh dẻ với đôi chân dài đang ngồi ngay ngắn trên chiếc xe đạp của mình, chiếc hòm gỗ liễu đã được chằng chắc chắn phía sau. “Họ là hàng xóm đấy,” Tiểu Ái nói. “Cả hai đều lớn hơn Như Ngọc một tuổi, nhưng em sẽ học cùng khối với họ ở trường mới.” Cả Bá Dương và Mạc Lan đều liếc nhìn về phía hộp đàn phong cầm khi nghe nhắc đến trường học, chắc hẳn họ đã được thông tin về kế hoạch của cô. Như Ngọc không có giấy phép cư trú hợp pháp ở Bắc Kinh; khi hai bà dì lần đầu ngỏ ý xin cho cô chuyển tới ở, Chú và Dì viết thư giải thích rằng họ rất muốn giúp cho việc học hành của Như Ngọc, nhưng hầu hết các trường trung học đều không chịu tiếp nhận những học sinh không có giấy phép cư trú trong thành phố. Như Ngọc là một nhạc công giỏi, hai bà dì viết thư trả lời và gửi kèm bản sao chứng chỉ cô đã qua lớp tám môn đàn phong cầm. Như Ngọc không rõ Chú và Dì đã thuyết phục nhà trường - cũng là trường cũ của Tiểu Ái - như thế nào để họ nhận cô vào vì tài năng âm nhạc; chỉ biết rằng hai bà dì cô, khi nhận được thư yêu cầu Như Ngọc đến Bắc Kinh cùng với cây đàn phong cầm và bản chính của chứng chỉ hoàn thành lớp tám, đã không hề tỏ ra ngạc nhiên.
Đêm đó, Như Ngọc nằm trên chiếc giường mà cô sẽ dùng chung với Tiểu Ái, trằn trọc nghĩ về việc sống trong một thế giới nơi mà sự hiện diện của các bà dì không được ai biết đến và trọng thị, lần đầu tiên cô cảm thấy rõ ràng rằng mình đang trở thành đứa trẻ mồ côi mà người ta vẫn quen nhìn nhận ở cô. Bắc Kinh đã khiến cô thấy mình thật nhỏ bé, nhưng tệ hơn nữa là thái độ dửng dưng của mọi người đối với sự nhỏ bé của cô. Trên chuyến xe buýt từ ga tàu tới ngôi nhà mới, một người đàn ông mặc áo sơ mi cộc tay đứng cạnh Như Ngọc, và khi xe chuyển bánh, người gã như dựa cả vào cô. Cô nhích người ra, song cái khối thịt ấy vẫn bám theo mà những hành khách khác không hề hay biết, vì khi Như Ngọc nhìn vào hai người phụ nữ trung niên đang ngồi trên chiếc ghế đôi trước mặt, hy vọng nhận được sự giúp đỡ thì cả hai - có lẽ họ không quen nhau, vì rằng họ không hề trò chuyện hay cười với nhau - đều quay mặt đi rồi nhìn ra các cửa hàng bên ngoài cửa xe. Tình cảnh khó xử này lẽ ra còn kéo dài hơn nữa nếu không có Tiểu Ái, sau khi mua vé từ chỗ người phụ xe, chen qua đám đông, làm như cô đang với lấy phần tựa lưng của một chiếc ghế để giữ thăng bằng, thọc một tay vào giữa gã đàn ông và Như Ngọc. Không ai nói với ai câu nào, nhưng có lẽ Tiểu Ái đã thúc khuỷu tay vào gã hay ném cho gã một cái nhìn sắc cạnh, hoặc đơn giản là sự hiện diện của cô đã khiến gã phải lùi lại. Trên suốt chặng đường còn lại của chuyến xe buýt, Tiểu Ái đứng bên cạnh như một sự hiện diện lạnh lùng giữa Như Ngọc và phần còn lại của thế giới. Cả hai không nói gì với nhau, đến lúc xuống xe, Tiểu Ái chỉ vỗ vào vai Như Ngọc và ra hiệu cho cô đi theo trong khi Tiểu Ái rẽ đám đông đi trước. Như Ngọc để ý thấy gã mặc áo cộc tay ban nãy đang nhìn chằm chằm vào mình khi cô đi ra phía cửa xe. Dù xung quanh có khá nhiều người, song Như Ngọc vẫn thấy mặt mình nóng bừng lên.
