Chốn Cô Độc Của Linh Hồn

Lượt đọc: 380 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 5

Khi chuông điện thoại reo vào buổi sáng sớm ngày thứ Bảy, Mạc Lan sợ không dám nhấc máy, lặng yên nghe ngóng khi máy trả lời tự động bật lên. Nhưng người gọi không để lại tin nhắn thoại, và một phút sau, chuông điện thoại lại kêu lần nữa. Còn chưa tới sáu giờ, có lẽ có chuyện không hay rồi. Mạc Lan nhấc điện thoại lên và nghe thấy tiếng của cả bố lẫn mẹ ở đầu dây bên kia, thoạt đầu, cô không thể tập trung nổi khi nghe mẹ kể đủ thứ chuyện vặt vãnh. Khi những câu chuyện không đầu không cuối của mẹ cô có vẻ đã hết, bố cô mới lên tiếng hỏi: “Con sao rồi? Có khỏe không?”

“Con ổn ạ.”

“Giọng con nghe khàn khàn,” mẹ cô nói xen vào. “Con bị cảm lạnh hay sao?”

“Con bị khô cổ thôi,” Mạc Lan nói. “Con vẫn đang ngủ mà.”

“Nghe này con,” bố cô nói, và Mạc Lan bấc giác giật mình hoảng sợ, vì ông vốn là người thích nghe người khác nói hơn là nói để người khác nghe. “Bố mẹ xin lỗi vì gọi cho con sớm thế này. Nhưng bố mẹ vừa được tin là Tiểu Ái đã qua đời mười ngày trước.”

Mạc Lan bảo bố mẹ chờ một lát rồi ra đóng cánh cửa phòng ngủ lại. Cô sống một mình trong một căn hộ thuê, và cô đã quen - mà cô đoán chắc rằng căn nhà này cũng đã quen - với một cuộc sống có đầy đủ mọi thứ âm thanh thường nhật, ngoại trừ tiếng người. Đằng sau cánh cửa đóng, ngoại trừ một vài món đồ nội thất vô hồn của IKEA, là một không gian gọn gàng với một bộ sưu tập những thứ nho nhỏ bầu bạn với cô: một lọ hoa bằng bạc nhưng cô thường quên cắm hoa; một cặp kệ giữ sách bằng kim loại có hình dáng một cụ già đội chiếc mũ cao và mặc áo khoác đi mưa, đang còng lưng chống gậy; một chồng giấy làm thủ công dày và có tông màu nâu đỏ, quá đẹp đến không nỡ viết; một bản vẽ lại một bức tranh của Modigliani - bức chân dung của một phu nhân nào đó tên là Zborowska với đôi mắt, dưới cặp mí trĩu xuống vì buồn ngủ, trông gần như mù, tối tăm và không có đồng tử. Tất cả những đồ vật này không mang ý nghĩa đặc biệt nào trong cuộc đời Mạc Lan cả; cô lấy chúng ở chỗ này chỗ nọ trong khi đi du lịch, và đã tự cho phép mình gắn bó với chúng vì đó chỉ là vật kỷ niệm của những nơi không thuộc về cô, mà cô cũng sẽ không bao giờ quay lại. Bằng cách nhẹ nhàng đóng cửa phòng, cô đã bảo vệ cho những thứ mình yêu thích khỏi sự xâm phạm của một cuộc gọi vào lúc sáng sớm. Và sau này, cô cũng sẽ không lần nào phải nghĩ ngợi rằng chúng là những nhân chứng đầy day dứt và ám ảnh của một cái chết từ một quá khứ xa xăm.

“Bố mẹ cứ nghĩ con phải biết tin ngay,” bố cô nói.

Cô muốn nói với họ rằng đó không phải là cái chết không được báo trước; cô muốn trấn an họ rằng đó thực ra là một sự giải thoát cho tất cả, nhưng những lời này có lẽ đã nhàm tai quá rồi, vì hẳn bố mẹ cô cùng những người hàng xóm cũ đã nói với nhau như thế. Họ gọi để nghe được điều gì khác, mà Mạc Lan lại chỉ có sự im lặng.

“Bố mẹ định đến viếng,” mẹ cô nói. “Nhưng bố mẹ có thể nói gì với mẹ Tiểu Ái đây? Con muốn nói gì với bác ấy?”

Mạc Lan giật mình. Bố cô hiếm khi trực tiếp chất vấn con, nhưng mẹ cô thì khác, bà có thể chuyển từ một câu chuyện đơn giản thành một câu hỏi yêu cầu câu trả lời. “Con nghĩ, mọi người tốt hơn là không nên đến,” Mạc Lan nói, thận trọng từng từ để không gợi thêm câu hỏi nào nữa.

“Nhưng như thế thì chúng ta nhẫn tâm quá. Cứ hình dung tới cảnh bác ấy mà xem.”

Con gái sống xa nhà vốn đã là việc rất đỗi khó khăn với mẹ cô rồi, vậy mà giờ đây bà lại còn muốn chịu thêm nỗi đau mất con của một bà mẹ khác, người con vốn sống chẳng bằng chết suốt hai mươi mốt năm qua hay sao? “Mẹ đừng hình dung nữa,” Mạc Lan nói.

“Làm sao mà không nghĩ đến những chuyện này được kia chứ? Mẹ biết mình may mắn hơn mẹ Tiểu Ái, nhưng sẽ ra sao nếu như con không dính líu vào chuyện này ngay từ đầu? Thì có phải bây giờ con vẫn đang sống ở Bắc Kinh, và ít ra thì gia đình chúng ta sẽ được ở cùng nhau. Mẹ biết con nghĩ mẹ ích kỷ, nhưng con có hiểu ý mẹ không?”

“Không, con không nghĩ là mẹ ích kỷ đâu.”

“Mẹ mong là con hiểu rằng làm mẹ thì phải ích kỷ.”

Đường dây điện thoại khẽ kêu sột soạt, có thể dễ dàng đoán ra ngay những giọt nước mắt của mẹ và sự im lặng của bố. Cô biết, họ đang ở hai phòng khác nhau, mỗi người cầm một ống nghe, vì rằng họ sẽ thấy thoải mái hơn khi không nhìn vào mắt nhau lúc nói chuyện với con gái.“Con nghĩ chúng ta không nên nói chuyện này bây giờ,” Mạc Lan nói. “Mẹ thấy đấy, nó làm mẹ phải buồn lòng rồi kìa.”

“Làm sao mà mẹ không buồn được chứ? Chẳng gì thì mẹ Tiểu Ái cũng biết ai là người đã giết con mình, còn bố mẹ thì đến giờ vẫn không hiểu cái gì đã cướp con gái của mình đi.”

“Không ai biết chuyện gì đã xảy ra với Tiểu Ái cả,” Mạc Lan nói.

“Là Như Ngọc. Chỉ có thể là nó thôi. Mẹ nói sai à?”

Có lẽ bố mẹ cô vẫn thường thắc mắc với nhau chuyện này, chỉ có điều họ chưa một lần lên tiếng hỏi Mạc Lan. Vậy thì tại sao giờ họ lại hỏi chứ, khi mà không nên khuấy động sự im lặng, vốn đã yên ổn ở vị trí của nó rồi; ngay cả cái chết cũng không đủ làm can cớ để xáo trộn quá khứ. “Không ai biết đã xảy ra chuyện gì đâu mẹ,” Mạc Lan nói lại một lần nữa.

