Tin nhắn của Celia trong hộp thư thoại của Như Ngọc nghe có vẻ hoảng hốt, như thể Celia đang bị kẹt trong một cơn lốc xoáy, nhưng Như Ngọc không ngạc nhiên lắm trước tình huống khẩn cấp ấy. Tối hôm đó là đến lượt Celia chủ trì cuộc họp mặt của các quý bà. Ban đầu, những buổi gặp mặt hằng tháng này là sinh hoạt của câu lạc bộ đọc sách, nhưng rồi khi số lượng những cuốn sách đọc dở và chưa thảo luận cứ ngày một nhiều lên, thì các hoạt động khác được đưa vào - nếm rượu, thử trà, một buổi hỏi đáp với chủ tịch một hãng bất động sản địa phương khi thị trường xuống dốc, một hội thảo vào kỳ nghỉ với chuyên đề về xà bông và nến tự làm. Celia, một trong ba thành viên sáng lập câu lạc bộ sách, đặt tên cho nó là Hiệp hội các Quý bà Buckingham, nhưng cô chỉ dùng cái tên đó với Như Ngọc vì sợ rằng nó có thể làm mếch lòng những người không tham gia câu lạc bộ, cũng như một số người có tham gia. Thì không phải mọi thành viên trong câu lạc bộ đều sống ở đường Buckingham. Một vài người sống ở những con phố ít nổi bật hơn, chẳng hạn như đường Kent, hẻm Bristol, hẻm Charing Cross, và đường Norfolk. Dĩ nhiên, nhà cửa ở các khu phố đó cũng khá giả, trẻ nhỏ ở những ngôi nhà đó cũng học chung trường với con cái cô, nhưng Celia, một người sống ở Buckingham, không thể không cảm thấy thích thú trước sự khác biệt tinh tế giữa phố của cô và phố của những người khác.
Như Ngọc băn khoăn không biết có phải người làm hoa đã hiểu sai chủ đề màu sắc mà Celia đã yêu cầu, hay là người cung cấp đồ ăn - người mới mà cô thử yêu cầu theo lời giới thiệu của một người bạn - không đáp ứng được kỳ vọng của cô. Dù là trường hợp nào thì sự hiện diện của Như Ngọc cũng đang rất cần thiết - cô có thể đến sớm được không, Celia nói trong thư thoại, tôi xin đấy? - không phải để sửa cái gì sai, mà chỉ để chứng kiến cơn lốc xoáy của Celia. Luôn phải chịu thất vọng, số phận của Celia đã được định đoạt sẵn như thế rồi; cuộc đời luôn trút xuống đầu cô những nỗi khốn khổ mà cô phải chịu đựng thay cho tất cả mọi người, để thế giới này có thể tiếp tục trở thành một nơi tốt đẹp, vắng bóng những thảm họa. Sự khổ sở của Celia, theo suy nghĩ - không mấy tử tế - của hầu hết mọi người là không có gì ghê gớm mà chỉ rặt thái độ phóng đại tự cho mình là trung tâm, nhưng Như Ngọc, một trong số rất ít người nhìn nhận nghiêm túc sự hy sinh của Celia, hiểu nguồn gốc những nỗi giày vò của cô ấy: Celia được nuôi dưỡng trong gia đình có bố mẹ theo Công giáo, dù rằng giờ đây cô không theo đạo nữa.
Khi Như Ngọc đến Moorlands’, Celia cho cô hay Edwin và hai cậu nhóc đã ra ngoài ăn tối rồi sau đó đi chơi trò Chiến binh. Cô cũng kể chuyện rằng sáng hôm đó, một con chim cổ đỏ bay vào nhà qua cửa sổ, va vào kính rồi bất tỉnh và khiến cả nhà nháo nhác, may mà cửa sổ không vỡ và bác làm vườn Luis cũng có mặt để chăm sóc cho con chim tội nghiệp. Người cung cấp thực phẩm đến muộn mười bảy phút, vậy chẳng phải cô đã quá khôn ngoan khi trước đó đã thay đổi lịch giao hàng sớm hơn nửa tiếng hay sao? Đang thao thao kể về cuộc nói chuyện giữa cô với người giao đồ, Celia chợt dừng lại. “Ruby,” cô nói. “Ruby.”
“Vâng,” Như Ngọc nói. “Tôi đang nghe đây.”
Celia tới ngồi cạnh Như Ngọc ở góc ăn sáng. Gỗ làm bàn ghế ăn vốn được lấy từ một chuồng ngựa ở Kensington, nơi bà Celia thường tới để tập cưỡi ngựa - cô vẫn hay kể chuyện này cho khách tới nhà nghe. “Đầu óc cô cứ như đang để đi đâu ấy,” Celia vừa nói vừa đẩy cốc nước về phía Như Ngọc.
Người phụ nữ mà Celia nghĩ là Ruby, lẽ ra trên cương vị một khán giả, phải dồn hết sự chú ý vào câu chuyện của cô. Như Ngọc cảm ơn Celia đã đưa nước và nói không phải cô đang mải nghĩ chuyện khác. Với các bạn bè của Celia - mà nhiều người trong số họ không bao lâu nữa sẽ đến đây - Như Ngọc, tùy vào nhu cầu của từng người, là một người phụ nữ đa năng: một gia sư tiếng Quan Thoại, một người trông nhà và trông thú nuôi đáng tin cậy, một cô giữ trẻ có thể thu xếp vào phút chót, một thu ngân bán thời gian trong một cửa hàng bánh kẹo nho nhỏ, một người giúp việc trong các bữa tiệc thi thoảng. Nhưng lòng trung thành của cô, trước tiên và trên hết, là thuộc về Celia, vì cô là người đã tìm cho Như Ngọc vô số cơ hội như thế, bao gồm cả vị trí ở La Dolce Vita, một công ty gia đình thế hệ thứ ba do một người bạn trung học của Celia sở hữu.
