Chốn Cô Độc Của Linh Hồn

Lượt đọc: 381 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 6

Trong sự tồn tại của Như Ngọc ở Bắc Kinh có rất nhiều điều cần giải thích: Cô là con nhà ai? Cô từ đâu đến? Cô định làm gì với cuộc sống của mình ở đây? Những câu hỏi này, kết hợp với vô thiên lủng những câu hỏi khác bớt gây khó dễ hơn, về ấn tượng ban đầu của cô với thành phố và cuộc sống trước kia của cô, đều gây mệt mỏi: hoặc là người ta hỏi những câu họ không có quyền hỏi, hoặc là họ hỏi những câu không đáng trả lời.

Khi Như Ngọc không đưa ra được câu trả lời thỏa đáng, Dì dường như vừa bảo vệ cô lại vừa thấy ngại thay cho cô; những lúc ấy, người ta lại an ủi Dì rằng Như Ngọc vẫn còn lạ nước lạ cái, rằng cô nhút nhát, rằng dần dần cô sẽ mở lời hơn. Như Ngọc cố gắng không nhìn trừng trừng vào họ khi phải nghe những điều đó trước mặt cô. Như Ngọc không hiểu ý họ định nói gì khi bảo cô nhút nhát, bởi cô chưa từng cảm thấy như vậy trong cuộc đời mình - người ta phải có điều gì để nói thì mới nói, bằng không thì thôi chứ. Nhưng quan điểm này lại có vẻ không chấp nhận được trong mắt những người hàng xóm trong khu tập thể, nơi mà cuộc sống, từ bữa sáng trở đi, giống như một thứ của chung, chuyện của người này can hệ đến người kia; sự im lặng của cô cũng không làm vừa lòng cả những cụ già ngồi trong các con hẻm, dưới bóng râm của những cây thích hòe trước khi làn gió nhẹ của buổi sớm bị thế chỗ bằng cái nóng gắt gao của mùa hè, khi mà họ, vốn đã chán ngấy những câu chuyện xưa tích cũ, nhìn lên gương mặt lạ lẫm của Như Ngọc mà khấp khởi hy vọng rằng cô sẽ phá vỡ sự đơn điệu nhưng vẫn giữ nguyên cái yên ả trong cuộc sống của họ bằng cách mang đến một điều gì đó mới mẻ và dễ quên.

Thế là chẳng mấy nỗi, mọi người ở khắp khu tập thể và khu vực xung quanh rỉ tai nhau rằng cô chỉ thích ngồi cạnh một ông lão sắp chết. Không có gì là bệnh hoạn cả khi theo dõi một người đang chết từ từ, nhưng chuyện này, Như Ngọc biết, không phải là điều mà người khác có thể hiểu được. Những người xa lạ vốn đã nhanh nhảu vội tuyên bố cô là một trong số bọn họ - một người bạn, một đứa cháu, một người hàng xóm - tìm kiếm một lời lý giải cho sở thích quái gở của cô và yên trí khi họ tìm được nó: suy cho cùng thì con bé xanh xao yếu ớt và đôi khi khó gần này là trẻ mồ côi. Dần dà, họ sẽ truyền sang cho cô một chút bình thường và biến cô thành thứ gì đó tốt đẹp hơn, nhưng tạm thời họ đành phải đối xử với cô tử tế hơn bình thường, như thể họ đang chăm sóc cho một con chim bị ốm vậy. Trong cái nỗ lực tập thể này, gần như mọi người trong khu tập thể đều tham gia - mọi người ở đây nghĩa là trừ Tiểu Ái, người vắng mặt luôn luôn, và ông của cô, vốn đã gần đất xa trời tới nỗi giả dụ có mong chờ gì ở ông thì có chăng là ông đi sớm sớm cho.

Ông cụ nằm liệt giường, hầu như im lặng cả ngày, nhưng khi đói, khát, hoặc cần thay tấm lót đặt bên dưới, ông góp sức tàn để ú ớ kêu la; khi chưa có người tới ngay, ông lại nâng người lên rồi dằn mạnh xuống giường, gây ầm ĩ hết cả. Như Ngọc đoán Dì và Chú đã quen với lối giao tiếp thô bạo đó nên cứ thong thả mà đến, nhẫn nhục là sự phản kháng duy nhất của họ trước sự mục ruỗng đã kéo dài quá lâu. Khi nói về ông cụ, những người hàng xóm thường kể rằng ông là một thợ sửa đồng hồ và bút máy rất khéo tay, thích chơi chiếc đàn violon hai dây và ưa kể những câu chuyện khoác lác trên trời dưới bể, như thể rằng ông - người đang nằm trong căn buồng chật hẹp kia, lúc này chỉ còn là một nhúm xương bọc da không khác - chỉ đang chơi trò giả làm người sống mà thôi, và đừng nên nhầm ông với người thật.