“Nhưng con biết kia mà. Con che giấu cho nó, phải không?”

Bố Mạc Lan khẽ đằng hắng để lấy giọng. “Mạc Lan, mẹ con hỏi không phải vì bố mẹ muốn đổ lỗi cho con đâu,” ông nói. “Không ai có thể quay về quá khứ để thay đổi mọi chuyện. Nhưng bố mẹ, con thấy đấy, bố mẹ làm sao có thể sống yên khi không hiểu chuyện gì đã xảy ra.”

Mạc Lan nghĩ thầm, người ta bắt đầu tìm hiểu, bất cứ điều gì, từ đâu nhỉ? Cái mong muốn sự rõ ràng rành mạch, cái mong muốn không phải sống trong cảnh tù mù - những mong muốn đó đâu có bao xa so với cái mong muốn được lừa dối: người ta phải sống như một đầu bếp làm sushi, cắt cắt, gọt gọt, thái thái, cho đến khi cuộc đời của họ - hay ký ức của họ về cuộc đời đó - chuyển thành những miếng ăn vừa mắt. “Chúng ta thôi nói tới chuyện này được không ạ?” Cô nói. “Bố mẹ nghĩ sao về việc đi Scandinavia vào dịp hè sắp tới? Nghe nói tháng Sáu ở đó đẹp lắm.”

“Bố mẹ chán trò làm khách du lịch rồi,” mẹ cô nói. “Bây giờ bố mẹ già cả. Tiểu Ái thì chết rồi. Cũng sẽ đến ngày bố mẹ ra đi thôi. Vẫn chưa đến lúc để con về thăm chúng ta sao?”

Không muốn tạo cho bố mẹ sự hy vọng nào, dù là nhỏ nhất, Mạc Lan đáp cô chưa có tâm trạng để nói về chuyện đó. Cô hứa một tuần nữa sẽ gọi lại, vì biết rằng tới khi đó, có lẽ bố cô đã thuyết phục được mẹ hiểu vấn đề và không ép cô nữa. Mạc Lan kết thúc cuộc nói chuyện trước khi bố mẹ cô kịp phản đối. Họ yêu cô nhiều hơn cô yêu họ; vì thế, khi tranh luận với họ lúc nào cô cũng là người chiến thắng.

Mạc Lan là con một của họ, nhưng cô chưa một lần quay lại Bắc Kinh kể từ khi lên đường sang Mỹ mười sáu năm về trước. Trong sáu năm đầu học tiến sĩ chuyên ngành hóa học, cô không về thăm bố mẹ một lần, viện cớ rằng còn mải làm visa và thiếu tiền đi lại. Cũng trong khoảng thời gian đó, một cuộc hôn nhân, vốn đã khiến bố mẹ cô phiền lòng và xấu hổ rất nhiều, đã diễn ra rồi chóng vánh kết thúc; dẫu sao, họ chưa từng biết đến cuộc sống hôn nhân của cô, nên với họ, chuyện đó sẽ bớt màu sắc thực tế; chí ít thì đó là hy vọng của Mạc Lan. Cô ngờ rằng cho tới bây giờ họ cũng chưa kể với ai ở Bắc Kinh về cuộc hôn nhân thất bại đó của cô, và có lẽ họ cũng nhẹ nhõm phần nào vì chưa từng gặp mặt Josef, người lớn hơn mẹ cô một tuổi.

Sau khi ly hôn, Mạc Lan rời thị trấn miền Trung Tây nơi cô và Josef chung sống, và khi đã đủ điều kiện, cô bắt đầu gửi tiền về để bố mẹ có thể đi du lịch và gặp cô ở đâu đó khác - một chuyến xe buýt thăm thú khắp miền Trung và Tây châu Âu, cô nhẫn nại đi cùng họ, chụp ảnh họ đứng trước những mái cổng vòm đồ sộ và những di tích cổ xưa, nhưng luôn khéo léo để bản thân cô không xuất hiện trong bất kỳ tấm ảnh nào; hai tuần ở vịnh Cape Cod, họ trở thành một gia đình kỳ quặc xuất hiện trên bãi biển và trong các cửa hàng bán kem - vì rằng cô đã quá tuổi để làm một đứa trẻ lẵng nhẵng đi nghỉ cùng bố mẹ, còn bố mẹ cô, vốn không có gì để bám víu vào một thành phố xa lạ, giết thời gian bằng cách trò chuyện với những người bằng tuổi họ đang đẩy xe đưa cháu ra ngoài chơi hay cùng lũ cháu xây các tòa lâu đài cát. Ở đó và nhiều nơi khác, bố mẹ Mạc Lan đều vồn vã khi thấy những người đã làm ông bà; vốn tiếng Anh của họ chỉ vừa đủ để họ có thể bày tỏ sự ngưỡng mộ trước sự may mắn của người khác.

Mạc Lan yên lòng khi tin rằng, đổi lấy thứ mà cô đã lấy đi khỏi bố mẹ mình, cô đã đền đáp lại cho họ bằng những thứ khác: Thái Lan, Hawaii, Las Vegas, Sydney, Quần đảo Maldives, những địa danh nước ngoài lấp đầy hàng tập album ảnh của họ với những vẻ đẹp kỳ thú, cả tự nhiên và nhân tạo. Sau nhiều năm, bố mẹ cô đã đi đến chỗ chấp nhận rằng họ sẽ không bao giờ được mời dự khán cuộc sống thường nhật của con gái ở Mỹ, song họ vẫn giữ lại niềm hy vọng rằng một ngày nào đó, cô sẽ quay lại Bắc Kinh, dù chỉ trong một chuyến thăm chớp nhoáng. Nhưng hễ nghe nhắc đến quê nhà là Mạc Lan lại làm lơ. Nơi chốn có bao giờ chết đi hay biến mất, nhưng người ta vẫn có thể xóa bỏ sự tồn tại của chúng, như cách người ta có thể xóa bỏ một người yêu khỏi một cuộc tình thất bại. Với Mạc Lan, đây không phải là một hành động cần đến sự cương quyết: để nơi chốn đó, con người đó lùi ra xa, người ta chỉ cần sống một cách nhất quán, là chính mình ngày này sang ngày khác.

Một lúc lâu sau cuộc điện thoại, Mạc Lan mới mở email của Bá Dương. Nội dung thư ngắn gọn, thông báo nguyên nhân tử vong và ngày hỏa táng, diễn ra vào sáu ngày trước đó. Lượng thông tin chi tiết ít ỏi như muốn ngầm buộc tội - nhưng cô có quyền gì mà trông chờ hơn được chứ, khi mà chính bản thân cô chưa một lần phá vỡ cái lạnh lùng của sự im lặng? Mỗi năm một lần, Mạc Lan gửi hai nghìn đô la vào tài khoản của Bá Dương phần đóng góp của cô để chăm sóc Tiểu Ái, nhưng cô không phản hồi những email mà Bá Dương gửi hàng tháng. Những thông tin chính về cuộc sống của anh - sự nghiệp kinh doanh thành công trên nhiều lĩnh vực, những tin tức cập nhật về nhà cửa, cuộc hôn nhân không thành công - cô biết được thông qua bó mẹ, dù rằng thái độ im lặng của cô trước bất kỳ tin tức nào liên quan đến anh hẳn đã khiến bố mẹ đinh ninh rằng cô không mấy quan tâm. Họ không nhắc gì đến anh trong cuộc gọi thông báo về cái chết của Tiểu Ái.