Celia thường hiếm khi chú ý đến điều gì khác ngoài mối bận tâm trước mắt của mình, nhưng thảng hoặc, khi bị phân tâm, cô có thể hiểu được tâm sự của người khác. Những lúc đó, cô sẽ một mực đòi người kia phải giải thích, như thể sự thúc ép nằng nặc của cô đòi biết nỗi khổ tâm của người khác sẽ giúp cô thoát ra khỏi nỗi dằn vặt của chính mình vậy. Như Ngọc chột dạ phân vân không biết trông mình có đến nỗi bất an quá không, rồi thầm nghĩ giá mà cô sửa sang mặt mày trước khi bước vào trong nhà.
“Hôm nay trông cô lạ lắm,” Celia nói. “Đừng có nói với tôi là hôm nay cô gặp xui nhé. Tôi cũng chán đủ đường rồi đây.”
“Những việc mà tôi làm ngày hôm nay đây: Sáng tôi trông cửa hàng; ghé qua chỗ tiệm giặt khô; cho mèo của Karen ăn; rồi đi dạo,” Như Ngọc nói. “Đấy, cô nói xem, hôm nay tôi gặp khó khăn gì nào.”
Celia thở dài rồi nói dĩ nhiên là Như Ngọc đúng rồi. “Cô không biết tôi ghen tị với cô thế nào đâu.”
Như Ngọc thường xuyên được nghe câu này, đôi khi cô cũng gần như tin rằng Celia nói thật. “Trong thư thoại, giọng cô nghe khủng khiếp quá,” Như Ngọc nói. “Có chuyện gì vậy?”
“Do bực mình quá thôi,” Celia nói rồi đứng lên đi lấy một đôi áo phông trắng. Chuyện là chiều hôm đó, cô tham dự một cuộc họp bàn về việc gây quỹ cho một lễ hội nghệ thuật lớn ở San Francisco, và trong ủy ban của quỹ có một nhà văn là tác giả của những cuốn sách trinh thám dành cho giới trẻ bán rất chạy dạo gần đây. “Xin một nhà văn ký vào áo của những người hâm mộ ông ta thì có gì là quá đáng đâu,” Celia nói. “Người đàng hoàng sẽ biết tự trọng hơn thế này.” Cô khinh bỉ vứt cặp áo phông vào lòng Như Ngọc, và Như Ngọc trải rộng chúng lên mặt bàn. Trên hai chiếc áo là nét chữ viết hoa của nhà văn bằng mực bền màu đen, “Tặng Jake, cô nhi tương lai” và “Tặng Lucas, cô nhi tương lai,” bên dưới là chữ ký loằng ngoằng của ông ta.
Có lẽ nhà văn kia chỉ coi đó là một trò đùa, một cái nháy mắt ranh mãnh cho hai chàng trai sau lưng mẹ chúng; hoặc nó không đơn thuần là một trò đùa, ông ta cảm thấy mình cần phải tiết lộ một sự thực tối thượng rằng trẻ nhỏ chẳng học được gì từ bố mẹ chúng cả. “Thật không thể chấp nhận nổi,” Như Ngọc vừa gấp cặp áo phông vừa nhận xét.
“Đấy, giờ thì tôi biết làm gì với mấy cái áo này đây? Tôi đã hứa với bọn nhóc là sẽ xin chữ ký của lão cho chúng. Tôi biết nói thế nào cho chúng hiểu rằng cái con người mà chúng ngưỡng mộ là một gã khốn? Thực sự là một thằng tồi,” Celia nói rồi nuốt ực hớp rượu như để xả trôi cái dư vị đắng ngăn ngắt. “Ơn Chúa là Edwin đón chúng ở trường, nên về sau tôi mới phải xử lý chuyện này.”
Tội nghiệp Celia khờ khạo, ngây thơ tin, như phần lớn mọi người khác, vào cái khoảnh khắc được gọi là về sau . Ung dung ở vị trí xa xôi, về sau hứa hẹn vô số những khả năng: những thay đổi, những giải pháp, những phần thưởng, niềm hạnh phúc, tất cả đều quá xa để có thể là thực, nhưng lại đủ thực để giải thoát người ta khỏi cái tổ kén ngột ngạt mang tên bây giờ . Giá mà Celia đủ mạnh mẽ để có thể vừa tử tế lại vừa nghiêm khắc với chính mình để mà đừng nói về sau này nữa - kẻ hủy diệt tàn nhẫn của hiện tại. “Chính xác thì,” Như Ngọc hỏi, “cô định nói gì với chúng sau này?”