Hễ có dịp là Như Ngọc lại lẻn vào phòng ông cụ. Một chiếc giá gỗ tự làm đặt cuối chân giường, trống huơ ngoại trừ một cuộn hương vòng đuổi muỗi, một lọ thuốc mỡ để thoa vào những chỗ thối loét vì nằm liệt giường lâu ngày cho ông, và một khung ảnh chụp gia đình từ nhiều năm trước: Tiểu Ái buộc tóc đuôi ngựa, lúc đó vẫn là cô bé tuổi chập chững biết đi, ngồi giữa ông bà, bố mẹ cô, trông trẻ và nhu mì, đứng đằng sau. Một chiếc ghế gấp - mà thi thoảng Dì và Chú vẫn dùng để ngồi khi bón cho ông ăn - dựa vào tường. Một ô cửa sổ nhỏ trổ trên cao lúc nào cũng mở, nhưng không khí trong phòng luôn bốc ra mùi chăn gối để lâu ngày, mùi những miếng đệm lót sũng nước, mùi hương khói, và mùi thuốc mỡ hăng hăng.

Chẳng giống những nơi khác trong nhà, căn phòng này không chất đống đồ đạc, và thật kỳ quặc, nó gợi cho Như Ngọc nhớ về nhà của các bà dì. Họ là những người quản gia vô cùng sạch sẽ, Như Ngọc biết chắc họ sẽ không lấy làm vinh hạnh gì khi bị liên tưởng, dù là trong những suy nghĩ thầm kín nhất của cô, với cái khó coi của sự ốm yếu và thối rữa trong phòng của ông. Mà các bà dì vốn không đời nào đi hỏi ý kiến Như Ngọc về những chuyện như thế, nên họ không biết trong đầu cô nghĩ những gì.

Như Ngọc không thấy sự im lặng trong ngôi nhà cũ của mình có gì kỳ lạ cho đến khi cô tới Bắc Kinh; ở đây ngôn từ được dùng như một chất bôi trơn trong cuộc sống hằng ngày, mọi thứ vặt vãnh trong cuộc sống của con người ta - những sự kiện vô nghĩa, những vật linh tinh - mang đến kho đề tài vô tận cho mỗi cuộc chuyện trò. Trong căn hộ của hai bà dì, không có chậu cây nào để nước hòa lẫn đất trong chậu rỉ rả chảy ra ngoài hay để những bông hoa héo rụng xuống như ở nhà Dì; không có những chồng giấy gói cũ màu nâu để gom bụi; không có những sợi dây nhựa để quấn chằng chịt lẫn nhau, nằm chỏng chơ một xó để chờ đến ngày được trưng dụng lại. Một năm hai lần - một trước mùa hè, và một trước mùa đông - các bà dì lại mang chiếc máy khâu của họ ra. Trong mấy ngày sau đó, căn hộ mang một vẻ bừa bộn khẩn trương luôn khiến Như Ngọc hào hứng: những chân váy và áo kiểu được cẩn thận gỡ chỉ bằng kéo, sau đó đặt lên các tấm giấy cứng để sắp xếp lại và vẽ kiểu để ráp thành các bộ quần áo mới; chiếc lọ bé xíu dùng để nhỏ dầu vào các mối nối ở máy khâu phát ra tiếng phụt phụt rất êm tai khi bóp vào; những ống chỉ đủ màu sắc được xếp hàng ngay ngắn để hợp với màu vải; khi một bà dì đạp máy khâu, chiếc kim màu bạc như tự có đời sống riêng của nó, êm ru trượt tới trượt lui trên mặt vải. Nhưng ngay cả trong những ngày tưng bừng của lễ hội may vá như vậy, Như Ngọc vẫn học được tầm quan trọng của sự tĩnh lặng và trật tự. Cô giúp các bà dì xâu chỉ, dọn dẹp các mẩu vải vụn và sợi chỉ thừa, rồi khi được sự cho phép của họ, khâu chúng thành một quả bóng nho nhỏ - nhưng cô biết mình phải che giấu sự thích thú của mình khi làm những việc này: đối với họ, việc tự cắt may quần áo, trên cả sự cần thiết, là một cách giúp họ tách biệt mình khỏi thế giới mà họ không tuân phục; tìm thấy niềm hạnh phúc trong nghĩa vụ của mình, chí ít đó cũng là một hành vi ngạo mạn trước Chúa.

Và cũng chính là Chúa đã dẫn đường cho Như Ngọc tới căn buồng của ông, nơi khiến cô có cảm giác như ở nhà: sự trống vắng của nó mang tính mời gọi hơn là ngột ngạt, sự yên tĩnh của nó ngăn sự xâm phạm của thế giới bên ngoài.

Ban đầu, Như Ngọc chỉ dám đứng ở cửa buồng để có thể rời đi ngay khi thấy ông có biểu hiện khó chịu. Có đôi khi ông cụ liếc đôi mắt mờ đục về phía cô, nhưng thường thì ông không nhận thấy sự hiện diện của cô - cô không phải là người mang đến đồ ăn, thức uống, hay đôi bàn tay chăm sóc. Khi ông không thể hiện sự phản kháng nào rõ rệt, cô mới thấy thoải mái hơn và bắt đầu vào hẳn trong buồng và ngồi xuống bên cạnh giường. Cô thường mang theo một chiếc quạt tre để lấy cớ, thi thoảng khi Dì nhìn thấy cô trong buồng ông cụ, đều là những lúc cô đang phe phẩy quạt cho ông.