Lúc đi trên vỉa hè, Tiểu Ái hỏi Như Ngọc rằng có phải cô quá ngu ngốc đến nỗi không biết tự bảo vệ mình hay không. Như Ngọc hiếm khi phải đối diện với một người đang giận dữ ở khoảng cách gần như vậy; cả hai bà dì cô đều là người tính tình điềm đạm, họ tin rằng bất kỳ sự kích động về cảm xúc nào cũng là chướng ngại đối với sự phát triển cá nhân của con người. Cô thở dài nhìn ra chỗ khác để không làm Tiểu Ái khó xử.
Trong khoảnh khắc, Tiểu Ái chợt thấy hối hận vì cơn giận bột phát của mình - suy cho cùng, Như Ngọc vẫn chỉ là một cô gái tỉnh lẻ, một đứa trẻ mồ côi được những bà cụ lập dị nuôi dưỡng. Lẽ ra Tiểu Ái đã sẵn sàng đấu dịu, thậm chí còn xin lỗi, nếu như Như Ngọc hiểu ngọn nguồn cơn giận của cô, ấy thế nhưng cô gái trẻ này lại không hề có cử chỉ nào để xoa dịu Tiểu Ái hay tự vệ cả. Trong sự im lặng của Như Ngọc, Tiểu Ái cảm nhận được một sự xa cách đầy hàm ý khinh miệt. “Các bà dì chưa từng dạy em cái gì hữu dụng cả hay sao?” Tiểu Ái hỏi, lúc này càng trở nên giận dữ hơn vì cả thái độ không phản ứng của Như Ngọc lẫn vì cơn giận của chính mình.
Không gì có thể khiến Như Ngọc cách biệt khỏi thế giới này một cách triệt để hơn thái độ ác ý dành cho các bà dì của cô. Chống lại sự chỉ trích của người khác về họ không đơn thuần chỉ để biện minh cho cách họ đã nuôi dạy cô: bảo vệ họ nghĩa là bảo vệ Chúa, người đã chọn cô để đặt trước cửa nhà họ. “Các bà dì đã dạy em nhiều điều hơn chị có thể tưởng tượng ra đấy,” Như Ngọc nói. “Nếu chị không thích việc em đến ở với gia đình chị thì em cũng hiểu. Em không đến đây để chị thích, và các bà dì em cũng không phải để chị tán thành hay phản đối.”
Tiểu Ái tròn mắt nhìn Như Ngọc hồi lâu, rồi nhún vai như thể cô không còn tâm trạng tranh cãi với Như Ngọc nữa. Khi cả hai về đến nhà Tiểu Ái thì vụ việc vừa qua dường như đã bị bỏ lại sau lưng.
Xin Người, Như Ngọc chắp hai bàn tay lên ngực, xin Người hãy cho con thấy rằng một thành phố lớn cũng không là gì cả so với Người. Chiếc chiếu tre bên dưới không còn khiến cô thấy mát nữa, nhưng cô không dịch người sang chỗ khác mà vẫn nằm yên ở phía mép giường của mình như Tiểu Ái đã chỉ. Chiếc cửa sổ duy nhất trong phòng là một ô nhỏ hình chữ nhật ở tít trên cao, nên hầu như không đón được không khí buổi đêm, và nằm trong màn, Như Ngọc cảm thấy bộ quần áo ngủ cứ dính chặt vào cơ thể mình. Chiếc ti vi rì rầm phát ra tiếng, màn hình nhấp nháy ánh sáng từ phòng khách đưa vào, nhưng Như Ngọc không nghĩ rằng Chú và Dì đang ngồi xem. Lúc trước họ còn thì thầm nói chuyện với nhau, và Như Ngọc băn khoăn không biết có phải họ đang nói về mình hay các bà dì không. Xin Người, cô lại lẩm nhẩm thầm trong đầu, xin Người hãy cho con trí tuệ để có thể sống giữa những người xa lạ cho đến khi con rời khỏi họ.