Điện thoại đổ chuông lần nữa. Mạc Lan lưỡng lự rồi nhấc điện thoại lên. “Mẹ còn một chuyện muốn nói nữa thôi,” mẹ cô nói. “Mẹ biết cuộc sống của con khó khăn hơn bố mẹ. Chẳng gì thì bố mẹ cũng có nhau. Mẹ biết con không muốn bố mẹ can thiệp vào cuộc sống của con, nhưng con không nghĩ rằng đã đến lúc phải nghĩ đến chuyện hôn nhân lần nữa sao? Đừng hiểu nhầm ý mẹ. Mẹ không ép con đâu. Mẹ chỉ muốn nói - dù mẹ chắc chắn rằng con sẽ nghĩ những lời mẹ nói là sáo rỗng - nhưng có lẽ con nên dừng việc sống mãi trong quá khứ đi, được chứ? Dĩ nhiên, bố mẹ tôn trọng mọi quyết định của con, nhưng bố mẹ sẽ yên lòng hơn nếu con tìm được người bạn đời mới.”

Thật kỳ quặc là bố mẹ cô, bất chấp mọi bằng chứng, lại cho rằng cô đang sống trong quá khứ, nhưng cô không tranh cãi mà chỉ lẳng lặng hứa sẽ suy nghĩ điều họ nói. Cô thắc mắc không hiểu quá khứ nào - và những người nào liên quan đến cái quá khứ ấy - mà bố mẹ cô cho rằng là kẻ thù ngăn cản hạnh phúc của cô: cuộc đời cô ở Bắc Kinh hay cuộc hôn nhân với Josef? Tới lúc này, lẽ ra bố mẹ phải biết rằng vấn đề của cô không phải là sống trong quá khứ mà là không cho phép quá khứ được tiếp tục sống. Mọi khoảnh khắc vuột khỏi hiện tại đều trở thành khoảnh khắc chết; và mọi người không ai ngờ rằng họ, hết lần này tới lần khác, trở thành nạn nhân của sự khăng khăng loại bỏ quá khứ của cô.

Mạc Lan sống cuộc sống đơn độc và mãn nguyện nhất mà cô tin là khả thi với mình. Cô làm việc cho một hãng dược phẩm ở Massachusetts, họ dành riêng cho cô một phòng thí nghiệm nhỏ, nơi cô quản lý một thiết bị đo lường độ nhớt của các sản phẩm y tế và vệ sinh để kiểm soát chất lượng. Tuy có nền tảng nghiên cứu rộng trong ngành hóa học, song công việc của cô lại không đòi hỏi đến nhiều kĩ năng vượt quá khuôn khổ khả năng chịu đựng sự nhàm chán. Nhưng nó lại mang đến cho cô thứ mà cô cần: một nguồn sinh kế ổn định, và một lý do để ở lại Mỹ. Cô còn có thể yêu cầu gì khác nữa đây? Cô không có con cái, những mối bận tâm của cô, khi đọc tin tức về biến đổi khí hậu hay chất gây ung thư carcinogen tìm thấy trong đồ ăn hay nước uống, lại không có gì cụ thể, vì cô không thấy mình đủ tư cách để lo lắng về tương lai nhân loại. Cô không có bạn bè thân thiết, nhưng vẫn sống hòa đồng ở mức vừa phải với hàng xóm và đồng nghiệp để không bị coi là một bà cô lập dị. Cuộc sống của cô, dẫu thiếu vắng những cảm xúc tột cùng như niềm hạnh phúc lớn lao và những nỗi đau đớn nhói lòng, nhưng cô tin rằng thay vào đó, cô đã tìm được cái phúc lành của sự tĩnh tại. Cô đi bộ một chặng dài mỗi sáng, dù mưa hay nắng, và mỗi chiều, sau giờ làm việc; hai lần một tuần, cô lại tham gia làm tình nguyện viên ở một trung tâm chăm sóc động vật vô chủ gần nhà, rồi vào những buổi tối khác thì cô lên thư viện, đọc những cuốn tiểu thuyết cũ hiếm người ngó ngàng tới. Công việc của cô có nét nhàn nhã mà cô mường tượng rằng hầu hết mọi người đều không có được - cô thích những mẫu mùi hương và màu sắc nhân tạo, cái bất di dịch của những thường quy, cái khả đoán của những kết quả. Khi có thời gian rảnh rỗi ở nơi làm việc, cô lại mơ màng nghĩ đến những nơi chốn và thời gian mà ở đó cô không hiện diện, nơi những người xa lạ có cuộc sống sinh động tùy theo trí tưởng tượng của cô: một cô gái tên là Grazia, qua đời vì bệnh lao phổi khi mới mười lăm tuổi và được an táng ở một thị trấn miền núi của Thụy Sĩ, bị mọi người lãng quên, ngoại trừ cô giáo dạy tiếng Pháp nghèo của cô bé; một người thợ sửa giày già nua đang khom lưng cúi xuống những mảnh da và đống đinh xỉn màu trong một cửa tiệm ở Paris, thị lực của ông đang ngày một suy giảm, tim ông bị lỡ một hoặc hai nhịp; một chàng chăn cừu ở Bavaria loay hoay trong niềm khao khát đến khắc khoải một cô gái hàng xóm, hơn chàng ba tuổi và đã hứa hôn với người bán thịt trong làng. Trong lúc mơ màng, Mạc Lan vẫn thận trọng tỏ ra đang bận bịu, để phòng trường hợp có người nhòm vào phòng thí nghiệm, dù cô đồ rằng trong mắt đồng nghiệp, cô cũng như thiết bị mà cô quản lý, là một cỗ máy đã được điều chỉnh thật khớp - cỗ máy mà một khi đã tin tưởng thì người ta có thể dễ dàng quên đi sự tồn tại của nó. Cô không vì thế mà mếch lòng với đồng nghiệp, hầu hết bọn họ đều điềm đạm yên lòng với cuộc sống ngoại ô, nếu không muốn nói là vui vẻ chấp nhận nó. Giả sử họ cảm thấy mình có chút gì đó hơn Mạc Lan thì cô cũng không cảm nhận được, mà nếu đúng như vậy thật thì có lẽ nguyên nhân xuất phát từ việc cô cố tình muốn giữ một khoảng cách an toàn với họ; cô cũng không cảm thấy mình có ưu điểm nào hơn những người khác - cô cho rằng các đồng nghiệp của mình cũng thích thú và trải nghiệm cuộc sống hôn nhân, làm cha mẹ, những đợt thăng thưởng, và những ngày nghỉ hệt như chính bản thân cô trải nghiệm sự tĩnh tại của mình vậy. Thật ngu ngốc khi người ta tự coi mình là hơn, hay thậm chí chỉ là khác biệt, so với những người khác chỉ bởi vì người ta có thể sở hữu điều mà những người khác không thể. Cái đông đúc của đời sống gia đình và cái bất biến của sự tĩnh tại - cả hai đều là những quyết định táo bạo, hoặc hèn nhát - rốt cuộc đều chỉ tạo dấu vết mờ nhạt trên nỗi cô đơn bàng bạc và hoang hoải, nơi trú ngụ của mỗi con tim.