“Cháu chu đáo với ông quá,” Dì nói khi bê chậu nước và khăn tắm vào buồng ông một buổi chiều nọ. “Nhưng dì không muốn cháu ở với ông nhiều thế đâu.”

“Tại sao ạ?” Như Ngọc hỏi. “Ông thấy phiền ạ?”

“Ông thì biết cái gì chứ!” Dì nói. “Dì không nghĩ việc này lại tốt cho cháu.”

Cặp mắt ông cụ vẫn đờ đẫn, không thể hiện điều gì trước cuộc trao đổi đó. Việc ông đang ở cận kề cái chết hơn bất kỳ ai Như Ngọc từng gặp khiến cô băn khoăn không biết liệu có phải ông biết những điều mà người khác không thể biết hay không; việc ông không nói được càng khiến ông thêm phần tôn quý trong mắt cô, vì rằng không nói được hẳn là sự trừng phạt cho những gì mà ông đã giành lấy được trong cuộc đời. Nhìn vào ông, cô cảm thấy một sự đồng điệu khó cắt nghĩa: ông, giống như cô, có lẽ đều có năng lực nhìn thấu con người và sự vật, dù rằng lúc này, sự im lặng của ông là bất đắc dĩ, còn sự im lặng của cô luôn là một lựa chọn.

Thấy Như Ngọc vẫn lặng yên, Dì thở dài. “Cháu vẫn còn trẻ. Không nên nghĩ ngợi nhiều làm gì.”

Như Ngọc đứng lên để Dì đặt chậu nước lên ghế. “Cháu ngồi với ông không sao đâu ạ.”

“Các dì cháu không gửi cháu đến đây để làm vú em cho một người tàn phế,” Dì nói.

Thực ra, thay vì là một người họ hàng nghèo được gửi tới làm gánh nặng cho Dì và Chú, Như Ngọc là một vị khách có thanh toán tiền nong đàng hoàng. Trước khi cô rời đi, các bà dì đã cho cô hay họ sẽ trả một trăm tệ tiền ăn ở mỗi tháng cho cô, vốn là số tiền lớn hơn thu nhập của Dì hoặc Chú. Họ không nói thẳng rằng Như Ngọc là một nguồn lợi tài chính đáng kể cho gia đình đó, nhưng cô biết rằng đó là điều mà các bà dì muốn cô hiểu. “Cháu có làm được gì cho ông đâu,” Như Ngọc nói. “Cháu chỉ ngồi đây thôi mà.”

“Thanh niên thì phải chơi với thanh niên chứ,” Dì nói. “Sao cháu không đi tìm Bá Dương hay Mạc Lan rồi rủ họ đạp xe đi chơi?”

Như Ngọc không biết đi xe - không ai, ngay cả những người hàng xóm tọc mạch nhất ở nhà, có thể nghĩ đến cảnh các bà dì chạy theo sau một đứa trẻ đang loạng choạng đạp xe để đỡ lấy cô khi trượt chân và ngã xuống đường cả. Sự thiếu sót này thoạt nhiên có vẻ khiến Mạc Lan và Bá Dương ngạc nhiên lắm - họ là những đứa trẻ thành thị thực sự, lớn lên trên yên xe đạp như những đứa trẻ của những người chăn thả gia súc ở Mông Cổ lớn lên trên yên ngựa vậy. Đối với họ, xe buýt và xe điện và tàu điện ngầm là thứ dành cho những người rất già và rất trẻ, và cho những kẻ kém may mắn vì bất kỳ lý do nào đó mà bị tước đi cái tự do của một chiếc xe đạp.

Trong mấy tuần qua, Như Ngọc đã dành phần lớn thời gian với Bá Dương và Mạc Lan. Vốn đã thuộc thành phố như lòng bàn tay, họ luân phiên nhau chở cô ngồi đằng sau xe, đi qua những con phố phụ và ngõ hẻm để tránh cảnh sát giao thông - đi xe đạp hai người là vi phạm pháp luật. Khi không thể tránh được một đoạn đường chính hoặc đại lộ, cả hai sẽ xuống dắt xe đạp và đi bên cạnh Như Ngọc, vừa đi vừa chỉ trỏ những tiệm may cổ và những cửa hàng bán thịt và bánh có tuổi đời cả trăm năm xuất hiện dọc đường.

Như Ngọc không nề hà chuyện phải ở một mình, nhưng những người khác - Bá Dương, Mạc Lan, và những người hàng xóm - dường như lại cho rằng việc cô thấy thoải mái khi ở một mình là điều đáng lo. Đối với Dì, mỗi lần Như Ngọc ở một mình đều như một lời buộc tội. Nhưng việc cả thế giới sốt sắng muốn ép cho bằng được để cô không còn là chính mình nữa lại khiến cô quay lại nhìn nó với vẻ ngờ vực. Đôi khi cô thắc mắc, tại sao con người ta lại được phép ngu ngốc đến thế nhỉ?

