Tiết trời giữa hè ở Bắc Kinh, nơi cái nóng hầm hập cùng độ ẩm dư thừa thảng hoặc mới được một cơn giông bão làm dịu đi, mang đến cho con người ta cái ấn tượng rằng cuộc sống ngày hôm nay sẽ chẳng khác gì ngày mai hay ngày kia, và cứ thế mà kéo dài ra mãi: những vỏ dưa hấu chất đống bên vệ đường thối rữa dần, thu hút hàng đàn ruồi kéo đến; những vũng nước đục ngầu tuôn ra từ các miệng cống đã ngậm no nước trên các con hẻm đang rút dần, nhưng trước khi chúng kịp biến mất hẳn, một trận bão khác sẽ lại ào đến để lấp đầy chúng; những ông lão, bà lão ngồi cạnh những chiếc xe đẩy bằng tre đặt dưới bóng râm của các bức tường thành, phe phẩy quạt mát cho cháu bằng những chiếc quạt to đan bằng lá cói, và nếu nhắm mắt lại một lát rồi mở ra, người ta gần như có thể đoan chắc rằng những chiếc quạt kia, những đứa trẻ nằm trong xe kia, và những gương mặt nhăn nheo của những ông lão, bà lão kia, một trăm năm trước vẫn y hệt như thế, có chăng là những hình ảnh xưa kia được lưu lại trong một bức ảnh hiếm vô tình vùi mình đâu đó trong album du hành của một nhà truyền giáo ngoại quốc, kẻ rồi sẽ bị đem ra hành quyết vì tội truyền bá cái xấu xa tội lỗi trong một tỉnh nào đó lân cận.
Cuộc sống dẫu đã cũ kỹ, nhưng chưa già nua. Đây chính là Bắc Kinh với bầu không khí lờ đờ thiếu sức sống mà Mạc Lan yêu thích nhất, dù cô sợ rằng nó lại không mấy ý nghĩa đối với Như Ngọc, vì rằng có vẻ Như Ngọc dành cái nhìn ngờ vực cho cả thành phố này lẫn sự nhiệt tình của cô. Mạc Lan thử nhìn Bắc Kinh lần đầu bằng con mắt của một người mới đến, cô chợt hoảng hốt: có lẽ chẳng có gì gọi là nên thơ giữa tất cả những sự ồn ào huyên náo với đủ thứ mùi này, giữa cái nhếch nhác bẩn thỉu và quá đỗi đông đúc của thành phố này. Khi đặt những thứ mình yêu mến trước ánh mắt săm soi của người khác, chúng ta thường cảm thấy mình cũng bị ê chề dần đi cùng với đối tượng đang bị bẻ bai kia. Nếu là người từng trải hơn, nắm vững kĩ năng tự bảo vệ hơn, hẳn Mạc Lan đã dễ dàng che giấu tình yêu này bằng một thái độ mỉa mai châm biếm hay chí ít là lạnh lùng xa cách. Nhưng do cái vụng về của tuổi trẻ, cô chỉ có thể rào giậu che chắn cho mình bằng cái hy vọng vốn rồi sẽ biến thành nỗi tuyệt vọng.
“Dĩ nhiên, tất cả đều không đúng nghĩa là biển,” Mạc Lan nói vẻ tiếc rẻ rồi dựa xe đạp vào một cây liễu và tới ngồi bên cạnh Như Ngọc trên chiếc ghế băng. Họ ngồi trên bờ Tây Hải, một hồ nước nhân tạo; trước đó cô đã chỉ cho Như Ngọc hướng của các biển khác: Hắc Hải, Tiền Hải, và Bắc Hải, cả ba nơi Bá Dương và Mạc Lan đều đã đưa Như Ngọc tới thăm vào ngày hôm trước, vì đó là những địa điểm cốt yếu mà một du khách phải tới xem. Suốt cả tuần qua, họ đã đưa Như Ngọc đi tham quan các đình chùa và thành cổ, như thể dẫn một người họ hàng phương xa đi thăm thú thành phố.
“Thế thì tại sao người ta lại gọi chúng là biển?” Như Ngọc hỏi. Cô không quan tâm tới câu trả lời, nhưng cô biết, mỗi câu hỏi đều ban cho cô chút quyền năng đối với người mà mình đối thoại. Cô thích nhìn người khác cảm thấy họ có nghĩa vụ, và đôi khi ngớ ngẩn hơn, tỏ ra hào hứng trả lời cô: họ không biết rằng chính vào giây phút trả lời là họ đã đặt mình vào bục nhân chứng để những kẻ thẩm vấn họ phán xét.