“Nói là tôi quên nhé?” Celia phân vân. “Biết nói gì nữa đây chứ? Thà để lũ trẻ giận mình, thà để chồng thất vọng vì mình, còn hơn là khiến người ta phải đau lòng. Ruby, nói cho cô biết nhé, cô không có con là khôn đấy. Cô không muốn lấy thêm một ông chồng khác là càng khôn nữa. Cứ thế này mà sống đi nhé. Nhiều khi tôi cứ nghĩ, cuộc sống của cô sao mà đơn giản và hay ho đến thế. Đấy, tôi tự nhủ lòng là phụ nữ phải biết tự đối xử với mình như thế.”
Nếu Celia là người khác, có lẽ Như Ngọc đã cau mày mà cho rằng những lời nói đó thật khó nghe, thậm chí là đầy ác ý, nhưng Celia, vốn chỉ là chính Celia mà thôi, chưa từng nghi ngờ tính chân thực trong những lời nói của chính mình, lại gần gũi như một người bạn mà Như Ngọc có thể chấp nhận. Cô lại giở cặp áo phông vừa gấp ra, săm soi nhìn nét chữ, rồi hỏi Celia có cặp áo phông trắng nào khác không. Để làm gì kia? Celia hỏi. Biết đâu chúng ta lại có thể tự khắc phục được sự cố này, Như Ngọc nói. Celia bán tín bán nghi, nhưng Như Ngọc quả quyết cô sẽ làm thật. Có gì sai trái đâu khi mượn tên của nhà văn kia để làm vui lòng hai cậu bé chứ?
Celia ngập ngừng mang ra cặp áo phông khác, Như Ngọc hỏi cô muốn lũ trẻ mặc thông điệp gì tới trường.
“Cô có chắc làm thế là đúng không? Tôi không muốn tụi trẻ nghĩ rằng tôi lại đi nói dối chúng.”
Như Ngọc định nhắc Celia rằng ông nhà văn kia không nói dối. Nhưng rồi cô nói: “Tôi mới là người dối trá ở đây. Cô cứ quay mặt đi.”
“Nếu những đứa trẻ khác ở trường nhận ra chữ ký là giả mạo thì sao? Làm thế này liệu có hợp pháp không?”
“Còn nhiều tội ác tồi tệ hơn kia,” Như Ngọc nói. Rồi không để Celia kịp phản đối, Như Ngọc viết, cố gắng bắt chước nét chữ của nhà văn cho thật giống, thông điệp về niềm hy vọng và tình thương cho Jake và Lucas yêu mến. Sau khi ký tên và ghi ngày lên áo, Như Ngọc gấp chúng lại và nói sẽ thủ tiêu chứng cứ ban đầu để Celia không bị liên lụy.
Bên ngoài nhà có tiếng ô tô; tiếng một cánh cửa xe mở ra rồi đóng lại. Khách của Celia đang đến, và cô bắt đầu lộ vẻ hồi hộp, căng thẳng như diễn viên trước giờ lên sân khấu. Như Ngọc ra hiệu cho Celia cứ ra đón khách. Cô nhét hai chiếc áo phông không cần nữa vào túi, bước vào phòng hai cậu bé và đặt những chiếc áo cô vừa ký tên lên gối của từng đứa.
Chủ đề tối nay là một cuốn sách bán chạy gần đây do một người phụ nữ tự xưng là “Mẹ Hổ Trung Quốc” viết. Như thường lệ, buổi gặp mặt bắt đầu bằng những trao đổi xung quanh chuyện chồng con, những kỳ nghỉ của gia đình và những buổi biểu diễn vào các dịp nghỉ lễ sắp tới. Như Ngọc túi bụi đi ra đi vào phòng khách, lúc thì để rót thêm rượu mời khách, lúc lại bưng bê đồ ăn, vị trí của cô nửa như một người bạn của gia đình, nửa như một người giúp việc được trả công. Tuy niềm nở với khách, vốn nhiều người trong số đó đều đã từng thuê cô làm việc này việc kia, nhưng Như Ngọc tránh tham gia vào các cuộc trò chuyện, chỉ cười góp vui hoặc lịch sự phản đối. Vốn hiểu rõ những người phụ nữ này nghĩ gì về mình, Như Ngọc không thấy khó khăn gì khi đóng vai trò đó: một người nhập cư có giáo dục nhưng không có kĩ năng làm việc cao cấp; một phụ nữ độc thân không còn trẻ nữa; một người thuê nhà; một người giúp việc đủ tin cậy, biết quan tâm nhưng cũng biết cứng rắn với cả trẻ nhỏ lẫn lũ chó và không bao giờ lả lơi với các ông chồng; một người phụ nữ may mắn được sống dưới sự che chở của Celia; một con người tẻ nhạt.
Khi cuộc thảo luận về sách bắt đầu, Như Ngọc lui vào bếp. Thường thì trong những buổi tụ tập như thế này, cô sẽ không vắng mặt hẳn như thế, vì quả thực, cô cũng thích ngồi mé ngoài để nghe. Cô thích nghe giọng nói của họ mà không cần để tâm xem họ nói gì, ngắm những chiếc khăn màu nhã nhặn của họ; những chiếc vòng cổ họ đeo, vốn được thiết kế bởi một nghệ nhân trong vùng mà cả nhóm họ nhận bảo trợ; những đôi giày, hoặc thanh lịch, hoặc táo bạo hoặc xấu một cách hồn nhiên. Vị trí của cô, vai trò của cô - cả hai việc này đều phù hợp với cô. Người ta thường sẽ phải suy nghĩ nghiêm túc về bản thân hơn nhiều mới có thể trở thành một người chắc chắn - để có thể hành động như một người ngoài cuộc hoàn toàn; hoặc đòi quyền được trở thành một người bạn, một người yêu, một người có chút quan trọng nào đó. Sự thân mật và sự xa cách, cả hai đều đòi hỏi một nỗ lực nằm ngoài sự sẵn sàng của Như Ngọc.
