Chốn Cô Độc Của Linh Hồn

Lượt đọc: 382 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 7

Người chết chưa khuất hẳn khi cuộc ra đi của họ còn chưa được thừa nhận. Lần đầu tiên, Bá Dương nghĩ đến sự cần thiết của một đám tang. Anh đã từng tham dự một vài đám, tất cả đều được tổ chức ở mức linh đình thái quá, những khi ấy anh đều cười khẩy vào những cử chỉ tôn thờ con người. Nhưng bây giờ anh nhận ra rằng tang lễ không phải để phục vụ cho sự phù hoa của người chết. Người chết đã đi rồi, người sống cần những nhân chứng - sự cần thiết này ở các đám tang còn lớn hơn so với đám cưới. Trong những dịp này, cả niềm hạnh phúc và nỗi đau khổ đều nổ tung như pháo hoa: hạnh phúc nếu không được trưng ra, giữ lại một vài giá trị cho sau này, thì nỗi đau khổ nuốt vào trong chỉ trở thành độc dược.

Cả Mạc Lan và Như Ngọc đều không hồi âm email của Bá Dương, nỗi trống trải nơi anh bị bỏ lại trong sự chờ đợi, dẫu rằng anh không muốn thừa nhận nó, đe dọa sẽ làm gia tăng thêm gánh nặng cho cái chết của Tiểu Ái. Đầu óc mày để đi đâu rồi, Bá Dương tự hỏi mình; có cần phải treo biển phát lệnh truy nã không, và số tiền thưởng là bao nhiêu? Nhưng không như kỳ vọng của anh, sự tự trào không giúp làm vơi đi nỗi bồn chồn. Cái chết, khi phải chịu đựng một mình, sẽ trở thành thứ bệnh kinh niên mà người ta phải giấu khỏi những người khác.

Một tuần trôi qua, Bá Dương không đến thăm Dì như đã hứa. Nếu Dì hỏi về Mạc Lan và Như Ngọc, anh sẽ không có tin gì mới để kể cả; mà liệu Dì có hỏi? Nhưng có lẽ không phải anh muốn tránh né câu hỏi, anh chỉ đang sợ cái im lặng thế chỗ nó mà thôi: nếu Dì không nhắc đến Mạc Lan và Như Ngọc, anh sẽ càng cảm thấy cô đơn hơn, giận dữ hơn. Mẹ anh sau cuộc nói chuyện đó dường như đã thôi tò mò rồi, nói lại chuyện này với bà thì thật không khôn ngoan chút nào. Dĩ nhiên, bà sẽ không phiền khi thấy anh quay lại chủ đề này như một con cá đang lưỡng lự bơi quanh một miếng mồi; biết đâu chừng bà đang chờ điều đó xảy ra ấy chứ, với sự khôn ngoan của một người đi câu.

Một buổi chiều, Bá Dương ngồi nghĩ, tại sao trong số bao nhiêu người đã chen chúc nhau mà xuất hiện trong cuộc đời anh, những người duy nhất anh không thể thôi nghĩ đến lại là những người bấy lâu nay vẫn trung thành với lời thề vắng mặt của mình? Sự im lặng đã trao cho họ một thứ quyền lực nào đó đối với anh, nhưng con người ta, trừ phi bị buộc phải im lặng, hẳn đã lựa chọn nó chỉ vì muốn sở hữu thứ quyền lực đó. Biến mất là một mẹo cổ xưa; dẫu nó vẫn phát huy tác dụng đối với con tim biết bao đời: phải chăng chúng ta sẽ không bao giờ có thể thoát khỏi đứa trẻ đó trong con người mình, đứa trẻ mà vì sợ sẽ không bao giờ được nhìn thấy một khuôn mặt thân thương lần nữa nên vẫn còn gào thét đến tận ngày nay?

Bá Dương uể oải lướt qua danh bạ trên điện thoại di động và thử nghịch với ứng dụng mới, cho phép gắn biểu tượng vào các số liên lạc khác nhau. Với cánh nam giới mà anh có thể khề khà rượu chè và kể cho nhau nghe những câu chuyện cười tục tĩu, anh đặt biểu tượng ly rượu hoặc một thân hình nữ giới với những đường cong; còn những người phụ nữ mà anh không ngần ngại vuốt ve sờ soạng trong một căn phòng karaoke tối om, anh đặt biểu tượng thỏi son môi. Khi đến tên Coco, anh ngập ngừng rồi nhìn lên cô, lúc này đang tựa vào tay nghỉ của một chiếc ghế mím môi nhìn anh. Trước đó cô hỏi, chẳng lẽ anh không nhớ là họ đã lên kế hoạch đi gặp mặt các bạn bè cô ở một quán karaoke để tổ chức sinh nhật cho cô hay sao? Bá Dương cũng đã trả lời rằng anh không có tâm trạng ra ngoài vào lúc này, kèm theo nhận xét rằng thật lố bịch khi tổ chức sinh nhật sớm những một tuần; em nghĩ mình là ai chứ, Bá Dương hỏi, Chúa Jesus hay Nữ hoàng Anh quốc?

“Chẳng phải em sẽ bị muộn sao kìa?” anh nói. Bá Dương biết anh đã đồng ý sẽ đi cùng cô tối đó, vì nghĩ rằng một nhóm các cô gái choai choai vô tâm vô tư trong một nơi chốn ồn ào sẽ là liều thuốc giải hoàn hảo cho sự im lặng. Nhưng xin lỗi để mà làm gì chứ: một gã đàn ông khi không thể tự giải thoát mình khỏi sự thương hại của người khác thì phải tìm kiếm sự cân bằng nào đó trong những kẻ trông chờ vào sự thương hại của anh ta.

Coco, với giọng nói khô khốc, hỏi công việc của anh có ổn không. Anh có muốn cô pha một tách trà hay massage cho không?

Anh nói điều mình cần nhất lúc này là một chút không gian để thở và suy nghĩ - xin em đấy, đừng khóc lóc, đừng hỏi han, anh nói thêm rồi lún người sâu hơn vào chiếc sofa.