“Có lẽ vì Bắc Kinh không gần biển chăng?” Mạc Lan phân vân.
Như Ngọc gật đầu, cảm thấy lòng đủ bao dung để không huỵch toẹt nói ra rằng những lời nói của Mạc Lan là vô nghĩa. Chỉ vài ngày sau khi đến, Như Ngọc đã biết rằng Mạc Lan được đặt vào trong cuộc sống mới của cô là vì sự thuận tiện mà một người như vậy có thể mang lại cho cô, tuy rằng điều đó cũng không ngăn cô đừng ước rằng giá mà có thể tránh xa được Mạc Lan, hoặc là Mạc Lan đừng tồn tại thì hơn.
“Cậu đi biển bao giờ chưa?” Mạc Lan hỏi.
“Chưa.”
“Tôi cũng vậy,” Mạc Lan nói. “Tôi rất muốn một ngày nào đó được tới biển. Bá Dương và gia đình cậu ấy hè nào cũng đi đấy.”
Đúng là Mạc Lan, Như Ngọc nghĩ thầm, không ai khảo cũng xưng. Loại hoa mà gia đình nào cũng trồng ở bậu cửa sổ - Mạc Lan giải thích khi bắt gặp Như Ngọc đang nhìn vào những khóm hoa vào buổi sáng sau hôm cô đến - là hoa phong lữ thảo, và người ta cho rằng loại hoa này có khả năng xua đuổi sâu bọ. Hai cây hoa mộc lan trồng ở giữa sân chung ít nhất cũng đã năm mươi năm tuổi, vốn được trồng làm “cây phu thê” để cầu may. Cuối hè, mọi người đều dè chừng lũ ong vì mấy cây nho mà thầy giáo Phán trồng ở cuối sân sẽ ra quả. Cây lựu trồng mé hàng rào lúc này đang trổ từng khóm hoa to, sắc đỏ rực như lửa, có quả không ăn được, nhưng cây lựu ở khu tập thể kế bên, tuy không nở hoa rộ bằng, lại ra trái ăn rất ngọt. Mạc Lan cũng đã kể ngọn ngành lai lịch từng hộ gia đình ở đây: thầy giáo Phán và vợ là bà giáo Lý, đều là giáo viên tiểu học, nhưng cả hai đã thống nhất với nhau từ đầu là họ sẽ không dạy cùng trường hay cùng quận, vì rằng còn gì nhàm chán hơn khi lúc nào cũng phải quanh quẩn nhìn mặt một người. Họ có ba người con, trong đó chỉ có đứa út là còn đi học, hai người kia đang làm việc ở nhà máy, nhưng cả ba đều sống cùng nhà với bố mẹ. Bác Thư thì góa vợ, con cái đã lập gia đình cả, bác sống cùng bà mẹ sắp tròn trăm tuổi vào mùa hè tới. Chú Vấn Dưa Hấu, một người lái xe buýt vui vẻ và ồn ào, sở dĩ được đặt biệt danh đó là vì cái bụng tròn vo; vợ chồng chú - mà vốn vợ chú cũng ồn ào và đẫy đà chẳng chịu kém cạnh chồng - làm người soát vé xe điện; hai vợ chồng có cặp con trai sinh đôi chưa đến tuổi đi học. Thi thoảng mẹ chúng cũng không phân biệt nổi đứa nào anh, đứa nào em, nên gọi cả hai là Dưa hấu nhỏ. Bố mẹ Mạc Lan thì cùng làm ở Bộ Khoáng sản, bố cô làm chuyên viên nghiên cứu còn mẹ làm văn thư.
Theo các bà dì của Như Ngọc, chỉ những kẻ ngu ngốc mới đi vung vẩy nhúm kiến thức mọn mà họ có được; đôi khi ngay cả các giáo viên cũng không được miễn trừ khỏi phạm trù này. Trước giờ Như Ngọc vẫn thấy thế giới là một nơi dễ đoán định, vì nó chỉ có những người, qua lời nói và hành động của họ, củng cố thêm cho niềm tin của các bà dì về nỗi nhỏ bé của mọi trí tuệ bất trường cửu.
Như Ngọc nhìn Mạc Lan đan mấy chiếc lá liễu thành một chiếc thuyền buồm rồi thả nó xuống nước. Thật là trò rỗi hơi ngớ ngẩn, cô có thể nghe thấy lời bình phẩm của các bà dì. “Sao cậu không đi biển với Bá Dương?” Cô hỏi.