Các bà dì chưa dạy Như Ngọc cách cầu nguyện. Thực ra cô không lớn lên trong bầu không khí tôn giáo nghiêm ngặt, dù rằng các bà dì đã làm những gì có thể để mang lại cho cô một sự giáo dục mà họ nghĩ rằng cần thiết để chuẩn bị cho cô trong cuộc đoàn tụ tương lai với Giáo hội. Bản thân họ cũng chưa từng tham gia một buổi lễ nào kể từ năm 1957, khi Giáo hội được Đảng Cộng sản cải tổ thành Hiệp hội Công giáo Yêu nước Trung Hoa; họ cũng không giữ lại bất kỳ bằng chứng cụ thể nào về đời sống tâm linh trước đây của mình. Tuy vậy, từ khi còn nhỏ, Như Ngọc đã hiểu rằng điều khiến cho cô khác với những đứa trẻ khác không phải là sự vắng mặt của bố mẹ mà là sự hiện diện của Chúa trong cuộc đời cô, nhờ vậy mà bố mẹ, anh chị em và bạn bè, thậm chí là cả hai bà dì nữa đều trở thành những thứ ngoại lai. Cô bắt đầu nói chuyện với Chúa từ trước khi bước vào trường tiểu học. “Lạy Cha chúng con ở trên trời,” cô thường nghe hai bà dì nói như vậy từ khi còn rất nhỏ, và Như Ngọc thường kết thúc mỗi ngày bằng cuộc trò chuyện với Chúa, như cách một đứa trẻ thường trò chuyện với người bạn tưởng tượng hay với chính mình, một sự hiện diện vừa trừu tượng lại vừa mang lại sự khuây khỏa chắc chắn. Nhưng Chúa không phải bạn cô hay một phần của chính cô; Người thuộc về cô cũng như Người thuộc về hai bà dì. Như Ngọc biết, không ai trong số những người mà cô gặp được cho tới lúc này ở Bắc Kinh cùng chia sẻ với cô bí mật về sự hiện diện của Người: không phải Chú và Dì, những người đã nói rằng bây giờ cô là người trong nhà rồi nên nếu cô cần gì thì cứ nói; không phải những người hàng xóm, tức là năm gia đình khác đã túa cả ra sân khi thấy cô đến, nói chuyện với cô như thể đã thân quen từ lâu, một người đàn ông trêu chọc về cây đàn phong cầm quá lớn so với đôi vai hẹp của cô, một người phụ nữ phê bình bộ trang phục vì nó sẽ khiến cô bị rôm sảy trong tiết trời ẩm như thế này; không phải chàng trai Bá Dương hay cô gái Mạc Lan, cả hai đều ít nói trước mặt người lớn, nhưng từ những cái nhìn trao đổi giữa hai người, Như Ngọc biết họ có nhiều điều để nói với nhau; và không phải Tiểu Ái, người đã kịp rời sân trong sự sốt ruột đầy vẻ trịch thượng trước những sự nhặng xị của hàng xóm khi thấy người mới đến, trước khi họ hoàn thành màn chào hỏi Như Ngọc.
Xin Người hãy làm cho thời gian con phải ở với những người xa lạ này trôi qua thật nhanh để con có thể sớm đến được với Người. Cô sắp kết thúc cuộc trò chuyện với Chúa bằng một lời xin lỗi như thường lệ - cô luôn đòi hỏi quá nhiều ở Người trong khi không đền đáp lại chút gì - thì cửa chính mở ra rồi lại đóng sầm lại; chiếc chuông kim loại mà trước đó cô thấy treo trên khung cửa kêu lên leng keng, nhưng rồi lại nhanh chóng bị bàn tay của ai đó ghìm lại. Dì nói câu gì đó, rồi Tiểu Ái - chắc hẳn cô là người vừa mới vào nhà - đáp lại với giọng như đang cãi lại mẹ, dù rằng cả hai người đều hạ thấp giọng, và Như Ngọc không thể nghe được họ trao đổi với nhau những gì. Cô nhìn qua màn tới tấm rèm ngăn phòng ngủ với phòng khách - một tấm vải in hoa trắng trên nền cotton xanh da trời - và nhìn vào ánh sáng từ phòng khách đang lẻn vào phòng ngủ từ phía dưới tấm rèm.