Anh không phải là một diễn viên giỏi, vai kẻ thô lỗ anh vừa đóng cũng không thuyết phục hơn là mấy so với vai đứa con ngoan ngoãn mà anh đóng trước mặt mẹ, mà sự quan tâm của bà dành cho anh, ngoài tình mẫu tử, đang tiêu tán dần. Nếu Coco có được sự khôn ngoan của mẹ anh, hẳn cô đã dễ dàng đánh hỏng vai diễn của anh bằng sự ngờ vực đầy mỉa mai rồi, nhưng Coco lại không dám đi chệch khỏi kịch bản của mình, trong đó cô là một phụ nữ trẻ trung, xinh đẹp xuất thân từ một thị trấn tỉnh lẻ, không thể tìm kiếm tình yêu trong cái thành phố rộng lớn này, nhưng bằng sự ranh mãnh của mình, vẫn có thể đạt được nhiều thứ khác. Cô trườn khỏi tay dựa của chiếc ghế nhẹ nhàng như một con mèo ủ rũ. “Vậy anh có muốn em gọi anh ngày mai không?”

Câu hỏi đó, Bá Dương biết tỏng, được đặt ra trong sự hy vọng rằng anh sẽ bảo cô ở lại với anh đêm nay. Coco sống trong một căn hộ hai phòng ngủ tại một chung cư cũ nát cùng với ba cô gái khác cùng tuổi. Cô là người đầu tiên trong đám kiếm được người yêu có căn hộ tử tế trong thành phố; hai cô gái kia cũng sớm theo gương cô, nhưng cả ba người vẫn thuê nhà, vì rằng những lời mời họ tới ở các tổ ấm thứ hai đó chỉ có giá trị chốc lát. Người bạn cùng phòng duy nhất không thành công theo cách của những người còn lại, Coco cho biết, thì tuy xinh xắn nhưng lại ngờ nghệch: cô ta đang hẹn hò với một cậu trai trạc tuổi họ, không có gì trong tay ngoài một công việc cấp thấp ở một hãng quảng cáo. Ba cô gái còn lại thi thoảng cũng hào phóng cho phép chàng trai đó được ngủ qua đêm trong căn hộ họ thuê. Bá Dương băn khoăn tự hỏi không biết ngày hôm nay có thế không. Anh chưa tới căn hộ của Coco, nhưng có thể dễ dàng mường tượng ra chỗ đó, nơi mà các cô gái, khi cần thiết, lại rút lui vào trong góc của họ, kéo rèm che và một mình chăm sóc cho những vết thương của kẻ bị thế giới lợi dụng; nhưng chắc chắn họ sẽ lấy lại được tinh thần và lại xuất hiện đầy vẻ tươi mới, như thể đó là vai mà họ phải diễn vậy. Cuộc sống là một cuộc chiến mà những kẻ yếu ớt hơn không có được cái xa xỉ của việc bỏ cuộc giữa chừng.

“Ừ, mai gọi anh nhé,” anh nói rồi chúc Coco có một buổi tối vui vẻ.

Coco chật vật đi bốt rồi đeo găng tay ở cửa, còn Bá Dương, từ chỗ ngồi của mình, bỏ qua cái sự nghĩa hiệp của đàn ông mà thích thú nhìn cô lóng ngóng, cảm thấy mình không đủ thiện ý để ngỏ lời giúp. Gửi Coco trở về căn hộ chật hẹp, nơi một cặp uyên ương trẻ, không có chút tương lai khả dĩ nào trong thành phố này, quấn quít lấy nhau để hưởng một đêm của sự khoái lạc nhỏ nhoi, là dạy cho cô một bài học về cuộc sống, dù rằng đó là bài học mà cô đã hết lần này đến lần khác không chịu học. Một tuần trước khi bước sang tuổi hai mươi mốt, vậy mà Coco đã có những dấu hiệu của sự mệt mỏi, một sự mệt mỏi sâu sắc hơn những gì có thể được xoa dịu bằng một giấc ngủ đầy đủ hay được che đậy bằng trang điểm.

Bá Dương gặp Coco hai năm trước trong một bữa tiệc. Cô nói với anh mình vừa đăng ký học ở trường dạy trang điểm; mục tiêu của cô là tìm kiếm một vị trí trợ lý trang điểm trong một studio chụp ảnh cưới nào đó, rồi khi đã có kinh nghiệm, sẽ chuyển sang làm trong lĩnh vực phim ảnh hay truyền hình. Anh có biết nhà sản xuất nào không, cô hỏi Bá Dương, rồi khi anh lửng lơ trả lời rằng có lẽ là có, thì từ lúc đó cho tới khi tan tiệc, cô bám cứng lấy anh. Ai trả tiền học phí cho em, anh hỏi, cô nói bố mẹ cô, nhưng cô đã nói dối họ rằng mình đang học chương trình đào tạo y tá. “Ai mà muốn khi lớn lên mình lại đi chăm sóc cho những người già cả, ốm yếu chứ!” Cô vừa nói vừa nhăn mũi như trẻ con.

Em muốn làm gì khi trưởng thành, thi thoảng Bá Dương muốn hỏi Coco câu đó, nhưng chuyện này không phù hợp với vai trò của một sugar daddy : Anh không nên cảm thấy mình có trách nhiệm cho tuổi thanh xuân lầm đường lạc lối của cô. Bá Dương vừa thầm xua đuổi ngay những ý nghĩ này trong đầu vừa vẫy tay chào tạm biệt Coco, còn Coco, dẫu vẫn đang rất giận dỗi, cũng không quên gửi cho anh một chiếc hôn gió - một chiếc hôn, thật đáng buồn, mà cô không biết rằng vừa rơi vào thinh không trong cái thế giới thờ ơ lãnh đạm này.

Bá Dương thấy may vì đã không có đứa trẻ nào ra đời trong cuộc hôn nhân thất bại của mình. Nếu có, chắc anh sẽ không thể bảo bọc cho con mình khỏi sự hãm hại của thế giới, trừ phi anh dạy nó phải là người đầu tiên gây ra nỗi đau khổ; anh cũng sẽ phải nỗ lực thành đạt hơn nữa trong kinh doanh, để con anh có thể có cơ hội ít nhất là trở thành một con người tử tế mà không bị kẻ khác giẫm đạp lên. Nhưng với Bá Dương, việc hình dung rằng một đứa trẻ con của anh - là một người tốt thì cũng đáng thất vọng như việc hình dung rằng đứa trẻ ấy độc ác. Dĩ nhiên, giữa tốt và xấu là cả một khoảng cách lớn, nhưng liệu một người có thể vừa tàn nhẫn vừa tử tế không - đủ tàn nhẫn để miễn nhiễm trước những nỗi đau do người đời gây ra, nhưng đủ tử tế để được cứu rỗi khỏi những sự trừng phạt từ những đấng linh thiêng vì sự tàn nhẫn đó?