Khi thấy Như Ngọc không đáp lời, Dì nói suy nghĩ của cô như vậy là không phải, nhưng so với những đứa trẻ khác cùng tuổi, rõ ràng Như Ngọc đã dành quá nhiều thời gian bên những người già. Nhưng Bá Dương cũng sống với bà đấy thôi, Như Ngọc nói, và dì trả lời rằng chuyện của Bá Dương thì khác, nghĩa là - Như Ngọc đoán - Bá Dương còn có bố mẹ nữa. Việc Như Ngọc không biết bố mẹ mình là ai luôn hiện diện trong tâm trí của tất cả mọi người biết lai lịch của cô, bởi lẽ, đối với toàn bộ phần còn lại của thế giới, một đứa trẻ phải có xuất thân rõ ràng. Không thể có chuyện trẻ con tự ở đâu chui ra như một cái cây dại mọc ra từ kẽ nứt trên một con đường được; ấy thế nhưng Như Ngọc lại muốn thế giới tin rằng cô giống như vậy đấy - một cuộc đời được thả vào kẽ nứt trong cuộc đời của hai bà dì. Đó là điều hiển nhiên nhất đối với cả ba người bọn họ, song một người như Dì sẽ không thể hiểu được.

Như Ngọc quay lại phía ông cụ, lúc này mi mắt đã khép hờ vì buồn chán hoặc mệt mỏi. Cô tự hỏi không biết ông có hiểu rằng tất cả mọi người xung quanh ông, ngoại trừ cô, đều sẽ cảm thấy như trút được gánh nặng, nếu không muốn nói là mừng rỡ, khi ông qua đời không; có lẽ cô sẽ là người duy nhất cảm nhận được một sự mất mát, dù rằng cô không hề quen biết ông.

Ai đó kể một câu chuyện cười ở khu sân chung, tiếng cười rộ lên, theo sau là những tiếng vỗ tay xua lũ muỗi khát máu đang vo ve bay trên không trung. Trong ánh sáng cuối cùng của ngày, những con dơi dậy sớm chao lượn xung quanh, tiếng kêu ríu rít của chúng, mỏng nhưng âm lượng cao, nghe không giống âm thanh của bất kỳ sinh vật sống nào. Như Ngọc chưa bao giờ trông thấy dơi, và cô coi những con vật lạ lùng này, với những chuyến bay điên cuồng như mù đường vào lúc trời nhá nhem tối, là điều mà cô yêu thích ở Bắc Kinh. Ngay cả khi ở trong căn buồng chật hẹp của ông thi thoảng cũng có thể thấy một, hai con dơi đổi hướng ngay khi chuẩn bị đâm sầm vào cửa sổ, tuy đột ngột nhưng dứt khoát, chưa từng mắc sai sót gì.

Dì thay vòng hương mới rồi châm lửa, đốm sáng của nó trở thành ánh sáng duy nhất trong căn phòng. Cả Dì và Như Ngọc đều không đi ra bật đèn, và khuôn mặt hốc hác của ông cụ cũng bớt phần gớm ghiếc trong ánh chiều chạng vạng.

“Dì chưa kịp hỏi,” một lúc sau Dì nói, giọng khan khan như vẫn đang phân vân không biết liệu mình có quyền phá vỡ sự im lặng không. “Các bà dì của cháu thế nào?”

“Ổn ạ.”

“Cháu viết thư cho họ chưa?”

Khi Như Ngọc mới đến, Dì đã chỉ cho cô biết phong bì và tem đựng trong ngăn kéo chiếc bàn mới của cô, nhưng ngoại trừ một bức điện tín cô gửi về để thông báo đã đến nơi an toàn, cô chưa gửi cho họ bức thư nào: mà các bà dì cũng không mong chờ điều đó. Nhưng lúc này, vì không muốn thừa nhận là giữa họ chưa từng có sự liên lạc nào, cô chỉ khẽ gật đầu, trong lòng thoáng chút băn khoăn không biết liệu Dì hay Tiểu Ái có để ý số lượng phong bì hay tem trong ngăn kéo cô chăng. Dì hỏi cô có nhận được thư trả lời của họ không và nói thêm rằng Dì và Chú cũng viết thư cho họ nhưng chưa thấy hồi âm.

Như Ngọc nói cô cũng chưa nhận được thư của các bà dì, chợt thấy bực mình khi Dì tỏ ra bất mãn với sự im lặng của họ thay cho Như Ngọc hơn là nhân danh chính bản thân Dì. “Lúc nào họ cũng biết mình đang làm gì. Dì cam đoan là họ cứ nghĩ cháu đang thu xếp cuộc sống ổn thỏa cả,” Dì nói. “Hoặc có thể là thư của họ bị ách tắc ở đâu đó. Có trời mới biết.”

“Không sao đâu ạ,” Như Ngọc nói.