Mạc Lan ước được quay trở lại thói quen ngày thứ Bảy của mình, vốn lúc này đã bị xáo trộn vì cuộc gọi của bố mẹ và email của Bá Dương, nhưng tin tức về một cái chết, bất kỳ cái chết nào, cũng đủ để chứng tỏ cái mong manh của một đời sống phẳng lặng. Lần cuối cùng Mạc Lan nhìn thấy Tiểu Ái là trước khi cô lên đường sang Mỹ; lúc đó, Tiểu Ái đã mất phần lớn thị lực và tóc, cơ thể khỏe mạnh của cô đang biến thành một khối phì nộn trông thật đáng sợ, tinh thần đã mất đi sự minh mẫn đằng sau đôi mắt mờ đục. Vậy thì hai mươi mốt năm nữa sẽ còn gây ra những gì đối với kẻ tù nhân đó trong chính cơ thể của mình nhỉ, Mạc Lan băn khoăn, nhưng không ép mình phải trả lời. Tưởng tượng cảnh Grazia nằm trong một ca bin nhỏ và nhìn ra những rặng núi phủ tuyết thì dễ hơn: một chiếc bình đựng nước đặt trên chiếc bàn kê cạnh giường ngủ cô bé, ánh nắng mặt trời buổi sáng bị mắc kẹt trong cái trong trẻo tĩnh lặng của nước; một tấm vải thêu mẫu còn dang dở một bài thơ của Goethe đặt cạnh người, nhắc Grazia nhớ về cái ngày mà cô lên năm tuổi, bắt đầu biết dùng những sợi chỉ hồng và trắng để khâu những chữ cái ngây ngô, to cồ cộ.

Khi Mạc Lan mới đến Mỹ, những người ở các nhà thờ xung quanh đến thăm cô. Cô trả lời, không phải là một lời xin lỗi đơn thuần, nhưng có lẽ khi ấy nó cũng tạo ấn tượng là một lời xin lỗi thiếu chân thành, rằng mình không có đủ trí tưởng tượng để trở thành một con chiên. Giờ thì cô biết rằng cái cô thiếu không phải là trí tưởng tượng. Người thợ sửa giày ở Paris đã mất đứa con trai duy nhất của mình trong một cuộc chiến diễn ra trên phố; ông không biết phải đổ lỗi cho cái gì, số phận hay cuộc cách mạng, những giọt nước mắt hoang mang của ông khiến Mạc Lan cảm thấy nhói lòng hơn cả những tiếng thở dài của bố mẹ. Cô gái ở Bavaria đã vô tư kết hôn mà không chút tiếc nuối, không biết đến nỗi đau khổ của chàng thanh niên hàng xóm. Cô qua đời sau khi hạ sinh một bé gái, và vào những ngày cảm thấy thù ghét chính mình, Mạc Lan sẽ để cho chàng chăn cừu nọ lấy cắp đứa bé, dìm chết nó rồi tự vẫn luôn; vào những ngày khác, khi day dứt về sự tàn nhẫn mà cô đã bất cẩn gây ra cho những linh hồn cả tin - để làm gì chứ nếu như không để khiến cho chính cô có thể cảm nhận được những nỗi đau mà cô không cho phép xuất hiện trong cuộc đời mình? - Mạc Lan sẽ để đứa bé lớn lên, ngày càng trở nên đáng trân quý trong đôi mắt người đàn ông hàng xóm đau khổ, đáng trân quý hơn cả cách cô tự nhìn nhận về chính bản thân mình và toàn thảy thế giới.

Giả dụ con người ta có thể cho phép mình gần gũi với thế giới thực hơn là với thế giới trong trí tưởng tượng của mình. Giả dụ cô có ai đó bên cạnh lúc bố mẹ gọi điện, để cô có thể bàn luận về cái chết của Tiểu Ái. Vừa nghĩ tới đây, Mạc Lan liền lập tức đóng ngay cánh cổng đó lại. Bị bắt quả tang trong khi đang hy vọng - dù người bắt quả tang là chính cô, nhưng cũng chỉ có thể là chính cô mà thôi - cũng giống như bị bắt quả tang một lần khi cô rụt rè chơi một giai điệu đơn giản trên chiếc piano trong bữa tiệc của một đồng nghiệp. Một đứa bé, chưa đến bốn tuổi, chưa đủ lớn để học piano như các anh chị khác trong nhà, lặng lẽ bước vào căn phòng nơi Mạc Lan vừa tìm được một chút yên tĩnh tách khỏi những vị khách khác. Chào cháu, Mạc Lan nói, và cô bé tò mò nhìn cô với vẻ thương hại trộn lẫn cả sự bực dọc của một bà chủ nhà. Đôi mắt cô bé như muốn hỏi, cô có quyền gì mà động vào chiếc piano? Mạc Lan đỏ bừng mặt; cô bé đẩy cô ra một bên, hai tay dằn mạnh những phím đàn, và tuy giai điệu thiếu hòa nhịp đến chối cả tai, song cô bé dường như hài lòng với màn biểu diễn của mình lắm, như thể đang chỉ cho Mạc Lan biết cách chơi một nhạc cụ là như thế nào.

Đó là cô bé mà Mạc Lan nhớ đến lúc này, khi cô đi dạo trên cung đường quen thuộc tới công viên gần nhà, một khu rừng nhỏ không có gì thu hút ngoại trừ một sân chơi cũ kỹ, chỉ còn khung kim loại của một cỗ máy xe lửa và một vài cái xích đu kêu răng rắc, tất cả đều đã han gỉ. Đôi mắt cô bé như muốn nói, không phải ai cũng có quyền tiếp xúc với âm nhạc, cũng như không phải ai cũng có quyền sở hữu sắc đẹp, niềm hy vọng, và hạnh phúc.

Một bà cụ, ấm áp quấn mình trong một chiếc áo khoác quá khổ và một chiếc khăn quàng, nhẫn nại chờ con chó xù đen mặc chiếc áo vàng của bà tò mò tìm hiểu một tảng đá. Mạc Lan khẽ cất lời chào rồi định đi qua thì bà cụ ngẩng khuôn mặt nhỏ nhắn lên nói: “Này, đừng bao giờ quên kỳ kinh nguyệt gần nhất của mình đấy.”

Mạc Lan gật đầu. Khi cùng người khác nói chuyện, cô luôn trông có vẻ hết sức chăm chú, như thể cô nghiệm được tầm quan trọng trong những lời họ nói.

“Cứ hễ tôi đi bác sĩ là thể nào họ cũng hỏi câu ấy,” bà cụ nói. “Làm như ở tuổi tôi thì cái chuyện ấy vẫn còn quan trọng vậy. Lời khuyên của tôi là cô hãy về nhà, ghi ngày tháng vào chỗ nào dễ tìm nhất ấy.”