Bá Dương không hề giấu bố mẹ việc anh không thích có con, theo như anh được biết thì họ chấp nhận chuyện đó: chị gái anh - vừa khéo đáp ứng tiêu chuẩn của bố mẹ - đã cho ra đời một cặp song sinh tuyệt vời rồi. Anh tự biết tham vọng của mình chỉ vừa đủ để mang lại cho bản thân một cuộc sống thoải mái và cho phép anh được ở gần bố mẹ khi họ về già. Anh không cảm thấy mình bị mắc kẹt ở đâu đó giữa nấc thang sự nghiệp; có chăng anh còn thấy mình may mắn vì thành tích luôn biết làm đúng việc vào đúng thời điểm. Anh tạm nghỉ năm thứ hai đại học để mở một công ty in ấn khi mà lĩnh vực in kĩ thuật số mới xuất hiện ở Trung Quốc; sau khi tốt nghiệp, anh dành mấy năm phát triển một phần mềm đưa các ký tự Trung Quốc vào máy tính, sau đó bán lại cho một công ty lớn khi anh bắt đầu chán lập trình; anh tham gia vào thị trường chứng khoán và bất động sản sớm hơn so với những người đồng trang lứa, và bây giờ, với một dự án phát triển bất động sản đứng tên anh cùng hai mảng kinh doanh khác không liên quan gì đến nhau mà anh đang tài trợ - một trang trại trồng hoa oải hương theo phương pháp hữu cơ ở ngoại ô thành phố, gần đó là dãy nhà nghỉ dưỡng một tầng dành cho các cư dân đô thị hợp thời thuê, và một quán bar Oxygen ở quận thương mại trong trung tâm thành phố, bán không khí cô đặc nhập khẩu từ Nhật Bản với giá cao cho những ai có đủ điều kiện để hưởng thụ sự trong lành của nó - Bá Dương cảm thấy mãn nguyện rồi. Anh có thể hình dung mình trèo thêm vài nấc thang nữa, song anh không cảm thấy một sự thôi thúc nào rằng mình phải ở một vị trí khác bây giờ: việc sống có mục đích, theo anh, đã bị thổi phổng quá trớn. Đối với một người đàn ông ở vào địa vị như anh, Bá Dương không có thói quen xấu tiềm ẩn nào: anh uống rượu nhưng không quá nhiều; không chơi ma túy; cặp kè với một cô gái mà anh có thể dễ dàng từ bỏ; không quan tâm đến bất kỳ điều gì có dính líu đến chút lý tưởng nào đằng sau nó - anh đã từ chối tài trợ cho một nhóm làm phim tài liệu về xã hội, và anh cũng không cắn câu khi một nghệ sĩ gọi là độc lập liên hệ để xin tài trợ cho một dự án nhiếp ảnh chụp các nam thanh nữ tú khỏa thân trong các tư thế ngả ngốn ở các khu công nghiệp bị ô nhiễm nặng nề.

Một tiếng bíp báo hiệu có tin nhắn, từ Coco. “Anh đừng có ra ngoài tìm cô khác đấy”, tin nhắn viết, tiếp theo là một biểu tượng mặt cười lớn, rồi một biểu tượng mặt cau có, và một tràng nụ hôn.

Coco đáng thương, đã kịp học được cách biến mọi thứ thành trò đùa ở độ tuổi mà việc sống lẽ ra phải là một việc nghiêm túc hơn với cô. Khi bằng tuổi Coco, cô gái mà Bá Dương hẹn hò ngày ấy, người sau này sẽ trở thành vợ anh rồi thành bồ nhí của người khác, vẫn tin vào tình yêu và sự chung thủy. Ít ra Bá Dương cũng có thể thừa nhận rằng vợ cũ của anh có quyền tự cười vào quá khứ của mình, vì cô đã trải qua đầy đủ các giai đoạn từ mơ mộng, thức tỉnh, và thất vọng trước một thế giới vốn không bao giờ chịu đáp ứng những kỳ vọng của một người trẻ. Còn Coco thì có thể cười cái gì trong mười hay hai mươi năm nữa - những trò đùa ngớ ngẩn của cô ư? Hay tệ hơn, liệu cô có phải liên tục bận tâm vào những thứ đáng cười ở người khác, để không còn chừa ra giây phút nào mà chiêm nghiệm về sự ngu ngốc của chính mình? Bá Dương không tin rằng Coco đang hướng tới một tương lai hứa hẹn, nhưng anh không có quyền gì can thiệp cả. Bản thân anh sẽ không có mặt trong cái tương lai ấy, và bên cạnh đó, anh không phải là đấng cứu rỗi của cô.

Sau ly hôn, vợ cũ của anh đã hối hận rất nhiều. Anh may mắn vì đã không yêu cô đủ sâu đậm, nhưng còn may hơn nữa khi đã chu cấp hơn cả mức đủ đầy: căn hộ mà anh để lại cho cô, trừ khi thị trường bất động sản thành phố sụp đổ hoàn toàn, đủ để mang lại cuộc sống sung túc khi cô lâm vào cảnh khốn khó, và nội điều đó cũng đã giải phóng cho anh khỏi mọi nỗi dứt day rồi. Bá Dương không bận tâm chuyện bị coi là kẻ đểu cáng, nhưng rõ là anh muốn tránh gây đau khổ không cần thiết cho người khác. Hẳn là khi đó anh cũng thích, như người xưa vẫn nói, được là một kẻ cướp có nguyên tắc.

Giờ đây, Coco lại vừa gửi một tin nhắn mới hoàn hảo làm sao. Vốn là cả ngày nay anh cứ đắn đo, suy tính cái thiệt hơn của việc gọi điện cho một người lạ - một cô gái bằng tuổi Coco, một cô gái thực sự. Nhưng bây giờ thì cái tin nhắn này đến rồi, một lời thỉnh cầu ngụy trang thành một lời cảnh cáo nhưng với anh lại nghe giống một sự khích lệ hơn. Không chần chừ, anh gọi số của cô gái kia.