“Tôi có phải người trong gia đình cậu ấy đâu,” Mạc Lan bật cười.
Như Ngọc chăm chú nhìn như có ý chờ Mạc Lan bảo vệ cho thứ logic thấp kém của mình bằng những từ ngữ hợp lý hơn, và Mạc Lan chợt nhận ra rằng có lẽ với Như Ngọc, gia đình mang một ý nghĩa khác. Trước khi cô đến, Mạc Lan và Bá Dương đã nói chuyện với nhau, nhưng cả hai đều không biết làm một đứa trẻ mồ côi thì như thế nào. Nhiều năm trước, khi vợ chồng thầy giáo Phán và Lý mua chiếc ti vi đen trắng đầu tiên trong khu tập thể, mọi người thường kéo đến nhà họ để xem mọi chương trình được phát. Một lần, ti vi chiếu bộ phim về nạn đói ở tỉnh Hà Nam, trong đó có cảnh một cô bé mất cả bố lẫn mẹ đi ra ngã tư đường, cắm một cọng cỏ dài lên tóc để ra dấu cho người qua đường rằng cô đang bán mình. Khi đó Mạc Lan lên sáu, bằng tuổi với cô bé trong bộ phim, đã ấn tượng với phong thái điềm tĩnh đầy cao quý của cô bé đến nỗi cô bật khóc. Những người lớn trong khu trầm trồ khen cô nhỏ tuổi mà biết cảm thông, không biết rằng Mạc Lan khóc vì xấu hổ khi thấy mình là người thấp kém: cô sẽ không bao giờ có thể xinh đẹp và mạnh mẽ như cô bé mồ côi kia được.
Mạc Lan thường nghĩ về bộ phim đó trước khi Như Ngọc đến. Cô băn khoăn tự hỏi không hiểu Như Ngọc có biết điều gì về bố mẹ mình hay không, có phải là cô bé sẵn sàng ngồi ở ngã tư đường, chờ người ta đến mua với một nụ cười khinh miệt trước số phận của kẻ mồ côi không. Dì chỉ cung cấp thông tin mơ hồ về hai bà dì của Như Ngọc và lai lịch của cô ấy, nên Mạc Lan khó mà hình dung ra cuộc sống của Như Ngọc như thế nào. Tuy nhiên, Bá Dương lại dễ dàng gạt phăng cái mớ lùng nhùng đó, đúng như dự đoán của Mạc Lan.
“Ý tôi là,” Mạc Lan giải thích, “gia đình cậu ấy có truyền thống đi biển vào mùa hè.”
“Tại sao gia đình cậu không đi?”
Nếu Bá Dương ở đây, Mạc Lan nghĩ bụng, hẳn cậu ấy sẽ tếu táo tự trào rằng gia đình mình là một gia đình nghỉ mát . Những gia đình nghỉ mát khác mà Mạc Lan biết đều không đi nghỉ mát bao giờ - người ta chỉ đi khi có việc, cưới xin, tang ma, hay các dịp cần kíp khác. Việc chuyển tới đâu đó sống trong một, hai tuần nghe thật khoa trương và chỉ những kẻ ngoại quốc nhàn rỗi trong những bộ phim nhập khẩu mới làm như thế. “Mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh,” Mạc Lan nói. Dẫu vậy, cô vẫn không khỏi có chút buồn lòng vì mình chưa từng một lần được đi khỏi Bắc Kinh. Thực ra, là một đứa trẻ thành phố, cô có thể đếm trên đầu ngón tay số lần được đi ra các quận ngoại ô - một chuyến dã ngoại mùa xuân bằng tàu hỏa tới Vạn Lý Trường Thành hồi cấp hai, vài chuyến đi chơi bằng xe đạp với Bá Dương, thường là đạp xe vài ba tiếng tới một ngôi chùa, thung lũng, hay đi picnic, rồi lại đạp xe về. “Cậu và các bà dì có đi nghỉ không?” Mạc Lan hỏi, nhưng lập tức nhận thấy cái lạnh lùng toát ra từ đôi mắt Như Ngọc. “Ôi, tôi xin lỗi vì tọc mạch quá.”
Như Ngọc gật đầu khoan dung nhưng không nói gì cả. Cô chưa từng nghi ngờ quyền hỏi người khác của mình, nhưng cho phép người khác được hỏi cô lại đồng nghĩa với việc trao cho họ một vị thế mà họ không xứng đáng: Như Ngọc biết cô chỉ trả lời các bà dì của mình, và trên họ, Chúa.