“Gần nhà họ có trạm điện thoại nào không? Những người trông trạm có báo tin hộ, hay có đi gọi các bà dì tới nghe điện không? Để Dì bảo Chú đưa cháu đến bưu điện để gọi đường dài nhé.”

“Chắc các bà không thích nghe điện thoại đâu ạ,” Như Ngọc nói. Họ cũng không thích nhận thư nữa. Hai lần một ngày, tại cổng vào tòa chung cư, những lá thư, bưu thiếp và báo lại được nhét vào một chiếc hộp gỗ sơn xanh. Những người sống ở đây, ngoại trừ Như Ngọc và hai bà dì, thường dừng lại chỗ này, lật chồng thư, đọc lướt qua các tiêu đề báo hoặc liếc trộm bưu thiếp của người khác - những tấm bưu thiếp màu nâu sáng có đóng dấu xanh lá biểu tượng của bưu điện, tốn ít chi phí gửi hơn thư và thường được ưa dùng hơn nếu sự riêng tư không phải là vấn đề. Một lần, khi còn học lớp một, háo hức vì mới biết đọc, Như Ngọc tò mò nhìn vào hộp thư. Lá thư xếp trên cùng là dành cho một gia đình ở tầng ba, nhưng ngoại trừ điều đó ra, cô hầu như không nhìn được gì khác nữa. Vừa lúc đó, bà dì nhỏ, vô tình đi lên cầu thang phía trước mặt cô, thấy vậy liền dừng lại nhìn Như Ngọc. Mắt bà không có vẻ trách móc, bà cũng không nói gì, nhưng ngay lập tức Như Ngọc hiểu rằng việc mình vừa làm vì sự tò mò vô thức là không xứng đáng với những điều các bà dì đã dạy. “Thực sự là không sao đâu ạ,” lúc này, Như Ngọc nói. “Họ sẽ viết thư cho cháu nếu thấy cần.”

Dì thở dài nói dĩ nhiên là Như Ngọc hiểu họ hơn rồi. Giọng Dì có vẻ bất lực, nhưng Như Ngọc đã kế thừa niềm tin của các bà dì rằng con người ta, nhất là những người có đầu óc kém phát triển, thích nhìn bản thân mình vướng vào những dằn vặt chẳng đâu vào đâu cùng những băn khoăn vô nghĩa; cô không có từ nào để trấn an nỗi lo lắng của Dì cả.

Ông cụ, nãy giờ vẫn thở khó nhọc trong bóng tối chập choạng, bắt đầu tỏ ra sốt ruột. Một tiếng gầm gừ sâu trong cổ họng có nguy cơ trở thành sự phản đối đầy giận dữ. Dì bật bóng đèn huỳnh quang mười oát treo từ trần nhà xuống trên hai sợi dây bằng kim loại; ánh sáng khiến căn phòng trống trải, người sử dụng nó, và hai vị khách đều mang một vẻ nhợt nhạt đáng sợ. Dì lấy mu bàn tay thử nước tắm cho ông, có lẽ là khá lạnh - nhưng nếu nhiệt độ nước không được hoàn hảo lắm thì cũng có gì khác biệt đâu chứ? “Bây giờ thì cháu hãy ra ngoài chơi với bạn đi,” Dì nói. “Để dì tắm cho ông, kẻo ông lại nổi cáu với dì bây giờ.”

Như Ngọc nhìn vào mắt ông cụ một lần nữa trước khi rời đi, cố gắng tìm kiếm một sự đồng cảm mà cô mường tượng rằng có ở đó. Cô tin rằng ông, cũng như chính bản thân cô, đều thấy thương hại cho Dì, những cuộc trao đổi giữa Dì và Chú thường chỉ là một chiều, vì Chú chỉ gật đầu hoặc lầm bầm đồng ý mà không đáp lời lại bao nhiêu. Khi Dì nói chuyện với con gái, thì Tiểu Ái thường đáp rất gắt gỏng - nếu như cô có trả lời - nhưng dường như Dì tỏ ra cam chịu hơn là phật ý vì sự cáu kỉnh của Tiểu Ái. Như Ngọc nghĩ thầm vậy thì tại sao lại phải nói khi những người mà ta nói chuyện cùng lại là những bức tường vô cảm hoặc những khoảng trống vô cùng?

“Đôi khi chúng ta băn khoăn,” Dì nói với ông sau khi nghe tiếng cánh cửa nhà đã đóng đằng sau Như Ngọc, “con bé đó sẽ ra sao nếu bố mẹ con bé bỏ nó ở nhà trẻ mồ côi nhỉ.”