Sau bốn lần chuông reo, cô gái nghe máy, giọng trong điện thoại nghe trẻ hơn người thực. Anh chỉ nghe thấy giọng nói mỏng mảnh của cô; không có tiếng ồn xen vào. Cô đang ở đâu được nhỉ - trong cửa hàng bán đồ mỹ nghệ nhỏ vắng khách viếng thăm, hay đã hết giờ làm và đang hưởng một đêm yên tĩnh trong căn phòng trọ ở đâu đó? Bá Dương xưng tên và nói thêm rằng anh là người đã tới cửa hàng vào ngày hôm trước và mua một chiếc diều hình song long theo lời cô giới thiệu. “Có lẽ hôm qua cô đã bán nhiều diều,” anh nói. “Nhưng tôi là một trong những người được cô thuyết phục mua một chiếc.”

“Không, tôi nhớ anh mà,” cô gái nói. “Hôm qua tôi chỉ bán được một chiếc diều thôi.”

“Hôm nay có bán được thêm không?”

“Không,” cô gái nói, giọng chùng xuống như có vẻ tiếc. Hoặc có lẽ cô chợt cảm thấy nghi ngờ về cuộc gọi này chăng? Ngày hôm trước, khi cô đi vào phòng chứa đồ để tìm một chiếc hộp đựng vừa con diều, Bá Dương đã chộp lấy điện thoại của cô ở quầy rồi bấm số gọi nhanh vào điện thoại của mình, thế nên anh mới có số của cô. Anh tự hỏi không biết cô có nhận ra điều đó không. Anh vẫn chưa biết tên cô.

“Ừm, nghe này, tôi gọi để hỏi xem cô có thích đi thả diều vào cuối tuần này không,” Bá Dương nói.

“Nhưng tôi không biết thả diều.”

Bá Dương chực nói, một người bán diều thì ít ra cũng phải giả đò là mình biết thả diều chứ. Anh định trêu rằng cô nên cung cấp gói dịch vụ hoàn chỉnh hơn, nhưng rồi quyết định rằng như thế e suồng sã quá, thậm chí là còn thô lỗ nữa. Theo như anh nhớ, cô gái không có vẻ hào hứng lắm với những sự khua môi múa mép thuộc bất kỳ hình thức nào. Anh cũng để ý thấy rằng cô có thói quen nhìn thẳng vào mắt người khác khi lắng nghe họ nói; đôi mắt cô, đen nhánh, ít khi mất tập trung khỏi đối tượng, tạo ấn tượng tức thời rằng cô là người ngây thơ và điềm đạm.

Không biết thả diều cũng không sao, anh nói. Anh rất thạo trò đó, chỉ cần một người phụ giúp thôi. Cô gái ngập ngừng nói mình không dám chắc. Cô đã nhận lời đi xem một cuộc triển lãm nghệ thuật với bạn vào thứ Bảy rồi.

“Triển lãm gì nhỉ?”

“Ồ, không có gì đâu,” cô nói, giọng nghe ngượng ngùng. Bá Dương băn khoăn tự hỏi cô không quen với điều gì - bị bắt quả tang nói dối, hay bị theo đuổi? “Đó chỉ là một triển lãm nhỏ về kiến trúc cổ đại, nên tôi nghĩ đến xem để phục vụ cho công việc thì cũng có ích.”

Hôm trước đó, sau bữa trưa với đối tác và trong lúc chờ đến giờ hẹn một cuộc gặp ở một quán bar gần hồ Tiền Hải, Bá Dương tản bước vào một con đường nhỏ ven hồ, nơi anh biết có một ngôi nhà cổ, nửa là bảo tàng, nửa là không gian bán lẻ, có quan hệ với một tổ chức đồ thủ công mỹ nghệ dân gian. Biết đâu đây lại là nơi hay ho để tìm món quà nào đó cho sinh nhật mẹ, vả lại, vốn đang đi lang thang để tiêu bớt hơi rượu trong bữa trưa, anh cũng không thể tìm ra cách nào khá khẩm hơn mà giết thời gian. Bá Dương không mấy quan tâm đến nghệ thuật dân gian cổ, mẹ anh cũng vậy, nhưng có lẽ bà đã có mọi thứ mà anh vẫn thường tặng rồi. Anh mơ hồ mường tượng cảnh tìm được cho mẹ một bản sao vô dụng nào đó bằng gốm về một nhân vật đời nhà Hán, hay một bộ thu nhỏ các thi sĩ ngồi uống rượu trong một yến tiệc nổi tiếng nào đó từ đời nhà Tấn, được chạm khắc tinh xảo từ các vỏ quả óc chó - điều mà mẹ anh sẽ trân trọng chỉ bởi vì anh đã dụng công tìm kiếm nó cho bà. Tình yêu đo lường bằng nỗ lực là thứ tình yêu duy nhất nằm trong khả năng của anh.

Cô gái bán hàng là người duy nhất có mặt trong cửa hàng khi Bá Dương bước vào, khi anh nói đang tìm quà, cô gợi ý anh đi một vòng xem khu trưng bày diều thủ công. Cô đã học thuộc lòng nguyên liệu làm diều và thi thoảng còn bảo anh lại gần để kiểm chứng chiếc diều này chiếc diều nọ, để cảm nhận cái tinh tế của những đôi cánh rồng trong suốt gắn trên một chiếc diều lụa có kích cỡ bằng lòng bàn tay, hoặc ngắm dòng thư pháp viết trên một con diều khác - những nét chữ phóng khoáng như đang nhảy múa mà nếu không nhờ cô gái nọ, có lẽ chẳng bao giờ Bá Dương có thể giải mã nổi. Anh lén nhét một thanh kẹo cao su vào miệng, cảm thấy ái ngại thay cho cô gái vì cứ phải giả đò như người anh không toát ra mùi rượu. Tóc cô gái không nhuộm, Bá Dương không thể nhớ nổi lần cuối cùng anh nhìn thấy màu đen tự nhiên như vậy trên tóc một cô gái. Tóc Coco nhuộm màu vàng ánh đỏ.