Đó là lần đầu tiên Mạc Lan ở một mình với Như Ngọc, tính tới lúc này cô đã mắc kha khá sai sót khiến Như Ngọc mất thiện cảm. Mạc Lan lại thầm ước giá mà có Bá Dương ở đây để lèo lái câu chuyện. Nhưng hôm đó là Chủ nhật, mà vào Chủ nhật thì Bá Dương thường tới thăm bố mẹ, cả hai đều là giảng viên tại một trường đại học ở phía tây thành phố, họ có một căn hộ xinh xinh gần trường. Con gái họ, tức chị gái Bá Dương, hơn cậu mười tuổi, từng là một thần đồng. Sau tổng cộng ba năm học gồm cả trung học và đại học, cô giành được học bổng sang Mỹ theo học một người đoạt giải Nobel và giờ đây, khi còn vài tháng nữa mới bước sang tuổi hai mươi sáu, cô đã được nhận vào biên chế chính thức của một trường trong cương vị giảng viên vật lý. “Đại học California ở Berkeley,” bố mẹ Bá Dương nói trong một chuyến thăm hiếm hoi tới khu tập thể để báo tin với hàng xóm, từng từ của họ đều như vết dao khứa vào lòng Mạc Lan. Cô biết rằng trong mắt họ, bố mẹ cô và những người khác chỉ là những con người có trí não hạ đẳng với những tham vọng vặt vãnh. Ngay cả Bá Dương, chàng trai thông minh nhất mà Mạc Lan biết, họ cũng coi là thứ yếu so với chị gái cậu. Đôi lần Mạc Lan băn khoăn không biết liệu bố mẹ cậu có muốn cậu sinh ra đời không nữa kia, bởi từ lúc sinh cậu đã ở với bà nội, vốn là một cư dân lâu năm trong khu tập thể; cậu không có cơ hội làm thân với chị gái trước khi chị sang Mỹ, cũng không gần gũi với bố mẹ khi mà cậu chỉ tới thăm họ vào Chủ nhật, ngồi ăn hai bữa với họ và thi thoảng giúp làm các công việc nhà cần đến sức vóc của một thanh niên.
Bốn cậu bé chưa đến mười tuổi đi ngang qua chỗ hai cô gái đang ngồi rồi nhảy tùm xuống nước, tất cả đều cởi trần, hai đứa bé nhất đeo săm xe làm phao. “Cậu có biết bơi không?” Mạc Lan mừng rỡ chộp lấy cơ hội chuyển đề tài.
“Không.”
“Có lẽ tôi có thể dạy cậu được đấy. Đây là chỗ bơi lý tưởng vào mùa đông. Tôi với Bá Dương không được phép bơi ở đây từ sau Thu phân. Nhưng chỉ vài năm nữa thôi là chúng ta có thể, mà tới lúc đó, chắc chắn cậu cũng bơi thạo lắm rồi. Khi đủ tuổi - tôi nghĩ là khoảng mười tám hoặc hai mươi gì đó - chúng ta có thể tới đây tham dự lễ hội bơi tổ chức vào ngày Đông chí.”
Những con én đuôi nhọn là là bay lướt trên mặt nước, ve rền rĩ kêu trong rặng liễu. Một người đàn ông đạp chiếc xe thồ trên con đường ven hồ, vừa đi vừa rao tên của các loại bia mà ông ủ trong thùng đựng đá, thi thoảng dừng lại khi thấy bàn tay cầm tiền giơ lên ra hiệu của một đứa trẻ từ trong con hẻm nào đó chạy ra, do người lớn sai đi mua một, hai chai bia về. Lúc này đang đỉnh điểm của mùa hè, nên tới tận cuối chiều như bây giờ cái nóng vẫn chưa dịu đi, ấy vậy mà Mạc Lan lại nói về mùa đông, và những mùa đông sắp tới, nhẹ như không, như thể người ta nói chuyện sắp sửa về nhà ăn tối vậy. Cái kỳ quặc hơn là ở sự tự tin của Mạc Lan - mà Như Ngọc cũng nhận thấy sự tự tin này ở cả Bá Dương nữa - khi nói về một tương lai trong đó Như Ngọc cũng dự phần vào. Việc cô xuất hiện ở đây - sống trong nhà Dì, đi học ở một trường cấp ba mà cả Bá Dương và Mạc Lan đều hết sức tự hào - là nhờ sự sắp xếp của hai bà dì, và trước khi cô lên đường họ đã nói rõ để cô hiểu rằng thực ra sự thay đổi này chính là kế hoạch mà Chúa dành cho cô, cũng như kế hoạch của Người khi đặt cô vào bàn tay chăm sóc của họ. Việc cô ngồi bên chiếc hồ này... Hẳn là Mạc Lan sẽ nghĩ rằng đó là do mình sắp xếp, vì cô là người đạp xe chở Như Ngọc ở đằng sau, cô cũng là người đã quyết định rằng thay vì đi xem phim hay tới một cửa hàng gần nhà mua kem, họ sẽ đi tới địa điểm yêu thích của cả cô và Bá Dương, một thứ biển không lớn hơn một cái ao nhỏ.