Ông cụ nằm yên lắng nghe. Giờ đây, khi ngôn từ đã bị khóa chặt vùi sâu bên trong con người mình, ông lại thích nghe tiếng con dâu nói chuyện. Dì biết thế, vì vào những ngày Dì không có tâm trạng nói chuyện, ông sẽ trở nên cáu bẳn. Trước đây, ông ra mặt coi thường cái sự lắm lời của Dì, dù rằng trong cuộc sống vợ chồng trước kia, ông cũng chính là người hay nói. Chị không nói thì có ai bảo chị là câm đâu - ông thường bảo con dâu như vậy, nhiều lần ông kể với hàng xóm rằng con trai ông đã vô phúc rước một người bị bệnh lao ngôn về làm vợ. Nhưng người vợ lặng lẽ, nhẫn nhục của ông đã qua đời từ lâu, ba người con gái thì đã lập gia đình và còn mải lo cho gia đình bên chồng, con trai ông vốn kế thừa tính ít nói của mẹ, lại là một người bầu bạn đáng chán, vì chỉ biết tắm rửa và cho bố ăn trong im lặng. Đôi khi Dì còn cảm thấy thích thú như hả hê rằng mình đã không để cho ông bố chồng bắt phải ngậm miệng. “Con biết, con biết,” lúc này Dì nói. “Nghĩ như thế cũng chẳng ích gì. Nhưng chẳng lẽ bố không muốn thấy một đứa bé như nó được bình thường hơn một chút nữa hay sao?”

Ông cụ ú ớ gì đó trong cổ họng, ra chiều không đồng ý.

“Bố thích nó cứ như thế là đúng rồi. Có đứa trẻ nào lại kiên trì mà ngồi đây mãi với bố đâu?” Dì cởi áo lót cho ông cụ để lau phần thân trên, cẩn trọng không di quá mạnh tay lên lớp da đã chết một nửa hay làm đau những phần xương trồi lên làn da. Tuy nhiều năm làm tâm điểm cho những lời mỉa mai, nói kháy của bố chồng, Dì vẫn mến ông cụ, thấy gần gũi với ông hơn là với mẹ chồng: những người ít nói luôn khiến Dì vừa thấy sợ hãi vừa thấy hoang mang khó hiểu. “Mà cố nhiên là mấy bà dì của nó cũng thích con bé như thế rồi. Họ còn chẳng bận tâm xem nó ra ngoài thì sống chết ra sao, vì họ có đời nào chịu ra ngoài mà chứng kiến cảnh đó. Cũng như bố đã làm hư con bé Tiểu Ái ấy, bây giờ thì người chịu hậu quả là con đây này.”

Ông cụ nhắm mắt lại, nhưng Dì biết ông đang nghe.

“Sao nào, bố không muốn nghe à? Bố nghĩ Tiểu Ái lấy cái ý tưởng rằng nó được tự do không tuân theo nề nếp quy tắc từ đâu chứ? Bố không dạy con cái bố điều ấy, phải không nào? Bố dạy các con gái bố phải biết nghe lời kia mà,” Dì nói. Dì tự hỏi không biết liệu chính bản thân mình đây, một ngày nào đó có truyền những suy nghĩ tai quái như thế cho cháu mình không, để rồi chúng hợp nhau trở thành những kẻ chủ mưu chống lại bố mẹ của đứa trẻ, nhưng Dì vội xua ý nghĩ mỉa mai tương lai đó như xua một con nhặng không mời mà đến. “Bố đừng nghĩ con vô duyên vô cớ mà nặng lời như thế. Bố có nhớ lần gần đây nhất Tiểu Ái tới đây ngồi nói chuyện với bố là khi nào không? Con à, con thì nghĩ là cả bố lẫn con, và cả bố nó nữa, đều không tồn tại trong mắt nó kia. Là con hiếu cháu thảo à? Thực hiện nghĩa vụ của người con à? Với nó, đấy chỉ là những suy nghĩ ngu ngốc mà thôi.”

Ông cụ vẫn không chịu mở mắt. Dì cởi quần ngoài và quần lót của ông, rồi nhẹ nhàng lau vùng bẹn cho ông, vừa lau vừa nín thở. Khi xong việc, Dì báo với ông rằng bây giờ Dì sẽ xoay người ông cụ lại. Ông vẫn lặng yên, Dì thấy những vệt ươn ướt do nước mắt để lại khi chảy từ khóe mắt tới hai bên thái dương. Dì chùng lòng xuống một chút, nhưng nỗi chán chường lại ngay lập tức lẻn vào. Dì bảo ông cụ hãy thôi đi; ủy mị có giúp được gì cho ai đâu. “Bố đừng có cả nghĩ về chuyện ấy nữa. Chắc là kiếp trước chúng ta đã đắc tội với Tiểu Ái, nên giờ nó mới đến đây để bắt chúng ta phải chịu đựng. Ai mà biết được chứ! Kiếp trước chắc bố gia ơn cho Như Ngọc nên bây giờ nó mới quan tâm tới bố,” Dì nói. “Mà con bé chắc kiếp trước cũng tích phước, thì nó mới được mấy bà dì chăm lo đến tương lai cho, chứ không đến nỗi phải ở trại trẻ mồ côi.”