Mạc Lan cảm ơn bà cụ và đi tiếp. Cô có thể dễ dàng mường tượng cảnh mình nán lại, lắng nghe bà cụ kể lể chuyện bà chờ dài cả cổ ở phòng khám bác sĩ, hay phòng khám thú y, hay chuyện về chuyến thăm gần đây của đám cháu chắt, nhưng các cuộc chuyện trò dông dài không đầu không cuối với những người xa lạ ấy vốn đã diễn ra không biết bao lần rồi, trong những cửa hàng bách hóa, tiệm giặt là, rồi các tiệm chăm sóc tóc, các sân bay, đến nỗi đôi khi Mạc Lan không khỏi thắc mắc liệu có phải giá trị chính của cô nằm ở thái độ sẵn sàng làm cái thùng-người chứa đủ thứ chi tiết thập cẩm hay không. Cô thể hiện sự thông cảm và ngưỡng mộ và ngạc nhiên với ý thức trách nhiệm nhưng chưa hoàn toàn nỗ lực hết sức, và sau đó, những người kia đi tiếp, cô vừa khuất khỏi tầm mắt là họ cũng vừa kịp quên khuấy gương mặt cô, nếu không thì hẳn họ đã không nhìn thấy cô từ lúc đầu: cô là một trong những người xa lạ mà người ta thi thoảng cần để giúp cuộc sống của họ bớt phần trống rỗng đi.

Khi quay về, cô thấy một tin nhắn thoại của Josef để lại trong chiếc máy trả lời tự động. Thật kỳ lạ, có tới hơn một người gọi cho cô vào ngày hôm nay. Cô đợi tới xế chiều mới gọi lại. Cô muốn anh nghĩ rằng cô có việc để làm vào một ngày thứ Bảy.

Khi Josef nhấc điện thoại lên, giọng anh nghe có vẻ yếu ớt. Anh hỏi Rachel đã nói chuyện gì với cô chưa, và Mạc Lan chợt thấy thất vọng. Rachel là con út trong số bốn người con của Josef và Alena; hai năm trước, khi Josef nghỉ hưu công việc thủ thư trong một trường đại học cộng đồng gần nhà, anh đã bán ngôi nhà của mình và mua một căn hộ chung cư cách nhà của vợ chồng Rachel vài dãy, lúc này họ đang chuẩn bị sinh đứa con thứ ba. Rachel chỉ kém Mạc Lan ba tuổi, và cô là người con duy nhất trong số các con của Josef công khai phản đối hôn nhân giữa bố mình với Mạc Lan.

“Rachel có chuyện gì cần nói với em à?” Mạc Lan hỏi. Cô vẫn nhớ nỗi hoảng hốt của mình khi bố mẹ cô gọi hồi sáng. Thế mà cô cứ sợ rằng sẽ được báo tin Josef qua đời.

Mạc Lan vốn vẫn biết rằng ngày nào đó sẽ có một cuộc điện thoại gọi đến, tồi tệ nhất khi đó là cuộc gọi từ một trong những đứa con của Josef. Dẫu vậy, việc được nghe tin trực tiếp từ chính Josef - về căn bệnh đa u tủy của anh, một tin mới kể từ lần cuối họ gặp nhau vào tháng Sáu - cũng không làm cho thông tin này bớt đi phần khắc nghiệt. Trong giây lát, cô giật mình với cái cảm giác kỳ lạ rằng anh đã đi rồi; cuộc trò chuyện giữa họ, một ký ức cho tương lai, trở nên phi thực, giọng Josef đầy vẻ tiếc nuối, như thể anh vừa mắc sai lầm và bất cẩn mắc ung thư.

Cô hỏi anh biết bệnh tình của mình bao lâu rồi, anh nói bốn tuần. Bốn tuần, Mạc Lan nói, cảm thấy rõ cơn giận trong mình đang sôi lên - nhưng trước khi cô kịp bắt đầu tràng phê bình, Josef nói rằng theo chẩn đoán thì bệnh tình của anh chưa đến mức nặng lắm. Trong cáo phó sẽ có thông tin rằng anh qua đời trước người vợ cũ tận tụy, Josef tếu táo đùa khi sự im lặng len vào giữa cuộc nói chuyện.

Anh ấy sẽ kéo dài được bao lâu, Mạc Lan băn khoăn. Bất kỳ ai, hay bất kỳ cái gì, sẽ kéo dài được bao lâu? Một cuộc hôn nhân bắt đầu bằng sự quyến luyến và lẽ ra đã có thể diễn ra tốt đẹp, tình yêu đến từ sự dịu dàng trìu mến ở nơi thiếu vắng niềm đam mê, không con cái chưa từng là nỗi thất vọng, bởi lẽ nó không phải do khoảng cách tuổi tác giữa Josef và Mạc Lan mà do sự thờ ơ rất đỗi kiên quyết của cô với cuộc sống làm mẹ. Vào các kỳ nghỉ, con cháu Josef thường tới thăm họ, và bạn bè - những người lớn hơn Mạc Lan tới hai mươi, ba mươi tuổi, vốn là bạn bè chung của Alena và Josef, cũng là những người đã chăm sóc cho Josef sau tại nạn của Alena - vẫn tiếp tục duy trì truyền thống tụ tập nhau theo mùa, một truyền thống mà họ đã khởi sự từ trước khi có sự tồn tại của Mạc Lan đối với bất kỳ ai trong số họ.

Mạc Lan nghĩ một người vợ cũ tận tụy hẳn là giải khuyến khích tốt nhất dành cho một người đàn ông, hoặc một người phụ nữ khi được gọi như vậy. Ngay cả khi các con của Josef chiều ý bố, thì có lẽ cô vẫn sẽ là một phần phụ quái gở trong câu chuyện lẽ ra là hoàn hảo về các giai đoạn cuộc đời Josef trong cáo phó của anh. Nhiều năm nay, Mạc Lan là vị khách thường xuyên truy cập một website tổng hợp các cáo phó trên cả nước. Cô chưa bao giờ chán đọc những bản tóm tắt được trau chuốt nhẹ nhàng về cuộc đời của những người xa lạ. Nếu không có sự xâm phạm của cô, hẳn cuộc đời Josef sẽ là một trong những giai thoại hoàn hảo về tình yêu và sự mất mát: một tuổi thơ đẹp đẽ trong một thị trấn đẹp đẽ miền Trung Tây; một cuộc hôn nhân hạnh phúc với người yêu từ thuở thiếu thời bị kết thúc đột ngột vì gã tài xế bất cẩn; một người cha, người ông thân thương của bốn người con và mười một đứa cháu; một thành viên lâu năm trong đội hợp xướng ở nhà thờ trong vùng, một người làm vườn nhiệt tình, một bằng hữu rộng lượng, một con người tốt bụng.

“Em sẽ tới thăm anh,” cô nói, định bụng sau cuộc nói chuyện này sẽ đặt vé máy bay và đăng ký ở nhà trọ quen.

“Nhưng đã tới tháng Sáu đâu,” Josef nói.

Suốt mười một năm qua, Mạc Lan vẫn đều đặn tới thăm Josef vào tháng Sáu ngay ngày sinh nhật anh. Để ăn trưa thay vì ăn tối cùng nhau, vì bữa tối sinh nhật thuộc về gia đình, và con cháu anh sẽ tới chúc mừng. Anh thường tỏ ra trân trọng và biết ơn những bữa trưa sinh nhật của mình, như thể không biết rằng chúng được tổ chức vì cô chứ không phải vì anh.