Như Ngọc, bằng cả nỗi bực mình lẫn sự hiếu kỳ, quay sang chăm chú nhìn Mạc Lan, lúc này đang chỉ tay về phía bóng một ngôi đền thấp đặt trên đỉnh đồi, sau lưng đình mặt trời đang bắt đầu lặn xuống. Trước đây vùng này từng có tới mười ngôi đình, và ba biển xung quanh từng được gọi là “Thập Đình Hải”, nhưng Bá Dương và Mạc Lan mới chỉ tìm được ba ngôi đền còn lại. “Ngôi đền đó là để thờ Hà bá,” Mạc Lan nói, và khi thấy Như Ngọc vẫn im lặng, cô quay sang và bắt gặp một cái nhìn chăm chú đầy tò mò của Như Ngọc. “Tôi xin lỗi, có phải tôi khiến cô thấy nhàm chán vì cứ lải nhải mãi không?”
Như Ngọc lắc đầu.
“Mẹ tôi thỉnh thoảng vẫn lo là tôi lắm lời quá nên có khi chẳng người đàn ông tử tế nào thèm lấy,” Mạc Lan bật cười nói.
Như Ngọc nhận ra rằng Mạc Lan hay cười thành tiếng hơn là cười mỉm, khiến khuôn mặt cô mang vẻ tồ tệch rất hợp với vai trò một người chị cả hay một bà dì lớn tuổi. “Tại sao cậu lại không có anh chị em?” Như Ngọc hỏi.
Họ là thế hệ cuối cùng sinh ra trước thời điểm bắt đầu chính sách một con, nên nhiều bạn cùng lớp của Mạc Lan, và có lẽ là các bạn cùng trường cũ của Như Ngọc nữa, có anh chị em. Có lẽ Như Ngọc hỏi chỉ vì cô ít khi thấy ai là con một. Mạc Lan khiêm tốn thừa nhận rằng cô không biết tại sao, nhưng nói thêm rằng trường hợp của cô không phải là hiếm gặp; chị Tiểu Ái cũng là con một đấy thôi.
“Cậu có muốn có anh chị em không?”
Có lẽ đây là những câu hỏi của đứa trẻ mồ côi trong Như Ngọc, vì rằng hiếm hoi lắm mới thấy cô nói nhiều như thế này - ở khu tập thể, lúc nào cô cũng lặng im. “Chúng mình đều thân thiết với nhau cả mà,” Mạc Lan nói. “Rồi cậu sẽ thấy, chúng mình có khác gì anh chị em trong khu tập thể đâu. Chẳng hạn nhé, Bá Dương và tôi đã lớn lên bên nhau như anh với em vậy.”
“Nhưng cậu ấy có chị gái mà.”
Nhưng chị ấy lớn tuổi hơn, gần như là thuộc về một thế hệ khác rồi, Mạc Lan cắt nghĩa.
“Tại sao cậu ấy không ở cùng bố mẹ?” Như Ngọc hỏi.
“Tôi không biết,” Mạc Lan nói. “Tôi đoán do họ bận công việc quá.”
“Nhưng chị cậu ấy vẫn ở cùng với họ cho đến khi chuyển sang Mỹ kia mà?”
“Trường hợp chị ấy thì khác,” Mạc Lan nói, chợt thấy bất an vì sợ sẽ nói điều gì không đúng về Bá Dương và gia đình cậu. Thực ra thì cô vốn đã cảm thấy rằng mình đang phản bội lại Bá Dương theo cách nào đó mà cô không cắt nghĩa được. Cậu ấy không thích nói về bố mẹ mình, mà bà cậu cũng hay nhắc về các cô chú của Bá Dương sống ở các thành phố khác nhiều hơn là nói về bố cậu, con trai cả của cụ. Mạc Lan cứ thắc mắc không rõ có phải gia đình họ che giấu một quá khứ bất hòa nào đó chăng nhưng cô sẽ không đời nào hỏi, vì đi tìm kiếm câu trả lời để thỏa mãn trí tò mò sẽ khiến cô không còn xứng đáng với tình bạn của Bá Dương nữa.