Celia dừng lại ở cửa phòng bếp. “Cô không muốn ngồi với chúng tôi à?” Cô hỏi. Như Ngọc lắc đầu, và Celia vẫy tay rồi đi vào phòng tắm. Nếu Celia nài một lần nữa, Như Ngọc sẽ nói rằng cô không mấy mặn mà với những chủ đề về việc làm cha mẹ, lựa chọn trường cho con trẻ, và bà Mẹ Hổ - người thậm chí còn không phải là người Trung Quốc nhưng tự gọi mình thế vì muốn gây sự chú ý.
Như Ngọc ngắm nghía những bông hoa trên bàn, những đóa cúc và diên vĩ, những chiếc lá mùa thu cắm trong một quả bí ngô cắt một nửa, xung quanh là mấy quả hồng vàng được sắp đặt rất nghệ thuật. Cô chuyển một quả hồng đặt ra xa rồi băn khoăn tự hỏi liệu có ai để ý tới sự thay đổi này không, khi bố cục đã bị mất cân bằng. Cuộc sống của Celia, tuy luôn bận rộn và biến động với đủ thứ ràng buộc cùng những cuộc khủng hoảng, nhưng vẫn luôn là một triển lãm của sự hoàn hảo được thiết kế có chủ đích: những ô cửa sổ uốn mái vòm trổ trên cao trông ra vịnh mang lại cho phòng khách những gam màu ánh sáng liên tục thay đổi - ánh nắng vàng California vào những buổi chiều hè, sắc xám của những cơn mưa trong tiết đông, những màn sương mù giăng giăng vào hai buổi sáng chiều quanh năm; ba cây bạch dương màu bạc trước cửa nhà - Celia nói với Như Ngọc rằng bạch dương phải trồng theo cụm ba cây, nhưng vì lý do gì thì cô không biết - mang đến sự hoàn thiện cho mặt tiền ngôi nhà với lớp vỏ trắng tạo nét bất đối xứng cho thảm cỏ đơn điệu trước nhà; nét hiện đại bóng loáng của căn bếp trở nên mềm mại hơn nhờ sự trưng bày hoàn hảo các tác phẩm tĩnh vật - hoa quả, những chiếc lọ bằng đất, nến cắm trong những chân đế, màu sắc của tất cả đều hài hòa theo mùa và các dịp lễ; ở nhiều góc trong ngôi nhà, mà mỗi góc lại là một sân khấu riêng, đều trưng bày những thứ được thừa hưởng từ đời trước hoặc được sưu tập trong những chuyến đi. Gia đình Celia - vốn lúc nào cũng trong trạng thái đang di chuyển, nào là đi tập bóng đá, học nhạc, tham gia lớp học làm gốm, lớp tập yoga, những bữa tiệc quyên tiền từ thiện, những buổi đấu giá ở trường, những chuyến đi trượt tuyết, đi bộ đường dài, bơi trên biển, ra nước ngoài để được đắm mình vào bầu không khí văn hóa và ẩm thực ngoại quốc - hầu như không gây xáo trộn gì cho ngôi nhà, và Như Ngọc, có lẽ hơn bất kỳ ai khác, yêu ngôi nhà như người ta trân trọng một tác phẩm nghệ thuật đẹp: thích thú thì có đấy, nhưng không khao khát được sở hữu nó, hoặc giả nó có chợt đến rồi chợt đi qua trong đời thì cũng không có gì phải vấn vương.
Giọng nói của những người phụ nữ từ phòng khách vẳng lại, khi thì nhắc đến sự phẫn nộ, nỗi nghi hoặc, lúc lại bàn sang sự lo lắng và hoảng sợ. Suốt những năm qua, thông qua những buổi tụ họp như thế này và những dịp làm việc cho họ, Như Ngọc đã dần hiểu về từng người, đủ để khiến cô không khỏi cảm thấy tội nghiệp cho họ khi họ phải tập hợp lại thành một nhóm. Tất cả đều là những người thú vị, nhưng khi tập hợp, dường như họ lại phủ nhận sự tồn tại cá nhân của nhau vì ai cũng như ai. Không ai xuất hiện với dáng vẻ lôi thôi, không ai có đủ can đảm để thừa nhận với người khác rằng mình cô đơn, hay buồn bã, hay cảm thấy ngột ngạt trong cái vẻ ngoài hoàn hảo của một cuộc sống tốt đẹp. Hẳn là sự cô lập đã khiến họ phải đi tìm kiếm những người giống như mình, nhưng trong căn phòng khách này của Celia, khi ngồi lại cùng nhau, dường như họ càng thêm phần tự tin để tiếp tục sống cô lập.