Tháng Sáu đã đi qua một thời gian rồi, và ai mà biết liệu anh có còn đây khi tháng Sáu nữa lại tới hay không chứ? Có lẽ ý nghĩ này cũng vừa thoảng qua đầu Josef, nên anh trấn an Mạc Lan rằng chẩn đoán khá tích cực: các bác sĩ cho rằng vẫn còn thời gian, ít nhất là vài năm nữa, tùy thuộc vào tiến triển của các đợt điều trị.

Vậy thì tại sao anh lại báo tin cho cô làm gì; sao không đợi đến khi họ gặp nhau vào tháng Sáu tới và để cho cô khỏi phải sống trong lo lắng trong những bảy tháng? Nhưng cô biết mình không công bằng. Hẳn là anh cũng nôn nóng muốn được báo tin này cho người khác - cô không mong rằng mình nằm trong số những người được anh gọi ngay lập tức. “Kế hoạch có thể thay đổi mà,” cô nói. “Trừ khi em đến lúc này thì chưa thích hợp?”

Josef nói rằng không phải là thời điểm chưa thích hợp. Sự ngập ngừng trong giọng nói của anh - cô không phân biệt được đó là thực tế hay do cô tưởng tượng ra - chợt khiến Mạc Lan thấy nhói lòng: trong cả cái chết lẫn cuộc sống, cô đều không có quyền sở hữu bất kỳ thứ gì cả. Cô lấy giọng nhẹ nhàng hơn bảo anh đừng lo gì cả, vì cô sẽ đi trước ngày Lễ Tạ ơn. Cô nói sẽ đặt vé khứ hồi vào thứ Tư, trừ trường hợp Rachel, con cái anh và gia đình của họ tới thăm anh vào ngày đó.

“Em nghĩ anh lo lắng về chuyện em sẽ tới trong kỳ nghỉ sao?”

“Em không muốn làm khó anh,” cô nói. Cô biết, quyết định đến thăm của mình đã là một sự khó dễ rồi, chỉ là Josef vì quá tử tế mà không muốn chỉ ra thôi. Sự thiếu nhất quán của cô, vốn là điều mà cô chỉ cho phép anh được thấy, bản thân nó đã là một thứ tình yêu mà cô chưa từng dành cho bất kỳ ai khác, dẫu rằng nó không phải là thứ tình yêu có thể giúp ích gì cho anh, hay cho bất kỳ ai khác.

“Em vẫn thế,” Josef thở dài. “Cứ lo lắng về những thứ đâu đâu.”

“Anh còn ràng buộc với nhiều người,” Mạc Lan phân trần, nhưng điều mà cô định nói là thời gian của anh bị ràng buộc với những người xung quanh anh. Cái suy nghĩ rằng một người bị ràng buộc theo bất kỳ cách nào - vì máu mủ, các giấy tờ pháp lý về hôn thú hay công việc, những cam kết bất thành văn với bạn bè, hàng xóm láng giềng và đồng loại - chỉ là một ảo giác, nhưng thời gian lại là một vấn đề khác. Trong khi lập cam kết với những người khác, cái mà người ta thực sự cam kết chính là thời gian của mình: một bữa ăn, một cuối tuần, một cuộc hôn nhân lâu dài, một giây phút cuối trước lúc lìa đời; nếu phạm sai lầm bước qua ranh giới đó, nếu mang cả con người thực sự của mình ra mà dâng hiến - thì mỗi người hẳn đều có vài câu chuyện hay ho để kể về cái bài học khắc nghiệt của việc cho đi nhiều hơn những gì được đòi hỏi. “Em không thể xuất hiện rồi đòi hỏi được hòa nhập vào với họ được.”

“Tại sao lại không chứ, Mạc Lan?”

“Em tưởng đến bây giờ hẳn anh đã biết rằng em không thuộc về nơi đó mà,” Mạc Lan nói. Cô không thuộc về nơi đó và không thể hòa nhập - đó là những lý do cô đưa ra khi đặt vấn đề ly hôn. Hòa nhập - thật là một quan niệm ngớ ngẩn, như thể đời sống hôn nhân phải vận động như bàn tay của một nghệ nhân bậc thầy, chầm chậm làm mềm các góc cạnh và thay đổi tông màu cho đến khi người ta hoàn toàn vô hình. Khi đó, Josef đã tỏ ra thất vọng, anh nói rằng trong suy nghĩ của anh về cuộc hôn nhân giữa họ không bao gồm việc cô phải tự thích nghi với thế giới của anh.

Nhưng Mạc Lan biết, nhắc đến thế giới của anh cũng đồng nghĩa với việc giành được một lợi thế bất công. Vốn bước vào cuộc hôn nhân này chỉ có một mình - cô đã viện ra những khó khăn trong thủ tục visa để biện minh cho sự vắng mặt của bố mẹ trong ngày cưới - cô chỉ phải chịu trách nhiệm với chính mình, trong khi Josef có cả gia đình của anh, điều mà rốt cuộc được cô dùng làm một phần lý do để thoát khỏi cuộc hôn nhân này.

Dĩ nhiên, Josef lúc này nói, anh hiểu những lo ngại của cô. Cô ước giá mà anh đừng nói thế; cô ước giá mà anh bớt tử tế đi. Cô nói cô sẽ liên lạc sau khi đặt vé xong xuôi. Anh nói chấp nhận, nhưng giọng anh nghe bất lực. Tại sao cô không thể tử tế hơn với anh?

Sau một chút ngập ngừng, Josef nói trước khi đến, cô cần biết thêm một điều nữa: những ngày này Rachel là người lái xe chở anh đi lại.

Trong những lần đến thăm trước, Mạc Lan không gặp Rachel, cô cứ băn khoăn không biết có phải Josef có ý giấu con cái và bạn bè chuyện bữa trưa thường niên giữa hai người không. Trong mắt họ, Mạc Lan là kẻ tính toán: kết hôn với Josef để được an toàn vì một người mới nhập cư cần điều đó, rồi ly hôn anh ngay khi được công nhận là công dân Mỹ và có công ăn việc làm. Cô hình dung cảnh anh phải nài nỉ Rachel chở anh tới gặp mình, tội lỗi như thể một người bị bắt quả tang đang lừa dối nhưng dẫu vô vọng vẫn rất bướng bỉnh. “Em sẽ thuê xe,” cô nói. “Như thế em có thể chở anh đi lúc nào cũng được, nếu anh cần.”

Josef cảm ơn cô. “Tạm biệt nhé, Mạc Lan?” anh nói.

Một sự im lặng đột ngột khiến hơi thở của Mạc Lan qua đầu dây trở nên rõ ràng hơn. “Josef này,” cô nói trong sự cảm nhận, bất chấp mọi lý lẽ, rằng mình đã là một góa phụ.

“Sao em?”