“Sao lại có thể thế được? Chẳng phải cậu ấy là con họ rứt ruột đẻ ra hay sao?”
“Dĩ nhiên cậu ấy là con ruột của họ,” Mạc Lan vừa phân trần vừa chột dạ, sợ rằng chỉ nội việc nói những sự thật hiển nhiên như vậy cũng là làm tổn hại đến người bạn thân của mình.
“ Dĩ nhiên là sao?”
Mạc Lan ngạc nhiên, đầu tiên là trước sự điềm tĩnh đến khó hiểu của Như Ngọc và sau đó là trước sự ngớ ngẩn của chính mình, cô rơi vào trạng thái hoang mang thực sự. Lớn lên trong khu tập thể đó giống như giữa một đại gia đình vậy, không gì khiến cô hạnh phúc hơn là toàn tâm toàn ý yêu thương mọi người. Cố nhiên, cô đã từng nghe nhiều chuyện về việc những người hàng xóm ở các khu tập thể khác xích mích với nhau và tìm đủ cách hãm hại nhau: từ nhổ cây mới trồng, bỏ thêm muối vào đĩa thức ăn của hàng xóm ở khu nấu bếp chung, lấy trộm một con gà con bị chết cóng trên bậu cửa trong mùa đông, cau có và to tiếng để dọa nạt đám trẻ nhỏ khi bố mẹ chúng khuất tầm mắt. Những câu chuyện này khiến Mạc Lan thấy khó hiểu, vì cô không hiểu liệu người ta có thể đạt được cái gì từ những sự nhỏ nhen như thế. Trong năm cuối cấp hai, một số bạn gái trong lớp Mạc Lan trở nên nhẫn tâm, chụp những cô bạn gái khác - những cô gái xinh xắn, những cô gái nhạy cảm, và những cô gái cô đơn - vào mẻ lưới tin đồn dày đặc và hẹp hòi. Nếu như có bất kỳ ác ý nào nhắm vào cô - và chắc hẳn là đôi khi cũng có chứ, dù rằng bên cạnh Mạc Lan có Bá Dương làm bạn bè chí cốt từ thuở nhỏ - cô cũng hiếm khi nghĩ rằng mình đang ở vào vị thế dễ bị tổn thương. Ngay cả trong một gia đình, người ta vẫn có thể đối xử tệ với nhau kia mà; các tờ báo buổi chiều chẳng vẫn đăng tải đầy rẫy bằng chứng về những vụ xích mích cùng những tội ác kinh hoàng trong gia đình đấy sao. Dẫu vậy, với Mạc Lan, thế giới này là một nơi tốt đẹp, cô tin rằng nó cũng sẽ là một nơi tốt đẹp cho Như Ngọc, vì giờ đây cô ấy đã là bạn của họ rồi. Tuy thế, việc Như Ngọc có thể dễ dàng đưa ra cái khả năng về sự lừa dối và bỏ rơi trong việc dưỡng dục Bá Dương cũng không khỏi khiến Mạc Lan thấy buồn buồn, như thể cô - trong trạng thái chưa chuẩn bị - vừa trượt cuộc sát hạch quan trọng để chiếm được sự tôn trọng của Như Ngọc vậy.
“Cậu phật ý à?” Như Ngọc hỏi.
Có lẽ một người như Như Ngọc tỏ ra hoài nghi mọi thứ cũng là một lẽ tự nhiên chăng? Lập tức Mạc Lan cảm thấy xấu hổ vì sự im lặng thiếu thiện ý của mình. “Không, không đâu. Chỉ là tôi chưa quen với cách cậu đặt câu hỏi thôi,” cô nói.
“Thế những người khác họ đặt câu hỏi như thế nào?”