Như Ngọc lần đầu gặp Celia cách đây bảy năm, khi Celia đang tìm kiếm một người thay cho cô giúp việc cũ khi đó đang chuẩn bị lên đường về Guatemala với một khoản tiền đủ để xây hai ngôi nhà - một cho bố mẹ cô, và một cho mẹ con cô. Dĩ nhiên là Celia buồn lắm khi Ana Luisa phải về nước, cô nói như vậy khi gọi điện sau khi Như Ngọc hồi âm lại tin tìm người giúp việc của Celia đăng trên một website làm cha mẹ của thành phố; nhưng mà có ai lại không thấy mừng cho cô ấy kia chứ? Trong số các ứng cử viên, Như Ngọc là một trường hợp cá biệt - cô không có kinh nghiệm chăm sóc trẻ, cô sống ở một nơi hơi xa xôi. Nhưng trước khi gọi Như Ngọc, Celia đã giải thích cho Edwin hiểu rằng một cô giúp việc nói tiếng Quan Thoại thì có lợi hơn là một cô giúp việc nói tiếng Tây Ban Nha.
Khi Celia mời tới nhà để phỏng vấn, Như Ngọc nói cô không có xe, mà quanh nơi cô ở cũng không có phương tiện giao thông công cộng, nên nếu quan tâm, liệu Celia có thể quá bộ tới phỏng vấn cô tại nhà không? Sau này, khi Như Ngọc đã có một vị trí an toàn trong cuộc sống của mình, Celia thường thích kể lại cho bạn bè nghe rằng ngày ấy Như Ngọc mới ngây thơ làm sao. Nếu không phải là Celia, thì liệu có ai khác chịu lái xe mất một tiếng rưỡi chỉ để gặp một người giúp việc tiềm năng chứ?
Vậy tại sao cô ấy lại đồng ý với lời đề nghị đó, Như Ngọc định hỏi Celia câu hỏi này mấy lần, nhưng câu trả lời không quan trọng, bởi điều quan trọng là Celia đã bỏ công tới gặp Như Ngọc - mà điều này thì Như Ngọc chưa hề nghi ngờ - nếu không phải là Celia thì kiểu gì cũng sẽ có người khác sẵn lòng làm như thế.
Khi Celia tới ngôi nhà nhỏ đơn sơ của Như Ngọc - ngôi nhà với mảnh vườn riêng, nhìn ra hẻm núi mà nếu đưa vào một mục rao bán bất động sản, nó sẽ được văn hoa gọi là “viên ngọc” - Celia không thể giấu nổi sự ngạc nhiên và cả nỗi thất vọng của mình. Cô nói mình không thể cung cấp cho Như Ngọc điều gì đó tương xứng, bởi cô chỉ có một phòng dành cho người giúp việc ở tầng trệt ngôi nhà của mình.
Thế cũng được, Như Ngọc nói, rồi cô giải thích rằng ông chủ mình sắp cưới trong vài tháng nữa, nên cô muốn chuyển đi trước lễ cưới, vì cô không còn lý do gì để ở lại làm quản gia cho ông nữa. Như Ngọc thấy Celia có vẻ khó hiểu trước mối quan hệ giữa ngôi nhà nhỏ này với tòa dinh thự ba tầng trên khu đất ấy mà chắc hẳn Celia đã nhìn thấy khi lái xe qua, và trước cả mối quan hệ giữa Như Ngọc với Eric, người mà Như Ngọc gọi là ông chủ.
Kỳ lạ, về sau Celia miêu tả lại về người phụ nữ Trung Quốc này cho Edwin; thậm chí là lập dị, nhưng dù gì cô ấy cũng dễ chịu, sạch sẽ, tiếng Anh tốt, và xứng đáng được giúp đỡ. Như Ngọc không nói chính xác về bản chất mối quan hệ của mình với ông chủ của cô, nhưng Celia đã đoán đúng rằng tình dục - với một bản thỏa thuận - là một phần trong công việc này. Ngoài chuyện này ra, Như Ngọc cởi mở chia sẻ hết với Celia về những khía cạnh khác trong cuộc sống của mình ở lần đầu gặp gỡ đó: cô lấy người chồng đầu năm mười chín tuổi, một người đàn ông Trung Quốc vừa được nhận vào một trường cao học ở Mỹ; cô lấy người này với mục đích được rời khỏi Trung Quốc. Cuộc hôn nhân thứ hai, với một người Mỹ, là để cô kiếm được một chiếc thẻ xanh thường trú - thực ra người chồng đầu rồi cũng sẽ giúp cô có được nó, nhưng cô không muốn kéo dài cuộc hôn nhân thêm năm hoặc sáu năm nữa theo quy định. Cô đã có bằng cử nhân kế toán của một trường trong bang và cũng từng có thời gian đi làm rồi nghỉ, nhưng cô chưa từng thực sự xây dựng sự nghiệp cho riêng mình, mà điều đó với cô cũng không sao, vì cô vốn không thích những con số hay tiền bạc. Ba năm trở lại đây, cô làm quản gia cho ông chủ của mình, và bây giờ cô đang có ý định đi tiếp - không, cô không muốn tái hôn nữa, Như Ngọc trả lời khi Celia vì tò mò đã hỏi liệu cô có định tìm chồng nữa không; Như Ngọc nói cô chỉ muốn tìm một việc làm để tự nuôi thân.