Cô muốn nói rằng một người cô biết từ cách đây rất lâu mới qua đời, nhưng thật ích kỷ khi giải tỏa gánh nặng của thông tin này cho một người đang chờ chết. Cô muốn nài nỉ anh đừng từ bỏ hy vọng, dù rằng nếu ở vào địa vị anh, hẳn cô đã dễ dàng lựa chọn phương án đầu hàng. Cô muốn xin lỗi vì những điều mình chưa làm cho anh, và vì những điều cô đã không phải với anh. Nhưng giờ đây, khi anh đang kiên nhẫn chờ đợi ở đầu dây bên kia, cô hiểu rằng những lời nói đó, dẫu chân thật tận tâm can cô, khi được thốt lên lời vẫn sẽ mang một vẻ giả tạo. “Em ổn chứ?” Josef nhẹ nhàng hỏi.

“Dĩ nhiên là em ổn rồi,” cô đáp, và bổ sung thêm rằng nếu cô có bất kỳ tài năng nào đáng để khoe khoang, thì đó là tài lúc nào cũng ổn.

Josef bỏ qua sự chế nhạo - với chính bản thân cô hơn là với anh - trong những lời cô nói. Anh chưa từng thích thú những sự mỉa mai châm biếm. “Có gì đang khiến em buồn à, Mạc Lan?”

Ý anh muốn hỏi có phải trái tim cô vừa bị một người đàn ông khác làm tan vỡ chăng? Dĩ nhiên, anh sẽ an ủi, như anh từng có lần an ủi Rachel khi nó chia tay với người bạn trai thời đại học - nhưng làm sao Mạc Lan có thể giải thích cho anh rằng cái bị tan vỡ không phải là trái tim cô mà là niềm tin của cô vào sự tĩnh tại đây? Khi đề nghị ly hôn, cô nói với anh rằng chỉ một phần nhỏ trong cuộc đời anh là bị lãng phí. Còn có con cháu anh, bạn bè anh, ngôi nhà của anh, tất cả đều chỉ chớm chạm vào cô ở mức tối thiểu, tất cả vẫn sẽ là của anh, bởi tất cả chưa từng là của cô. Lúc ấy cô nói, cứ xét đến cái dài đằng đẵng của một kiếp người, thì con số năm năm họ sống cùng nhau chỉ là một sự chệch hướng chóng vánh mà thôi. Nhưng điều mà cô đã không nói với anh là, khi từ bỏ cuộc hôn nhân đó, cô đã quyết định sống theo một cách hạn chế hơn: tất cả những gì cô mong muốn là giữ cho đầu óc và con tim mình được ngăn nắp, với tinh thần kỷ luật cao độ, kể từ đó tới nay cô đã duy trì cho mình một thói quen nghiêm khắc, làm sạch cuộc sống của cô đến độ vô trùng. Nhưng hôm nay, hai cuộc gọi diễn ra, một tuyên bố về cái chết đã rồi và một tuyên bố về cái chết sắp sửa, và điều gì có thể lấp đầy không gian ngăn nắp kia nếu không phải là nỗi đau đớn mà phương pháp vô trùng nghiêm ngặt nhất cũng không thể xoa dịu? Cô nhớ Josef; cô nhớ mọi người.

“Có chuyện gì vậy, Mạc Lan?”

Không có chuyện gì cả, cô trấn an anh. Những năm qua, hẳn anh đã nhận ra rằng cô không còn tìm kiếm một người bạn đồng hành nữa, dù cô có thể thấy rằng anh vẫn hy vọng về điều đó, vẫn trông chờ một ngày cô không còn đến thăm anh vào ngày sinh nhật nữa vì cô đã có tình cảm của ai đó khác để mà quan tâm đến. “Em xin lỗi vì đã làm anh khó chịu,” cô nói.

“Không đâu,” Josef trả lời.

“Chúng ta đừng tranh cãi với nhau chuyện này nữa nhé,” cô nói, mà cô còn có thể tranh cãi với ai khác nữa đây? Cô nhắc anh bảo trọng và hứa sẽ gặp anh sớm. Khi cuộc gọi kết thúc, cô thấy mình như bị dồn nén, như thể giọng nói của anh đã để lại một kẽ hở mà qua đó sự cô đơn kéo nhau ùa vào phòng cô. Mạc Lan nhớ tới một câu chuyện từng đọc hồi trẻ, về một cậu bé người Hà Lan tìm thấy một chiếc lỗ trong một con đập, cậu nhét ngón tay của mình vào đó để ngăn nước biển xô vào. Trong câu chuyện, biển, vốn từng có lần là một người bạn ưa đùa giỡn đối với cậu bé, thì thầm vào tai cậu những lời lẽ mê hoặc ác độc khi ngón tay cậu tê dần rồi lan sang cánh tay rồi toàn bộ cơ thể cậu. Tại sao, Mạc Lan nói với cậu bé và với chính mình, lại không từ bỏ sự phản kháng anh hùng ấy để xem chuyện gì sẽ diễn ra chứ?

Nhưng không có gì diễn ra cả. Sự im lặng, khác với biển rì rào, không nuốt chửng và nhấn chìm cô, và người phụ nữ trong bức tranh của Modigliani nhìn cô với vẻ nhân từ trong sự vô lo vô nghĩ của mình.

Mạc Lan mặc áo khoác rồi quàng khăn quanh cổ, và một phút sau cô đã xuất hiện dưới phố. Trời nhá nhem tối, gió đang lên, cuốn những chiếc lá bay theo dọc vỉa hè. Những chiếc đèn thắp sáng những ô cửa sổ từng nhà, và đây đó là tiếng mở rồi đóng các hộp thư, âm thanh tắt lịm của động cơ ô tô sau khi cánh cửa ga-ra được cuộn lên, tiếng rè rè của một chiếc đèn đường đang nhấp nháy lúc sáng lúc tắt. Những âm thanh của một buổi xế chiều vùng ngoại ô có thể mang cái dáng vẻ yên bình đánh lừa người khác như cái không khí êm đềm của một ngôi làng miền núi ở Thụy Sĩ: những chiếc ô tô được lái về nhà cũng háo hức tìm đến điểm cuối cuộc hành trình của mình hệt như lũ cừu và bò thong thả về nhà; tiếng sủa đây đó của những con chó đã ở nhà một mình cả ngày dài, giờ đây mới được nghe tiếng bước chân chủ lại gần, cũng hồ hởi như tiếng sủa của những con chó chăn cừu sau một ngày làm lụng lại được ngửi thấy mùi thức ăn rán ấm áp tỏa ra từ các căn nhà xung quanh. Đằng sau mỗi cánh cửa, nằm ngoài ánh nhìn soi mói của những người xa lạ vì tò mò hay thiếu tế nhị, niềm hạnh phúc và buồn rầu của một ngày nữa lại tụ hội, cộng hoặc trừ, thay đổi hoặc giấu giếm, dẫn lối - đúng hoặc sai hướng - những trái tim nhạy cảm tới một nơi chốn khác, dẫu khó nhận biết, so với ngày hôm qua.