Căn nhà hơn một trăm năm tuổi này được xây dựng để phục vụ đời sống gia đình truyền thống, phần trung tâm là phòng khách, lối vào phòng khách và các phòng ngủ thông nhau, không có cửa. Phòng ngủ bé nhất, chỉ nhỏ như một cái buồng đơn nằm ở phía tay phải cửa chính, là toàn bộ thế giới của Ông - bố của Chú, đã nằm liệt giường từ năm năm qua sau một loạt các vụ tai biến. Lúc chập tối, khi Dì dẫn Như Ngọc đi quanh ngôi nhà, bà đã vén nhanh tấm rèm để cô thoáng trông thấy một ông cụ đang nằm trong một tấm chăn mỏng màu xám, sự sống duy nhất còn vương lại trên khuôn mặt hốc hác của ông là cặp mắt mờ đục đảo sang nhìn Như Ngọc. Ông nói câu gì đó nghe khó hiểu, và Dì đáp lại bằng một giọng to nhưng chẳng có vẻ khó chịu rằng không cần phải lo lắng gì. Dì bảo tiếc rằng họ không thể thu xếp phòng ngủ riêng cho Như Ngọc được, rồi chỉ tay về phía chiếc rèm che Ông và hạ giọng nói: “Ai biết đâu đấy. Cái phòng này có thể trống bất kỳ lúc nào.”
Phòng ngủ mà Như Ngọc sẽ phải dùng chung với Tiểu Ái là căn phòng lớn nhất trong nhà, vốn trước đây là phòng của Chú và Dì. Dì xin lỗi vì không có thời gian sửa sang, chỉ kịp kê thêm một chiếc bàn học sinh mới vào góc phòng. Dì phân trần rằng căn phòng ngủ kia - tức là phòng ngủ cũ của Tiểu Ái - không đủ lớn để kê bàn nên không dùng được, vì Như Ngọc cũng cần có góc yên tĩnh riêng để học. Như Ngọc lầm bầm nói câu gì đó nửa như xin lỗi nửa như cảm ơn, dù rằng có lẽ Dì, lúc này đang phủi bụi khỏi cái chụp đèn của chiếc đèn bàn - theo Dì cũng là đồ mới, mua trong đợt giảm giá cùng với cái bàn - không nghe được. Như Ngọc băn khoăn không biết các bà dì có nghĩ đến chuyện kế hoạch mà họ vạch ra cho cô sẽ làm xáo trộn cuộc sống của người khác hay không; mà nếu họ có biết điều gì đó, họ cũng chưa từng nói gì với cô cả, cô thấy khó xử khi một người nhỏ bé như mình lại có thể gây ra quá nhiều phiền toái như thế. Vào giờ ăn, khi Dì nhắc Tiểu Ái dạy Như Ngọc cách mắc màn, cô đã chế giễu rằng một đứa trẻ con cũng có thể làm việc đó, khiến Dì phải đấu dịu nói rằng bà chỉ muốn để Như Ngọc thông thuộc ngôi nhà mới. Chú, một người ít nói với nụ cười buồn trên khuôn mặt, ngồi vào bàn ăn với chiếc áo lót sờn chỉ, nhưng rồi lại vội vàng quay về phòng ngủ khi thấy Dì lườm, và quay trở ra trong chiếc áo sơ mi cài cúc gọn gàng. Từ sự chờ đợi trên khuôn mặt của Dì và Chú, Như Ngọc biết rằng bữa tối này đã được chuẩn bị cho cô với sự chu đáo hơn bình thường, và lúc sau, khi đi lấy nước từ chiếc thùng gỗ cạnh bếp để đổ vào giá rửa mặt, cô loáng thoáng nghe thấy tiếng Chú đang an ủi Dì rằng có lẽ con bé đi đường xa mệt, tiếng Dì đáp lại rằng bà hy vọng Như Ngọc sẽ thấy ngon miệng trở lại, vì một người ở độ tuổi của cô mà chỉ ăn uống nhỏ nhẻ như chim sẻ như vậy thì dĩ nhiên là không thể khỏe mạnh được rồi.