Một tuần sau đó, Celia gọi lại. Cô không mời Như Ngọc về làm người giúp việc mà nói rằng cô vừa tìm được một ngôi nhà nhỏ, đã được trang bị đầy đủ nội thất, sẽ không có người ở trong ba tháng mùa hè. Liệu Như Ngọc có muốn nhận ngôi nhà đó - dĩ nhiên là cô sẽ phải trả trước ba tháng tiền nhà - và làm việc bán thời gian cho Celia không? Celia nói cô muốn giúp Như Ngọc ổn định cuộc sống và hứa sẽ tìm cho cô một ngôi nhà khác khi hết hè, cũng như sẽ giới thiệu cô cho một vài gia đình nữa để họ thuê cô. Không chút do dự, Như Ngọc đồng ý.
Cửa ga-ra mở, âm thanh của nó khiến Như Ngọc liên tưởng đến tiếng sôi bụng khiếm nhã. Dù đã nhiều năm sống ở Mỹ, cô vẫn thích thú với cái thỏa ước thân mật mà âm thanh đó mang lại: một cánh cửa mở ra rồi đóng lại, nhưng qua cánh cửa đó, mọi sự đến đi đều không mang ý nghĩa vĩnh hằng đầy tai hại. Ngồi trong phòng bếp của Celia, lắng nghe tiếng chồng cô ta trở về, Như Ngọc tự cho phép mình, trong giây lát, mường tượng ra khả năng về một cuộc sống như vậy. Mà thực ra, đó cũng không phải là nhiệm vụ khó khăn gì, vì trên thế giới này ít nhất đã có hai người đàn ông mang lại cho cô điều đó - thế nhưng rốt cuộc, chính cô mới là người ra đi. Nếu duy trì một trong hai cuộc hôn nhân đó, cô cũng sẽ trở thành một trong những người phụ nữ trong phòng khách kia, và ý nghĩ này khiến cô thấy vui vui. “Vấn đề của em,” Eric nói khi cô thông báo với anh về kế hoạch rời đi sau khi đã chốt xong xuôi mọi thứ với Celia, “là em ít ham muốn quá. Tuy vậy, anh cho rằng điều đó cũng có nghĩa là với em mọi thứ sẽ luôn ổn thỏa.”
Eric đã khôn ngoan khi không cho cô quá nhiều - như hai người chồng cũ của cô - nhưng đúng là anh đã chiều chuộng cô, cho cô đầy đủ mọi không gian cô cần, và cũng làm rõ rằng dù ở khía cạnh nào cô không cần phải cảm thấy mình có ràng buộc gì với anh. Cũng có đôi khi Như Ngọc băn khoăn không biết có nên vì thế mà lẽ ra cô phải đối xử với anh tốt hơn hay không. Nhưng làm sao có thể đối xử tốt hơn với một người đàn ông đây - bằng cách trở nên phụ thuộc hơn vào anh ta, bằng cách đòi hỏi hơn nữa ở anh ta sao? Mà nghĩ đến chuyện đó bây giờ phỏng có ích gì nữa? Vài năm trước, Eric được giới truyền thông trong thành phố đưa tin có dính líu đến một vụ bê bối khi quyên tiền trong chiến dịch vận động tranh cử làm Ủy viên Hội đồng lập pháp ở bang - vậy là cái ham muốn của anh ta cũng chấm dứt tại đó.
Celia hẳn cũng đã nghe tiếng chồng trở về, cô rời buổi thảo luận và đi vào bếp bảo Như Ngọc mang cặp áo phông cho lũ trẻ xem, giọng cô có phần hơi cao, vì Như Ngọc biết cô lo lắng khi nói dối mọi người trong gia đình. Chính trong những khoảnh khắc này mà Như Ngọc cảm thấy mến Celia; dẫu Celia luôn đòi hỏi sự chú ý vào bản thân mình và luôn ganh đua từ những chuyện lặt vặt với bạn bè và hàng xóm, song suy cho cùng, cô vẫn là một phụ nữ tốt bụng với trái tim mềm yếu.
Một lát sau, khi lũ trẻ đã lên giường đi ngủ, Edwin bước vào phòng bếp. Trong phòng khách, những người phụ nữ vẫn đang tranh cãi nhau về cách dạy con biết cạnh tranh trong một thị trường toàn cầu. Cuộc thảo luận hôm nay sôi nổi quá nhỉ, anh bình luận, và cầm một ly rượu lên nhưng nhanh chóng đổi ý. Anh rót nước để uống.
Dĩ nhiên là nhờ Celia đã chọn đúng sách rồi, Như Ngọc nói rồi đi về phía bồn rửa bát, trước khi Edwin ngồi xuống bàn. “Tôi đi dọn dẹp đây,” cô nói. “Hôm nay Celia đã có một ngày dài mệt mỏi rồi.”
Edwin hỏi xem anh có thể giúp gì được không, nhưng Như Ngọc biết tỏng đó chỉ là một lời đề nghị quấy quá. Có lẽ giờ này anh chỉ muốn tất cả những người phụ nữ đang tranh cãi về tương lai nền giáo dục Mỹ kia rời khỏi nhà mình mà thôi. Cô không cần anh giúp gì cả, Như Ngọc nói. Edwin vẫn tiếp tục duy trì cuộc nói chuyện với đủ thứ trên trời dưới đất - trận thắng trong trò Chiến binh tối hôm đó, một bộ phim mới mà Celia định đi xem cuối tuần, kế hoạch tổ chức Lễ Tạ ơn ở Moorlands, một bài tường thuật kỳ cục trên báo viết về một người đàn ông đóng giả làm bác sĩ và kê đơn thuốc cho bệnh nhân duy nhất của mình, một bà cụ, một chế độ ăn dưa hấu trong bồn tắm nước ấm. Như Ngọc băn khoăn không biết có phải Edwin nói chuyện với mình vì lòng thương hại không; cô ước giá mà mình có thể nói cho anh biết rằng anh có thể đối xử với cô, vào lúc này hay bất kỳ lúc nào khác, như với một đồ đạc hay dụng cụ nào đó trong ngôi nhà được gìn giữ cẩn thận này của anh.