Chí ít thì cuộc nói chuyện này cũng không diễn ra ở khu tập thể. Người nào nghe thấy họ nói chuyện với nhau hẳn đều nghĩ Như Ngọc quá ngây ngô so với tuổi, dù rằng có thể không ai chịu thừa nhận điều này, nhưng Mạc Lan biết rằng họ sẽ ngay lập tức liên hệ sự thiếu tế nhị này của Như Ngọc với lai lịch xuất thân của cô. Với sự kiên nhẫn như một người mẹ, Mạc Lan giảng giải cho Như Ngọc rằng thường thì người ta sẽ không hỏi những câu có thể khiến người khác lâm vào tình huống khó xử; thực ra, họ sẽ không mào đầu câu chuyện bằng cách đặt câu hỏi mà chờ cho người kia tự mở lời nói về mình trước.
“Nếu họ không chịu nói về mình thì sao?” Như Ngọc thắc mắc.
“Khi là bạn bè thì họ sẽ kể cho cậu mọi thứ. Lúc cậu ở bên bạn bè thì cậu cũng có thể thoải mái kể cho họ nghe về mình,” Mạc Lan nói. Cô thầm mong Như Ngọc có thể hiểu rằng cả cô và Bá Dương đều sẽ không gặng hỏi Như Ngọc về quá khứ của cô. Mà thực ra, Mạc Lan đinh ninh - thậm chí từ trước cả khi Như Ngọc đến - rằng dù quá khứ của Như Ngọc ra sao, một khi cô đã tới sống cùng họ, cô sẽ không còn là một đứa trẻ mồ côi nữa.
Như Ngọc chăm chú nhìn một con bọ di chuyển trên mặt nước, những đôi chân mảnh khảnh của nó hầu như không để lại dấu vết gì có thể nhận biết được. Trong phút chốc, cô thấy con bọ này thật thú vị, nhưng khi quay mặt sang hướng khác, cô lại quên khuấy nó. “Tại sao chị Tiểu Ái lúc nào cũng bực dọc vậy?” Cô hỏi. “Chị ấy không thích tôi đến đây, đúng không?”
Mạc Lan nhăn nhó. “Không, chị ấy không phải vậy đâu. Chị ấy chỉ buồn lúc này thôi.”
Như Ngọc quay lại nhìn làn nước, nhưng con bọ đã đi rồi. Cô không biết tên con bọ đó; thực ra, cô chưa bao giờ dành thời gian để nhìn vào bất kỳ con bọ, con chim, hay cái cây nào cả. Các bà dì sống khép kín trong nhà và chỉ rời căn hộ khi cần thiết; ngôi nhà của họ, vốn lúc nào cũng được giữ gìn sạch sẽ gọn gàng, không can dự vào bất kỳ dịp lễ tết nào với những màn trang hoàng dù nhỏ nhặt, hay không biết đến các mùa với các loại cây trồng trên bậu cửa sổ; những tấm rèm nặng nề lúc nào cũng rủ xuống, đã giữ thời tiết ở bên ngoài.
Không thấy Như Ngọc hỏi thêm, Mạc Lan lại thấy đau khổ. Cô ước giá mình có thể giải thích cho Như Ngọc rõ hơn về hoàn cảnh của Tiểu Ái: chẳng là Tiểu Ái đã tham gia vào cuộc biểu tình đòi dân chủ vào đầu mùa hè năm đó và bây giờ đang chờ phán quyết, điều mà cô sẽ biết ngay khi khai giảng năm học mới. Cô không phải là lãnh đạo trong cuộc biểu tình đó, nhưng dẫu sao cô cũng sẽ phải chịu những biện pháp kỷ luật của trường đại học; không ai biết liệu đó sẽ chỉ là một sự kỷ luật chung chung hay một lời “cảnh báo chính trị” nghiêm trọng, một quyết định đình chỉ học, hay tệ hơn, đuổi học. Khi nói về Tiểu Ái, bố mẹ Mạc Lan sợ rằng thái độ tùy tiện với tương lai của cô sẽ không giúp ích gì cho cô; họ không nói nhiều, nhưng Mạc Lan biết rằng họ, và cả những người hàng xóm khác nữa, đều mong rằng Tiểu Ái sẽ công khai rút lại lời tuyên bố mà cô đã dán lên bảng tin của nhà trường vào sau ngày diễn ra cuộc thảm sát, gọi chính phủ là một doanh trại quân phát xít. Nhưng bố mẹ Mạc Lan đã cảnh báo trước với cô rằng không được bàn về những việc này ra bên ngoài.
Mạc Lan bất giác quay người lại, nhưng ngoài mấy người đang đi bộ ở vỉa hè phía xa xa, cô không thấy ai khả nghi lảng vảng lại gần để nghe trộm họ cả. “Tôi biết thi thoảng chị Tiểu Ái cũng có vẻ không mấy thân thiện,” cô nói. “Nhưng tin tôi đi, chị ấy là người tốt.”