“Cô có tên trong số các nghệ sĩ kia không?” Bá Dương hỏi khi cả hai ra khỏi khu trưng bày, chỉ tay vào một tấm áp phích ghi danh treo trên tường, là danh sách các nghệ sĩ dân gian nằm trong tổ chức này.

Cô gái nói dĩ nhiên là không phải rồi. Tại sao không, Bá Dương hỏi, và cô trả lời rằng hầu hết các nghệ sĩ này đều là nam giới, họ xuất thân từ các gia đình nổi tiếng, các bí quyết gia truyền của họ phải tuân theo nguyên tắc cha truyền con nối - và trong một vài trường hợp hiếm hoi là bố chồng truyền lại cho con dâu - để giữ gìn sự thuần khiết của nghệ thuật. “Nguyên tắc ở đây là dạy cho con trai chứ không dạy cho con gái, dạy cho con dâu chứ không dạy cho vợ,” cô nói, có lẽ là dẫn lời trong sách học. Giọng cô nghe nghiêm túc một cách buồn cười và cô có vẻ rất tôn trọng nguyên tắc này.

“Thế tại sao cô lại ở đây, nếu họ không chịu tiết lộ các bí quyết của mình cho cô?”

Cô gái cho hay mình được thuê vì cô từng học lịch sử nghệ thuật cổ ở đại học. Bá Dương thấy cô chỉ là một cô gái bán hàng được học hành tử tế, anh cũng chắc chắn, qua cách ăn mặc và chiếc điện thoại di động lỗi thời, rằng cô không được trả lương hậu hĩnh cho lắm. “Nhận bằng lịch sử nghệ thuật rồi thì người ta làm gì nhỉ?” Anh hỏi.

“Không làm gì cả, thật đấy ạ,” cô nói, thoáng vẻ thất vọng. Cô cho biết thêm mình may mắn mới tìm được việc.

“Bây giờ các bạn cùng lớp cô đang làm gì?”

Đủ thứ nghề, cô nói, nhưng anh nhận thấy có vẻ cô không thích cuộc nói chuyện đi theo hướng đó. Có lẽ anh biết công việc mà các bạn cùng lớp cô đang làm rõ hơn cả cô: những người gia đình có quan hệ thì hẳn đã bước vào một giai đoạn khác trong cuộc đời, học vấn của họ là món đồ trang trí hoàn hảo trên lý lịch cá nhân; rồi còn có những người, như cô gái đang đứng trước mặt anh chẳng hạn, sẽ phải chọn con đường trở thành một Coco thứ hai, hay vẫn tiếp tục làm một cô gái bán hàng. “Thế sao cô còn đi học làm gì nếu ra trường không kiếm được việc tử tế?” Anh hỏi.

“Nhưng tôi thích lĩnh vực này,” cô gái nói, đột ngột ngẩng lên nhìn anh như thể đang ngạc nhiên lắm vì câu hỏi không liên quan này.

“Tôi hiểu rồi,” Bá Dương nói, dù thực ra anh chẳng hiểu gì. Có lẽ cô đã bị hỏi câu hỏi này vô số lần, từ bố mẹ và họ hàng; có phải đó là câu trả lời duy nhất cô có thể đưa ra?

Tiếng lò vi sóng kêu “ding” ở đâu đó cuối căn nhà, sau đó một cánh cửa mở ra rồi đóng sập lại. Anh tưởng tượng chuỗi ngày của cô, trôi qua trong một cửa hàng nằm ở nơi hẻo lánh và chưa từng được quảng cáo. Cô có nghĩ đây là một công việc cô độc, hay cô thích bầu bạn cùng các vật vô tri hơn là con người? Có lẽ cô không bận lòng lắm chuyện không có khách bước vào, nhưng cố nhiên là phải có người ghé qua rồi, một gã lười biếng như Bá Dương chẳng hạn, trong đầu không vướng bận gì hoặc đang suy nghĩ đủ thứ chuyện, hay những nhà nghệ sĩ già có tên trong danh sách kia, hẳn sẽ vừa nắm chặt đôi bàn tay đầy sức trẻ của cô mà dông dài kể về quá khứ huy hoàng của họ. Cô hình dung ra tương lai nào cho mình? “Biết đâu cô có thể làm con dâu của một trong số những người đó, rồi học bí quyết nghề,” Bá Dương nói. Cô là tuýp con gái được các ông già yêu quý đấy, nhẹ nhàng, lịch sự, hoặc gì đó, Bá Dương nghĩ thầm trong bụng.

“Nhưng tôi không muốn bị chôn chân trong một nghề,” cô gái nói với một thái độ nghiêm túc khiến anh nghĩ rằng mình hoặc là phải cười nhạo cô hoặc là cảm thấy thương hại thay cho cô. Nếu như anh không quá chén trong bữa trưa, nếu như anh không dạo bước trong những hoài niệm trên con đường ven hồ nơi anh thường đến chơi cùng Mạc Lan và Như Ngọc, hẳn anh đã chẳng để tâm đến cô gái này vì cho rằng cô thật ngớ ngẩn. Nhưng anh ấn tượng với sự ương bướng của cô, đủ ấn tượng để anh quyết định mua chiếc diều đắt nhất trong cửa hàng và sau đó là thực hiện cuộc gọi bí mật từ điện thoại cô đến điện thoại của mình để anh có thể mang đi thứ gì đó thuộc về cô.

“Nếu cô không thấy phiền, tôi có thể đi cùng cô và bạn cô tới cuộc triển lãm,” Bá Dương lúc này nói. “Rồi sau đó chúng ta có thể ra ngoài thả diều.”

“Nhưng bạn tôi không thích vậy đâu.”

“Ý cô là cô không thích?”

“Không, bạn tôi không thích có người lạ đi cùng chúng tôi. Có thể cô ấy muốn nói về những chuyện mà không muốn anh nghe.”

“Chủ nhật thì sao?”

“Tôi phải làm việc vào Chủ nhật.”

Có vẻ như đó là câu kết thúc cuộc nói chuyện giữa họ; Bá Dương cảm thấy cô gái như đang có ý chờ anh tắt máy. Anh không xác định được là cô cảnh giác hay bực mình vì cuộc gọi của anh, nhưng giọng cô không có vẻ gì là ngờ vực hay sốt ruột cả. “Tôi xin phép được biết tên cô được không?”