Edwin làm việc cho một công ty chuyên về sách điện tử và đồ chơi giáo dục trẻ nhỏ. Như Ngọc không rõ chính xác anh làm gì - công việc của anh liên quan tới việc sáng tạo ra những nhân vật thu hút đám trẻ đang tuổi chập chững tập đi - nhưng cô cứ tự hỏi liệu có phải sẽ tốt hơn cho Edwin không nếu như anh, một người đàn ông cao ráo và trầm tính được sinh ra và lớn lên ở một vùng quê ở Minnesota, trở thành một vị bác sĩ gia đình chu đáo hay một nhà toán học xuất sắc nhưng lập dị. Dành cả ngày làm việc để nghĩ về những con sâu bướm biết nói và những con gấu biết hát dường như bào mòn dần một con người như Edwin, nhưng biết đâu đấy lại là một lựa chọn sáng suốt, cũng như việc Celia là một lựa chọn hợp lý với anh vậy.
“Mọi chuyện với cô ổn cả chứ?” Edwin hỏi khi đã cạn chủ đề.
“Sao lại không chứ?” Như Ngọc trả lời. Cuộc sống của cô không có nhiều điều đáng để hỏi han, những chủ đề chung chung như con cái, công việc, những kỳ nghỉ gia đình thì dĩ nhiên là không phù hợp rồi.
Edwin chăm chú nhìn vào cốc nước. “Chắc cô thấy cuộc thảo luận của họ kỳ lạ lắm nhỉ,” anh nói, hất hàm về phía phòng khách.
“Kỳ lạ? Không hề,” Như Ngọc nói. “Thế giới này cần đến những người phụ nữ có nhiệt huyết. Tiếc là tôi lại không nằm trong số đó.”
“Nhưng cô có muốn trở thành người như thế không?”
“Hoặc anh là người như thế, hoặc là không,” Như Ngọc nói. “Không liên quan gì đến chuyện muốn hay không cả.”
“Họ có khiến cô cảm thấy tẻ nhạt không?”
Nếu được hỏi, cô hẳn sẽ nói mình không coi Edwin hay Celia hay bất kỳ người bạn nào của Celia là người tẻ nhạt cả, nhưng đó là bởi vì cô chưa từng thực sự dành thời gian để nghĩ về việc Edwin, hay Celia, hay bất kỳ ai khác, là gì. Lúc này, khuôn mặt của Edwin, vốn chưa một lần biểu lộ cảm xúc quá đà, dường như càng thêm khó hiểu. Như Ngọc hiếm khi cho phép những sự giao tiếp giữa cô với anh vượt quá giới hạn của những trao đổi xã giao lịch thiệp, vì ở Edwin có điều gì đó mà cô chưa thể nhìn ra ngay lập tức. Anh không nói nhiều để đến nỗi tự biến mình thành kẻ ngốc, nhưng những gì anh nói ra đều khiến người ta thắc mắc tại sao anh lại không nói nhiều hơn. Nếu anh không phải là chồng của ai cả, có lẽ cô sẽ để ý anh kĩ hơn, nhưng mọi sự xâm phạm vào những gì Celia đã khẳng định quyền sở hữu đều sẽ chỉ là một sự phức tạp vô nghĩa lý.
Sau một sự im lặng kéo dài, mà nếu là Celia thì hẳn cô đã sẵn sàng lấp đầy bằng vô số chủ đề, và Edwin dường như cũng đủ kiên nhẫn để chờ đợi, Như Ngọc đáp: “Chỉ có người tẻ nhạt mới thấy người khác tẻ nhạt.”
“Vậy là cô nghĩ họ thú vị?”
“Nhiều người trong số họ thuê tôi làm việc,” Như Ngọc nói. “Celia thì là bạn tôi.”
“Dĩ nhiên rồi,” Edwin nói. “Tôi quên mất điều đó.”
Anh quên mất điều gì - rằng những người phụ nữ trong căn phòng khách đó là hơn một nửa nguồn sinh kế của Như Ngọc, hay rằng vợ của anh là thiên thần đã khiến cho một điều kỳ diệu như thế xảy ra? Như Ngọc đặt những chiếc đĩa vào máy rửa bát. Cô vẫn thầm mong rằng Edwin sẽ thôi cảm thấy anh có nghĩa vụ phải bầu bạn với cô trong khi cô lại vào vai một vị chủ nhà nửa vời trong chính ngôi nhà của anh. Ở nhà, cô thường nấu ăn bằng bếp hâm rồi ăn đứng ngay ở quầy bếp, và cái chạn, do người thuê trước để lại, hầu như luôn luôn thoáng và khô ráo. Ở nhà Celia, Như Ngọc thích xếp bát đĩa và cốc chén sao cho, khác với con người, chúng không tìm cách va chạm và làm vỡ nhau. Khi cô tiếp tục im lặng, Edwin hỏi có phải anh vừa khiến cô mếch lòng không.