Như Ngọc nghĩ bụng, mọi người lúc nào cũng đòi cô phải tin tưởng họ, như thể họ chưa từng nghĩ rằng khi nài nỉ vậy là đã chứng minh họ không đáng tin thế nào rồi. Các bà dì chưa bao giờ yêu cầu cô phải tin tưởng họ, và vì không quen với khái niệm này, cô đã có lần bị lừa gạt: một cô bé ở lớp một thường nài cô đưa về căn hộ của mình; Như Ngọc nói rằng các bà dì cô không thích khách khứa, nhưng cô bé vẫn xin cô hãy tin tưởng nó và hứa sẽ không kể cho ai nghe về chuyến viếng thăm đó. Sau một lúc lưỡng lự, Như Ngọc đồng ý. Ấy thế mà ngay ngày hôm sau khi cô bé kia tới nhà, mọi người trong lớp dường như đều biết cả về nhà cô, vài thầy cô giáo còn tới tận nơi hỏi cô về những cuốn sách của các bà dì. Nhưng bị một kẻ không xứng đáng phản bội cũng còn đỡ bẽ mặt hơn so với chuyện đã khiến các bà dì phải phiền lòng. Họ đã đợi vài ngày trôi qua rồi mới nói, và họ cố ý tỏ ra đó chỉ là một nhận xét vô tình, rằng họ không quan tâm đến người bạn mà Như Ngọc đã đưa về nhà. Sau lần đó, Như Ngọc không bao giờ cho phép mình kết bạn với ai nữa.
“Sao cậu có thể nói chắc rằng chị Tiểu Ái là người tốt?” Như Ngọc hỏi.
Mạc Lan nhìn mấy cậu bé nghịch nước dưới hồ. Cô dằn vặt vì không thể khiến Như Ngọc nhìn thấy con người thật của Tiểu Ái: khi Mạc Lan và Bá Dương bằng tuổi các cậu bé kia, Tiểu Ái là người thường đưa họ tới cái hồ này, thả họ xuống nước cho họ vầy, cười khoái trá khi thấy họ bị ngậm nước, nhưng không lúc nào cô để họ vượt quá tầm với của mình. Nhưng dẫu Tiểu Ái không phải là một người biết quan tâm chu đáo đi chăng nữa, cả Mạc Lan và Bá Dương đều biết rằng cô là một người bạn đáng tin cậy. “Cậu có biết câu nói này không, thức lâu mới biết đêm dài, ở lâu mới biết lòng người dở hay? ” Mạc Lan nói. “Tôi nghĩ dần dần cậu sẽ hiểu chị Tiểu Ái hơn.”
Như Ngọc cười, nụ cười mỏng manh như thể muốn nói: Tại sao tôi lại muốn hiểu Tiểu Ái hơn kia chứ? Mạc Lan đỏ bừng mặt: sự bác bỏ không lời này, không phải bác bỏ cô mà bác bỏ người mà cô kính trọng và ngưỡng mộ, khiến cô trở nên thiếu tự tin hơn bao giờ hết trước Như Ngọc.
“Khi nào chúng ta quay về đây?” Như Ngọc hỏi, chỉ tay ra phía mặt trời đang lặn.
Mạc Lan bất mãn với chính mình. Cô biết Như Ngọc không tin tưởng mình. Tại sao cô ấy phải tin chứ? Mạc Lan miên man nghĩ ngợi trên đường đạp xe về, cô đã quen với sức nặng của Như Ngọc ở yên sau đến độ có lúc cô đã quên rằng mình có thói quen vừa chở Như Ngọc vừa ríu rít kể chuyện. Mạc Lan không thích những cuộc trò chuyện dang dở; với cô, cuộc sống là một chuỗi những khoảnh khắc lý tưởng, tất cả đều dễ hiểu, đôi khi có khó khăn đây đó nhưng lúc nào cũng tràn đầy niềm vui. Cô không thích thấy mình phải rơi vào tình cảnh mờ mịt, khi cô không thể giải thích cho người khác hiểu, thế nhưng cô vẫn giữ lòng trung thành với Tiểu Ái, mà những rắc rối của Tiểu Ái thì cô đã được cảnh báo là phải kín miệng. Nếu cô dừng xe và giải thích rõ hơn về sự nóng nảy của Tiểu Ái, liệu Như Ngọc có hiểu được hay không?