Ngày xửa ngày xưa, khi nấu nướng trong căn bếp nơi mà bao năm trước Alena đã đứng để chuẩn bị bữa ăn cho chồng và bốn đứa con của họ, lắng nghe tiếng xe của Josef về nhưng không thực sự chờ sự xuất hiện của anh, Mạc Lan đã tự tạo ra một cuộc sống cho mình tách biệt khỏi Josef, hệt như sau này cô sẽ tạo ra những cuộc sống cho Grazia và người thợ sửa giày hay chàng chăn cừu thất tình nọ. Lý do khiến cô làm vậy không phải vì sự thất vọng trong hôn nhân như Josef tưởng, mà vì niềm tin của cô vào sự cần thiết của việc không hoàn toàn sống hết mình trong bất kỳ khoảnh khắc nào. Thời gian là một mặt phẳng mong manh; việc tin vào sự chắc chắn của một khoảnh khắc cho đến khi bàn chân ta chạm vào khoảnh khắc tiếp theo, cũng đáng tin như thế, chẳng khác gì việc bước vào giấc mơ của kẻ khác trong khi hy vọng rằng thế giới sẽ tự sắp xếp để biến thành một con đường thần thoại. Không gì phá hủy một cuộc đời đáng sống theo cách toàn diện như niềm hy vọng vô căn cứ.

Cuộc sống mà Mạc Lan tưởng tượng ra trong căn bếp ở ngôi nhà của Josef không khác xa là mấy so với cuộc sống hiện tại của cô: sự cô đơn và tĩnh tại được diễn đi tập lại trong lúc cô thái rau. Từ lâu nó đã là sự phòng vệ duy nhất để chống lại việc trái tim cô bị di chuyển tới một nơi chốn lạ, vì Josef, vì cuộc hôn nhân của họ, vì thời gian. Thi thoảng, khi không nghe thấy tiếng cửa ga-ra, hay tâm trí cô bị hút vào tiếng réo của dầu ăn dưới nắp vung đậy kín, cô chợt giật mình khi Josef đột ngột xuất hiện. Em là ai, và tại sao em lại ở đây - cô nửa hy vọng anh sẽ hỏi cô như vậy, nửa lại thắc mắc không biết có phải anh, khi bắt gặp trong ánh mắt cô một sự thù ghét thoáng qua, cũng đang chờ cô đặt câu hỏi tương tự hay không.

Mạc Lan đinh ninh rằng trong cuộc sống của mình khi lớn lên, cô chưa một lần thất bại trong việc tiên đoán những gì sẽ diễn ra: chuyện cô nhập cư vào Mỹ, cuộc hôn nhân và sau đó là ly hôn của cô với Josef. Có lẽ người ta sẽ nói rằng cô chỉ đơn thuần đang sống hướng tới điều mà cô nghĩ là mình đã nhìn thấy, nhưng không phải thế. Người ta có thể có những mường tượng sai, người ta có thể có những hy vọng hão huyền, nhưng lừa dối bản thân còn khó gấp vạn lần lừa dối thế giới. Mà thực ra là không thể, trong trường hợp của Mạc Lan.

Dẫu vậy, cái kỳ quặc là sự mường tượng rõ ràng của cô lại không áp dụng trong quá khứ. Khi mới yêu nhau, Josef tò mò về cuộc sống của Mạc Lan ở Trung Quốc. Cô không thể chia sẻ nhiều như anh mong muốn, và anh đã cảm thấy bị tổn thương, hay chí ít là buồn lòng, trước những sự thoái thác của cô. Nhưng người ta làm sao có thể chia sẻ những ký ức về một nơi chốn mà không tự đặt mình vào đấy chứ? Cố nhiên, có những khoảnh khắc sẽ kéo dài suốt cuộc đời cô. Mẹ cô, trước khi kéo cô ra khỏi cái pháo đài lùng nhùng những chăn và gối vào những buổi sáng mùa đông, thường xoa tay cô cho ấm, vừa xoa vừa hát một bài ca ngợi việc dậy sớm để tăng cường sức khỏe. Một hôm, cái chuông xe đạp của bố cô, vốn đã han gỉ với tiếng kêu như thể bị mắc chứng cảm lạnh kinh niên, bị lấy trộm; cả nhà thắc mắc không hiểu ai lại đi lấy trộm cái chuông cũ trong khi có hàng đống những cái chuông sáng bóng với tiếng kêu vang và lảnh lót kia chứ? Những gương mặt hàng xóm xuất hiện trong đầu cô, những người đã khuất trông vẫn hoạt bát như còn sống, những người đã già nhưng trông vẫn còn trẻ. Hồi lớp một, trạm xá quận tới trường để kiểm tra công thức máu của học sinh; cô bảo Bá Dương xoa dái tai để máu lưu thông tốt hơn, và anh, vốn luôn tin tưởng cô, sau đó đã bị y tá quát cho một trận, vì cái dái tai bị xoa đến đỏ au của anh không ngừng chảy máu sau khi bị một chiếc kim tiêm nhỏ chọc vào.

Nhưng, Mạc Lan băn khoăn, ai có thể đảm bảo sự đáng tin cho những ký ức của mình chứ? Sự chắc chắn khi bố mẹ cô nói về tội lỗi của Như Ngọc cũng tương đương với sự chắc chắn mà họ tin vào sự vô tội của con gái mình. Những người tìm nơi trú ẩn trong trí nhớ sai lệch đã không phân tách rạch ròi giữa những gì đã xảy ra và những gì có thể đã xảy ra.

Khi ấy Mạc Lan không tin - và đến giờ cô cũng vẫn không thể tin - rằng Như Ngọc lại có ý định hãm hại bất kỳ ai. Một vụ án mạng cần có động cơ, một âm mưu, hoặc nếu không thì nó cũng cần đến một giây phút tuyệt vọng hay quẫn trí, như chàng chăn cừu trong trí tưởng tượng của cô từng trải qua khi anh dìm chết tình yêu của mình với đứa trẻ vô tội. Khi cả hai còn trẻ, Mạc Lan không biết rõ về Như Ngọc lắm; thậm chí giờ đây khi nghĩ lại, cô cũng không thể đoan chắc rằng mình hiểu Như Ngọc: đơn giản Như Ngọc là một trong những người khước từ việc được thấu hiểu. Cô không thể hiện sự hối hận hay quan tâm khi người ta phát hiện Tiểu Ái bị trúng độc. Phải chăng điều đó khiến Như Ngọc trông có khả năng là hung thủ hơn những người khác? Nhưng cũng có thể nói như thế về cuộc ly hôn của chính Mạc Lan: nhiều người trong số các bạn bè và gia đình của Josef đinh ninh cô là kẻ lừa đảo, họ nói rằng cô đã có được điều mình muốn trong cuộc hôn nhân nên ngay khi đạt được mục tiêu cô liền vứt bỏ nó. Lý do cô đưa ra cho Josef rất nửa vời, còn sự im lặng mà cô dành cho những người khác lại mang vẻ thiếu hợp tác, nên càng khiến cô trông giống kẻ có tội hơn so với việc nếu cô có lên tiếng xin họ tha thứ.

Nhưng Josef đã tha thứ cho cô. “Qua đời trước người vợ cũ tận tụy”, những lời nói của anh chợt quay về với cô. Josef sắp chết, còn Tiểu Ái đã chết: đối với Josef, theo dõi từ xa là chưa đủ; còn đối với Tiểu Ái, dẫu nhìn từ xa vẫn thấy bối rối đến đau lòng. Mạc Lan rảo bước nhanh hơn. Ba ngày nữa cô sẽ tới thành phố của Josef, sẽ được ở gần anh hơn dù rằng lúc này anh đang gần với cái chết hơn bao giờ hết.

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của yiyun li