“Không đâu,” cô thở dài đáp.
“Nhưng cô có nghĩ chúng tôi không quan tâm đến cô không?”
“Ai kia? Anh và Celia sao?”
“Tất cả mọi người ở đây này,” Edwin nói.
“Thì con người ta vốn có được ai quan tâm đến đâu,” Như Ngọc nói. Mỗi người phụ nữ trong căn phòng khách kia đều có cả một danh sách dài những lời than phiền về việc không được ai quan tâm. “Tôi không phải tuýp người cần đến sự chú ý đặc biệt.”
“Nhưng chúng tôi than phiền.”
Như Ngọc quay lại nhìn Edwin. “Thì các vị cứ than phiền đi,” cô nói. “Nhưng đừng mong là tôi sẽ làm thế.”
Edwin đỏ mặt. Đừng cởi mở tâm hồn mình khi không có ai mời, cô sẽ nói thế nếu Edwin không phải là chồng của ai cả, nhưng thay vào đó, cô xin lỗi vì sự đốp chát của mình. “Đừng để bụng những gì tôi vừa nói,” cô nói. “Celia bảo hôm nay tôi không được bình thường.”
“Có chuyện gì à?”
“Một người tôi biết vừa qua đời,” Như Ngọc nói, trong lòng không khỏi cảm thấy mình thật tệ vì nếu đó là Celia, cô sẽ nhất định không chịu hé nửa lời, dẫu Celia có khăng khăng gấp mười lần Edwin đi chăng nữa.
Edwin tỏ ý chia buồn với cô. Như Ngọc biết anh muốn hỏi thêm nữa; Celia hẳn sẽ truy hỏi tới từng chi tiết, nhưng Edwin dường như còn phân vân, như thể anh sợ hãi chính sự tò mò của mình. “Không sao đâu,” Như Ngọc nói. “Ai rồi chẳng phải chết.”
“Chúng tôi có thể giúp gì không?”
“Không ai có thể giúp gì cả. Cô ấy đã chết rồi,” Như Ngọc nói.
“Ý tôi là chúng tôi có thể giúp gì cho cô kia?”
Người ta vẫn trao cho nhau những lời đề nghị tử tế hời hợt hằng ngày - những lời đề nghị vô thưởng vô phạt, nếu không muốn nói là vô nghĩa - vậy thì tại sao, Như Ngọc băn khoăn, cô lại không thể tin rằng Edwin là một người tử tế với một phản ứng tự động trước tin tức về cái chết của một người không liên quan gì đến anh? Cô nói mình chỉ biết người quá cố một thời gian ngắn và cố giấu sự sốt ruột của mình bằng một cái ngáp dài.
“Nhưng…” Edwin ngập ngừng, mắt nhìn vào cốc nước.
“Nhưng sao?”
“Trông cô vẫn buồn.”
Như Ngọc chợt cảm thấy một sự giận dữ đầy xa lạ. Edwin có quyền gì mà tìm ở cô nỗi buồn khổ mà anh muốn nó xuất hiện chứ? “Tôi không có quyền được cảm thấy buồn. Anh thấy đấy, tôi là một kẻ tẻ nhạt thực sự. Ngay cả khi có người chết, tôi vẫn không thể nói rằng mình buồn được,” Như Ngọc nói. Rồi cô đột ngột chuyển chủ đề, cô hỏi anh lũ trẻ có vui khi thấy chữ ký của nhà văn nọ trên áo không.
Edwin trông chừng thất vọng, anh nhún vai và nói chuyện đó có ý nghĩa với Celia hơn là với lũ trẻ. “Các bà mẹ mà, cô biết đấy.” Anh nói. “Mà này, cô có lớn lên với một bà mẹ hổ không?”
“Không.”
“Vậy cô nghĩ sao về những sự ồn ào này?”
Giá mà cô có thể, như tình thế yêu cầu, nói điều gì đó dí dỏm - nhưng việc đảo mắt rồi nói điều gì đó dí dỏm với cô thật xa lạ, hệt như sự khinh miệt của cậu bé Jake tám tuổi đối với gia đình một người bạn của cậu vì họ ăn loại cá hồi không đúng; hay sự lo lắng của Celia về những chiếc đèn Giáng sinh, sợ rằng chúng quá hoành tráng hay quá khiêm nhường. Sự tự do hành động và tự do đánh giá, vốn là những thứ tự hủy hoại lẫn nhau, cũng chẳng khác gì một kho lo lắng dồi dào cả. Phải chăng vì thế mà Như Ngọc băn khoăn, người Mỹ mới sẵn sàng tự làm cho mình nhỏ bé đi - bằng cách cười vào người khác, hoặc là - khéo léo hơn - tự cười chính mình - khi họ không phải chạy trốn mối nguy hiểm trước mắt nào? Nhưng sự nguy hiểm mang hình hài của sự nghèo đói, những viên đạn bay, những bang vô pháp vô thiên, và những người bạn không đáng tin cậy, nếu không mang lại một con đường dẫn đến hạnh phúc thì chí ít cũng rõ ràng mang lại nỗi khổ sở mà người ta phải chịu đựng.
Như Ngọc nghiêm nghị nhìn Edwin. “Tôi không nghĩ đó là một chủ đề đáng để bàn luận,” cô nói.