Nhưng đó sẽ là tương lai như thế nào, Dì băn khoăn, khẽ lắc đầu trong khi luồn tay xuống bên dưới hai chân ông cụ, người ông cứ ngày một nhẹ tọp đi. Dì ước giá mà có ai đó ngoài chồng và hàng xóm, để Dì có thể kể về các bà dì của Như Ngọc, nhưng với họ, hai người phụ nữ đó chỉ là họ hàng xa của Dì. Chưa ai được Dì kể cho biết rằng mình đã từng được mai mối và lẽ ra có thể trở thành em dâu của họ.

Hai chị em họ là con vợ ba của một thương gia buôn lụa thành đạt. Người mẹ qua đời khi sinh cậu con út, vậy là hai người chị, khi đó mới lên mười và mười hai, gần như vừa phải tự nuôi em lại vừa phải đấu tranh, mà không có sự che chở của mẹ, để giữ gìn địa vị trong cái đại gia đình đó, trong khi bốn bà vợ khác cùng mười lăm đứa con của họ lúc nào cũng gườm ghè nhau hòng lôi kéo sự quan tâm và của cải về mình. Khi ở tuổi thiếu niên, họ đã cải đạo sang Công giáo, và Dì có lần ngờ rằng Nhà thờ, do có liên hệ với phương Tây và giới chức bên trên chính quyền sở tại, đã tạo ảnh hưởng có lợi nào đó cho họ trong cuộc giành giật nội bộ gia đình. Khi người em trai được mười lăm tuổi, hai chị em họ đã tự lập được và cùng với người em trai chuyển về quê mẹ sinh sống. Không ai biết họ xoay xở chuyện đó ra sao, chỉ biết rằng khi họ về làng - hai bà cô độc thân rủng rỉnh tiền nhưng không có cơ hội lấy chồng, cùng một chàng trai khôi ngô, có học hành đàng hoàng nhưng nội tâm quá tinh tế đối với cuộc sống ở nông thôn - dân làng nhìn họ bằng con mắt vừa ngờ vực vừa nể sợ. Không lâu sau, cậu em được gọi nhập học vào một học viện quân sự ở thủ đô, nhưng trước khi cậu đi, hai người chị đã thu xếp hứa hôn cho cậu với một người họ hàng cách hai đời.

Đến bây giờ, thi thoảng Dì vẫn băn khoăn không hiểu tại sao trong số các chị em gái và họ hàng của mình, Dì lại là người được chọn. Ở tuổi lên chín khi ấy, Dì không phải là người xinh đẹp nhất, cũng không thuộc diện khéo khâu vá nhất. Việc chuyển chỗ ở, với một bọc quần áo nhỏ và một chiếc gối, sang nhà hai chị em họ ở đầu làng bên kia không phải là một sự thay đổi khó khăn gì - rồi ra Dì sẽ sung sướng vì sự may mắn này ấy chứ, bố mẹ Dì đã giảng giải cho con gái như thế. Nhìn gương bạn bè đồng lứa, những người đã bị gả sang các làng khác, Dì biết rằng mọi chuyện lẽ ra còn có thể tồi tệ hơn nữa. Với một số đứa trẻ, phải sống cùng người lạ có thể là chuyện khó khăn, nhưng trong đám bạn bè, Dì vốn nổi tiếng là người vui vẻ và trơ lì vào hạng nhất. Dì chưa một lần phải buồn rầu với những người bảo trợ mới của mình. Tuy họ với Dì có phần nghiêm khắc, nhưng đối xử công bằng, và nhất là đã dạy chữ cho Dì, để sau này Dì mới có thể quyết định vào trường đào tạo y tá.

“Quý nhân đãi kẻ khù khờ,” Dì lầm bầm nói về số phận kỳ lạ của mình khi chợt quay trở về với thực tại. Phía ông cụ, có lẽ đây là những lời nói vô nghĩa, nhưng Dì thấy thoải mái hơn khi dẫn những câu danh ngôn của người khác trong lúc chính bản thân mình đang cảm thấy bối rối. Cuộc hứa hôn của Dì với chàng trai trẻ kia kéo dài năm năm, suốt thời gian ấy Dì chỉ gặp vị hôn phu của mình hai lần vào dịp anh được nghỉ ở trường: không lâu sau khi tốt nghiệp, anh nhập ngũ làm pháo binh nhưng rồi phải chạy trốn sang Đài Loan khi phe anh bị thua trong cuộc nội chiến.