“Ngô Tư Tá.”

“Chủ nhật mấy giờ cô nghỉ làm?”

Cô gái ngập ngừng một lúc rồi nói 7 giờ.

“Tôi có thể đến gặp cô lúc đó được không?”

“7 giờ đi thả diều thì muộn quá.”

“Nhưng không quá muộn cho một bữa tối đơn giản - nếu cô chưa có kế hoạch gì?”

Cách Tư Tá đồng ý tức thì, không do dự, không tò mò, khiến Bá Dương có phần hơi thất vọng. Anh đã chuẩn bị sẵn tinh thần đón chờ một lời từ chối lịch sự, vốn cũng sẽ không ngăn anh bước vào cửa hàng đó vài phút trước khi đồng hồ điểm 7 giờ vào chiều Chủ nhật và thông báo anh đã đặt một bàn ăn trong nhà hàng gần đó, để phòng trường hợp cô đổi ý. Vốn đã quen với những sự thoái thác và lảng tránh trong các cuộc tiếp xúc - ít nhất là vào giai đoạn bắt đầu một cuộc chơi, dù là cuộc chơi liên quan đến tiền bạc hay phụ nữ - Bá Dương, như nhiều người khác, coi việc theo đuổi và bị theo đuổi là sự thẩm định duy nhất đối với giá trị một con người. Bị chệch khỏi quỹ đạo thông thường, anh không thể nghĩ được gì thêm để nói khi cô gái xác nhận thời gian và chào tạm biệt.

Bá Dương cố nhớ lại xem có biểu hiện nhiệt tình hay sẵn sàng nào đó trong giọng nói của Tư Tá không, để anh có lý do hủy cuộc hẹn ăn tối đó, nhưng không có gì cả. “Nhưng tôi thích lĩnh vực này,” anh nhớ lại khi cô nói câu đó và nhìn lên anh với sự bộc trực vừa rõ ràng lại vừa mơ hồ khó lý giải. Thật kỳ quặc, anh cảm thấy như thể mình vừa trở về với giờ học giáo dục thể chất hồi lớp hai, vào cái ngày cả lớp tập ném lựu đạn. Đến lượt Bá Dương, anh chăm chú kiểm tra dãy lựu đạn cầm tay, tất cả đều là mẫu lựu đạn cũ của Xô viết với thân gỗ và đầu bằng kim loại đen; anh cẩn thận chọn một quả rồi lấy hết sức ném. Khi đó anh là một cậu bé cao ráo, khỏe khoắn, anh hy vọng sẽ lập kỷ lục trong lớp với cú ném của mình, nhưng đầu kim loại, bị lỏng sau nhiều năm đem ra dùng để đào tạo trẻ em trở thành binh lính, rơi bịch ra sau lưng anh, còn phần thân gỗ đi theo một quỹ đạo đầy dè dặt trên không xoay xoay rồi rơi trước khi đến được mục tiêu dự kiến. Đó là lần đầu tiên Bá Dương hiểu ý nghĩa của từ vươn quá tầm , không phải ở phần vai bị trẹo khớp của một cậu bé tám tuổi, mà ở đâu đó bên trong anh, một sự khó hiểu đầy lạ lẫm, và đó cũng là điều anh cảm thấy lúc này: anh đã không biết - hoặc không có mong muốn biết - mình muốn gì khi thực hiện cuộc gọi đó, giờ thì dường như đã quá muộn để quay lại và tìm hiểu.

Bá Dương ước giá có ai đó bên cạnh mình lúc này để anh có thể vừa trò chuyện vừa nghĩ ngợi - không phải nghĩ về cô gái trên điện thoại mà về ký ức của lần ném lựu đạn hỏng đó. Không biết trẻ con bây giờ ném gì trong giờ giáo dục thể chất nhỉ, anh băn khoăn - bóng chày, hay một loại lựu đạn cầm tay nào đó trong hình dáng những chú angry bird ? Anh có thể hỏi Coco, nhưng cô sẽ biến nó thành một trò đùa về điều gì đó. Không, Coco không phải là người để chia sẻ ký ức ấy. Anh muốn ai đó nhìn ra được cái nghiêm túc đằng sau sự hỗn loạn tới chóng mặt đó: khi tai nạn đó xảy ra, cô giáo sợ xanh mặt, nhưng dù sao cũng may cho cô và mọi người khác, đầu kim loại của lựu đạn không đáp trúng đầu đứa trẻ nào; lũ trẻ trở nên phấn khích quá đà, như vừa bất ngờ vớ được ngày nghỉ từ trên trời rơi xuống; Mạc Lan, với vẻ lo lắng, khẽ khẽ vỗ vào cánh tay và vai anh để xem chấn thương nghiêm trọng tới mức nào, rồi đột ngột phá ra cười. Phải, anh muốn ai đó cùng xem quá khứ của anh với mình, những đứa trẻ trong những bộ đồng phục thể thao màu xanh da trời - thứ màu tệ nhất trong các gam màu xanh, không đủ sáng để có thể liên hệ với bất kỳ thứ gì hay ho, lại chẳng đủ đậm để tạo sự uy nghiêm; anh muốn ai đó cùng phá ra cười với người bạn thuở thiếu thời kia và với anh nhưng không phải là cười vào họ, những chú vịt con xấu xí, không biết số phận mình là gì, hồ hởi đón nhận mọi thứ đến với mình. Nhưng trên cả điều đó, anh muốn ai đó hiểu rằng một khoảnh khắc, dẫu là khoảnh khắc nhỏ nhặt, theo thời gian rồi cũng gom góp đủ sức nặng và ý nghĩa. Ngẫm lại, chẳng phải là phù hợp với anh quá hay sao khi vào vai vị anh hùng mà chiến tích thực thụ duy nhất là hy sinh bản thân mình, và những người xung quanh mình? Ý định làm điều tốt, ý định làm điều đúng à - ai có thể cầm chắc mà nói rằng chúng khác với những ý định gây hại, phá hủy chứ? Khi cho phép một người phụ nữ nằm liệt giường không chỉ tồn tại trong cuộc đời anh như một bí mật giấu kín gia đình, mà còn chi phối cách anh đối xử với cả thế giới - bằng con mắt thiếu tin tưởng và thái độ xa cách - anh đã đẩy người vợ cũ của mình vào vòng tay người đàn ông khác. Quay lưng lại với Dì vào lúc này, khi mà bà đã hoàn toàn cô độc trên thế giới, hẳn là anh còn tàn nhẫn hơn cả Mạc Lan và Như Ngọc, những người đã quay lưng đi từ lâu.