Có người bước lại gần căn phòng ngủ, một cái bóng hắt lên chiếc rèm. Như Ngọc nhắm mắt lại khi cô nhận ra đó là Tiểu Ái. Dì thì thầm câu gì đó nhưng Tiểu Ái không đáp lại rồi bước vào trong phòng. Cô dừng lại trong bóng tối lờ mờ rồi bật chiếc bóng đèn trơn từ trần nhà treo thấp xuống. Như Ngọc nằm nghe tiếng Tiểu Ái sờ soạng trong phòng, mắt càng nhắm chặt hơn. Một lát sau, chiếc quạt điện được bật lên, tiếng kêu vù vù của nó là âm thanh duy nhất trong bầu yên tĩnh của buổi đêm. Làn gió quạt khiến chiếc màn bay bay, và với tiếng thở dài có phần phóng đại, Tiểu Ái vừa giắt màn vừa nói: “Ít ra em cũng phải thông minh hơn lũ muỗi một tí chứ.”
Như Ngọc băn khoăn không biết mình có nên xin lỗi không và rồi cô quyết định vẫn nhắm mắt.
“Không nên bọc kín người trong chăn như thế,” Tiểu Ái nói. “Trời nóng thế này kia mà.”
Sau một lúc yên lặng, Như Ngọc đáp rằng cô không sao, Tiểu Ái không nói tiếp về chủ đề này nữa. Cô tắt đèn và thay đồ trong bóng tối. Khi cô trèo lên giường ở phía bên mình và chỉnh lại chiếc màn, Như Ngọc thấy hối hận vì đã không chuẩn bị từ trước bằng cách quay lưng về phía giữa giường. Bây giờ thì quá muộn rồi, nên cô cố gắng nằm yên thở thật khẽ. Xin Người, cô lại thầm nói trong đầu, trong lòng cảm thấy rõ Tiểu Ái đang nghĩ đến mình, xin Người hãy che chở con bằng tình yêu thương của Người để họ không thể cảm thấy sự tồn tại của con.
Sau đó, khi Tiểu Ái đã ngủ, Như Ngọc mở mắt ra nhìn vào đình màn bên trên mình, màu xám và không có hình dáng cố định, lắng nghe tiếng quạt quay vù vù. Lúc này cô đã xuống tàu được vài tiếng rồi, nhưng cơ thể cô vẫn còn cảm thấy sự chuyển động của con tàu, như thể nó vẫn còn giữ lại - vẫn đang tiếp tục sống lại - ký ức của cuộc hành trình. Còn rất nhiều điều phải làm quen trong cuộc sống mới của cô, một nhà vệ sinh công cộng nằm ở cuối phố mà Mạc Lan đã chỉ cho cô trước đó; một vòi nước ngoài trời đặt ở giữa sân, nơi Như Ngọc đã thấy Bá Dương và một vài cậu trai trẻ trong khu tụ tập lại sau khi mặt trời lặn, người nào người nấy đều cởi trần, vỗ nước lạnh lên người rồi luân phiên nhau cúi đầu dưới vòi nước để làm mát; một chiếc giường dùng chung với một người lạ; những bữa ăn diễn ra dưới sự theo dõi đầy lo âu của Dì. Lần đầu tiên trong ngày hôm đó, Như Ngọc chợt thấy nhớ da diết cái giường của mình nằm khuất sau một bức màn cũ bằng vải mu-xơ-lin trong tiền phòng ở căn hộ một phòng của các bà dì.