So với hai người chị gái, sự mất mát của Dì đâu có đáng gì, dẫu rằng một số người già trong làng đã lắc đầu thương cảm cho số phận của Dì, chưa cưới đã thành cô quả. Khi thấy rõ sự chia cắt với Đài Loan có thể kéo dài đến suốt đời, hai người chị gái bảo rằng việc Dì ở cùng với họ bây giờ là vô nghĩa. Không muốn bám víu họ, nhưng lại không thể dặn lòng đừng coi mình là một phần trong cuộc sống của họ, Dì tiếp tục cuộc sống mới nhưng chưa bao giờ hoàn toàn quên hẳn họ, vốn cũng là điều mà họ chờ đợi ở Dì. Mỗi năm một lần, Dì lại viết thư cho họ; sau khi lập gia đình và tiếp đến là sau khi Tiểu Ái ra đời, Dì lại gửi kèm một bức ảnh chụp gia đình mình trong lá thư gửi họ hằng năm. Họ cũng gửi cho Dì những lá thư lịch thiệp kèm những lời chúc phúc dành cho Dì và gia đình, tỉ mỉ kể lại những thay đổi diễn ra trong cuộc sống của họ - về việc họ mới chuyển lên thành phố ở tỉnh sinh sống và tham gia vào một nhà máy sản xuất khăn thêu lụa trong vùng để được gia nhập vào tầng lớp lao động, về việc họ nghỉ hưu, và một năm sau đó, việc họ phát hiện ra một đứa bé sơ sinh bị bỏ lại trước cửa nhà. Những năm tháng Dì ở cùng họ, trong đó Dì nửa làm em dâu, nửa làm người giúp việc, đổi lại, họ dạy học cho Dì, chưa một lần được nhắc đến trong những lá thư, và người đàn ông đã gắn bó họ với nhau cũng không được đề cập. Một lần, vào năm thứ sáu của cuộc Cách mạng Văn hóa, một vị cán bộ tỉnh làm thanh tra lưu động, vốn là những người có quyền năng đáng sợ, tới bệnh viện đòi nói chuyện với Dì. Ông ta muốn biết liệu Dì có nghe tin tức gì về người em trai đã bỏ trốn khỏi Trung Quốc của hai người phụ nữ đó chăng, không quên nói rằng đây là chuyện lớn, có dính líu đến một số gián điệp Đài Loan hoặc Mỹ. Dì nói mình không biết gì cả; việc nói dối một người lạ không khiến Dì dằn vặt bằng việc Dì quyết định không nói với chồng và gia đình nhà chồng về cuộc viếng thăm của người lạ mặt đó: một bí mật nhỏ khi bị giữ kín quá lâu có thể lan rễ quá rộng. Dì bị mất ngủ một thời gian, vì hai người chị em gái và phần tuổi thơ của Dì ở bên họ lúc đó đang choán hết tâm trí Dì, cuối cùng Dì đành phải uống thuốc ngủ để xua những ký ức cũ đó đi.

Dì không biết hai người phụ nữ đó đã làm thế nào để có thể yên ổn vượt qua nhiều đợt cách mạng như vậy - mà ai dám chắc rằng họ yên ổn chứ? Trong thư họ không kể lể khó khăn gì, và sau một thời gian, khi thấy họ vẫn đều đặn viết thư mỗi năm một lần, Dì thấy mừng rằng họ không bị bắt vào nhà tù nào đó và bị bỏ mặc cho đến chết. Có lẽ Chúa Trời của họ đã thực sự ra tay che chở để họ được an toàn trong một thế giới đầy thù địch. Khi Dì tới ở với họ, lúc đó đã không còn nhà thờ trong làng để đi lễ nên họ tự thực hiện các nghi lễ riêng; hai lần một năm, họ lại tới gặp vị linh mục già, nhưng hẳn là Chúa Trời của ông này đã không bảo vệ cho ông được đến nơi đến chốn, vì ông bị chính quyền mới xử tử vào khoảng năm 1949 với tội danh là phần tử phản cách mạng. Những điều mà hai chị em họ dạy Dì về đức tin của họ được Dì tiếp nhận phần nào như một sự mê tín dị đoan, vì vậy mà trong thâm tâm Dì không bao giờ phủ nhận khả năng tồn tại một vị thần ở trên trời. Cứ tưởng tượng mà xem, Dì có thể đã được họ cải đạo cho lắm chứ, nếu vị hôn thê của Dì không bỏ chạy khỏi Trung Quốc; cứ tưởng tượng mà xem, ngoài việc làm vợ một sĩ quan Quốc Dân Đảng, Dì có thể đã trở thành một phần tử phản cách mạng vì theo đạo lắm chứ!

Cứ nghĩ miên man như vậy cũng chẳng ích gì. Dẫu vậy, vừa cài khuy áo và đắp chăn cho ông cụ, Dì vừa thầm ước rằng giá mà mình có thể nói cho ông biết rằng ông đã may mắn khi đang được Dì chăm sóc như thế này, rằng Dì sẽ là người đưa tiễn khi ông rời bỏ thế giới này. Lẽ ra Dì đã lấy một sĩ quan Quốc Dân Đảng trẻ tuổi và khăn gói đi khỏi đất nước cùng chồng; các anh chị em và họ hàng của Dì có thể đã bị tra khảo trong cuộc Cách mạng Văn hóa, và có thể họ sẽ nghĩ mình không may khi có một người chị em là kẻ thù của dân tộc như thế. Lẽ ra con đã trở thành một người khác rồi kia - Dì định nói điều đó với ông cụ, nhưng ông đã buồn lòng một lần trong buổi chiều nay rồi. Dì vuốt nhẹ lên má ông, bảo ông nằm nghỉ đợi Dì mang bữa tối vào sau.

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của yiyun li