“Cậu có nhớ quả lựu đạn cầm tay bị gãy hồi lớp hai không?” Anh mường tượng sẽ mở đầu một email viết cho Mạc Lan như thế - lời mở đầu nhắm vào sự hoài niệm mà cô khó có thể ngó lơ. Liệu cô có cảm thấy mình có trách nhiệm phải gửi hồi âm nếu anh không nhắc gì đến Tiểu Ái hay Như Ngọc mà chỉ nói riêng về hai người? Ngày xửa ngày xưa - nếu như anh cố gắng tìm cách thuyết phục mình, liệu anh có thể cũng thuyết phục được cô không? - có một câu chuyện, hoặc một câu chuyện đang sắp sửa thành hình, về họ: liệu cô có quên không nhỉ? Không đâu, không thể nào.

Anh vội mạnh tay xóa sạch cái nội dung ủy mị đó ra khỏi đầu. Đối xử tệ bạc với ai đó rồi lại phủi tay thừa nhận điều đó - Bá Dương tự hỏi không biết trong tình bạn với Mạc Lan anh có nhận thấy cái tôi vẫn còn non nớt khi đó của mình mà sau này rốt cuộc sẽ trở thành chính anh: ích kỷ nhưng không đến mức thái quá để có thể miễn nhiễm trước những nỗi đau do sự ích kỷ của anh gây ra; cương quyết không chấp nhận chịu đựng đau khổ nhưng lại chưa đủ khả năng che tai ngoảnh mặt làm ngơ trước những sự chịu đựng của người khác.

Bá Dương biết, thậm chí từ khi họ còn nhỏ, rằng tình cảm của Mạc Lan dành cho mình vượt xa tình cảm bạn bè hay anh em. Nhưng anh chưa bao giờ khích lệ cô, bây giờ đó là lý do anh dùng để tha thứ cho mình; dẫu sao, khi vụ đầu độc xảy ra, khi sự điên loạn và mất mát chiếm lĩnh lấy cuộc sống của họ, anh đã không kiềm chế cái thôi thúc bên trong mình để làm tổn thương Mạc Lan - để trừng phạt cô vì tình yêu của cô, vì cô sống, khỏe mạnh, và vì cô là một người tử tế.

Nếu cứ một mực đòi đưa quá khứ trở thành tâm điểm mới của hiện tại, anh sẽ trở thành loại người gì? Nhiều năm rồi Bá Dương không liên lạc với bố mẹ Mạc Lan, nhưng anh cũng nghe ngóng từ những người hàng xóm cũ rằng họ hay đi du lịch lắm, tức là Mạc Lan hẳn phải có cuộc sống ổn định ở đâu đó với những điều tốt đẹp xung quanh - một người chồng, một sự nghiệp, hai hoặc ba đứa con (vì cô yêu trẻ nhỏ lắm, và lúc nào cũng từ tốn với những đứa trẻ khác ít tuổi hơn trong khu) - đủ để khiến cô không muốn cùng anh nghĩ về quá khứ.

Chủ nhật, Bá Dương quyết định đến muộn vài phút trong cuộc hẹn giữa anh với Tư Tá. Anh đi taxi, vì không muốn rơi vào cảnh phải lái xe đưa cô về nhà - hay về nhà anh. Phương án về nhà anh thì có lẽ không khả thi, anh quyết định: tốt nhất là đưa cô về tận nhà cô. Coco đã để lại vô số dấu vết trong xe anh cũng như trong căn hộ của anh, theo cách một con vật đánh dấu lãnh thổ của mình. Phải dọn dẹp tất cả những đống hổ lốn đó cho ngày hẹn đầu thì quả là một sự mất công quá đỗi.

Bá Dương bảo tài xế thả anh ở phía bờ đối diện của sông Tiền Hải. Anh thả bộ ra mép nước, sau đó đi lên cây cầu cong cong bằng đá bắc ngang sông, lúc này trên cầu một hướng dẫn viên du lịch đang thao thao nói theo kịch bản đã học thuộc lòng, giải thích bằng chất giọng Anh đặc sệt với một nhóm người ngoại quốc về nguồn gốc tên cây cầu - cầu Ngân Định - với một vẻ hết sức trịnh trọng, như thể những vị khách ngoại quốc với làn da nhợt nhạt đó cần phải biết rằng cây cầu này được xây vào thời nhà Nguyên, khi người Mông Cổ thống trị Bắc Kinh, chứ không phải (như nhiều người vẫn nhầm tưởng) vào thời nhà Minh.

Các triều đại bây giờ còn ý nghĩa gì với ai nữa? Bá Dương định bụng sẽ chỉ ra cho hướng dẫn viên du lịch kia thấy cô đã đặt sai niềm tin vào các khán giả của mình rồi. Đối với Coco và bạn bè cô, những gì xảy ra hai mươi năm trước đã là xa xưa lắm, như những sự kiện đã diễn ra từ hai trăm hay hai nghìn năm trước.

Khi vào cấp hai, Mạc Lan và Bá Dương trở nên đặc biệt quan tâm tới thành phố của mình. Họ sục sạo khắp khu chợ mua bán sách cũ gần Khổng Miếu và góp tiền tiêu vặt với nhau để có mọi cuốn sách có thể mua được về đề tài lịch sử, kiến trúc và giai thoại các thế hệ về Bắc Kinh. Một số cuốn sách đã có tuổi đời năm mươi hoặc sáu mươi năm, một số cuốn còn trên trăm tuổi, những trang giấy mỏng ngả màu vàng của chúng mong manh đến độ chỉ chạm nhẹ đã có thể rách; nhiều cuốn có đóng dấu cá nhân hoặc chữ ký của những người chủ cũ bên trong bìa. Mạc Lan và Bá Dương đã háo hức tìm hiểu về thành phố của mình theo cách mà các bạn đồng trang lứa cho là lạ lùng, hay thậm chí là bệnh hoạn , như tiếng lóng phổ biến của giới trẻ thời bấy giờ, nhưng họ lại tự hào về bản thân mình, như thể chỉ có mình họ khám phá ra thành phố, và chỉ có mình họ sống trong đó. Sau giờ tan học, cả hai lại trốn vào trong phòng ngủ của Bá Dương, báo với mọi người rằng họ đang làm bài tập về nhà, nhưng kỳ thực là ngồi đọc những cuốn sách cũ đó, say sưa với các hình minh họa những họa tiết trang trí khác nhau trên các khung cửa sổ lưới mắt cáo ngày xưa, học thuộc lòng các đoạn lịch sử và những giai thoại liên quan đến những góc phố, quảng trường và đền đài miếu mạo. Giờ đây nghĩ lại những chuyện này, Bá Dương chợt băn khoăn, những cuốn sách đó từng thuộc về ai trước khi đến tay họ. Anh ngạc nhiên rằng ngày đó một câu hỏi như vậy lại không hề xuất hiện trong đầu; họ tiếp nhận những cuốn sách ấy làm của mình với sự dễ dàng - mà có lẽ chỉ những đầu óc thanh xuân mới có được, vì chưa bị hoen ố bởi những nỗi ngờ vực bản thân hay bị hủy hoại bởi sự hoài nghi của thế giới - như khi họ tiếp nhận những lịch sử và vẻ đẹp của thành phố làm của mình.

Mùa hè năm Như Ngọc đến có vẻ là thời điểm hợp lý để cả hai thể hiện vốn hiểu biết của mình: họ đưa cô tới thăm quảng trường hành quyết, nơi trăm năm trước người ta tụ tập lại để xem một vụ chặt đầu công khai rồi vỗ tay tán thưởng khi công việc này được hoàn tất; họ đưa cô tới thăm một ngôi miếu đổ nát, nơi hai cây thông chín trăm năm tuổi đã mọc quấn quýt lẫn nhau thành một cặp song sinh không thể tách rời; họ chỉ cho cô những bức tượng bằng đất trên mái đua của các ngôi nhà cổ, các họa tiết khác nhau trên đó thể hiện địa vị khác nhau của chủ nhân các ngôi nhà. Trên hết, họ thường dành những buổi chiều dài dưới những tán cây liễu ở đây, bên bờ hồ Tiền Hải hay Hắc Hải để trò chuyện - về gì, bây giờ Bá Dương không còn nhớ nổi nữa. Điều gì đã khiến họ tin rằng một ngày nào đó Như Ngọc sẽ biết yêu những gì mà họ đã yêu đến cuồng nhiệt? Cô nghĩ gì vào mùa hè đó, khi cô đến với họ? Khoa trương và thờ ơ, anh và Mạc Lan hẳn đã gặp phải cái sai lầm mà hầu như mọi người trẻ đều mắc phải, không lúc này thì lúc khác: họ chưa một lần nhìn nhận Như Ngọc là điều gì đó khác điều mà họ muốn cô là, một đứa trẻ mồ côi mà họ sẽ tiếp nhận bằng tình bạn của mình. Cả hai đều đã bị Như Ngọc cuốn hút, thậm chí như bị bỏ bùa mê, và họ vội vàng mang tới tất cả những gì họ có - lịch sử lâu dài của thành phố, lịch sử ngắn ngủi của sự tồn tại của chính họ - bởi họ không tìm ra cách nào khác để có thể trở thành người hữu ích đối với cô.

Mối tình đầu đôi khi thật nguy hiểm, nó mở toang trong trái tim chúng ta một vực thẳm của nỗi bấp bênh và thất vọng; hoặc nếu không thì nó cũng chẳng có gì hay ho - bao nhiêu người trong chúng ta có thể ngoảnh nhìn lại mối tình đầu của mình mà không phải ngoác miệng cười vào cái sự ngu ngốc, hay rùng mình trước những sự vô tâm của mình? Nhưng hầu hết các mối tình đầu đều nhạt nhòa dần mà không kéo xuống theo nó một cuộc đời nào cả. Ấy vậy mà, một cái chết, dẫu là cái chết xảy ra muộn những hai mươi mốt năm, đã trở thành một phần trong mối tình đầu của anh; điều đó giống như là chết vì để mất sự ngây thơ của mình - Bá Dương mỉa mai nghĩ - thật không may cho cái thái quá của sự hài hước vậy.

Một cặp đôi trẻ đi qua anh, một phụ nữ Trung Quốc bám chặt cả hai tay mình vào cánh tay một người đàn ông da trắng, còn người đàn ông vẫn bướng bỉnh cố thủ hai bàn tay mình trong túi áo khoác. Người phụ nữ nói gì đó với người đàn ông, ngước nhìn lên anh ta với vẻ háo hức của một đứa trẻ đang tìm kiếm sự đồng thuận, còn người đàn ông chỉ lơ đãng gật đầu. Dưới ánh đèn đường, trông cô không lớn tuổi hơn Coco nhiều lắm, đặc biệt rất giống Coco ở mái tóc nhuộm vàng, ở khuôn mặt và phần cổ trát phấn đến trắng bệch, và ở những biểu cảm trên gương mặt bắt chước búp bê một cách cường điệu. Bá Dương có một người bạn quản lý một công ty hoạt động chui, chuyên cung cấp người nước ngoài cho các doanh nghiệp cần một người hay một nhóm người da trắng để đóng giả làm các đối tác và nhà tài trợ đến từ nước ngoài. Chí ít anh cũng nên khen ngợi Coco vì đã không ngu ngốc đến độ đánh cược tương lai của mình vào một gã đàn ông da trắng vô dụng nào đó đang đào vàng ở thành phố này - dẫu rằng điều đó cũng có khác biệt gì đâu, vì Coco thì đặt cược vào người mà cả cô và anh đều biết rõ rằng không đáng tin cậy?

Bản thân Bá Dương đã dự đoán sự phát triển của nơi này từ lâu trước khi nó khởi sắc; tuy vậy, anh vẫn cảm thấy tức giận khi nhìn những chiếc hồ và các khu vực xung quanh chúng, giờ đây đã trở thành một điểm thu hút văn hóa, nơi tụ tập của những công nhân văn phòng bóng bẩy, người lao động nước ngoài thuộc đủ mọi quốc tịch, du khách, và những kẻ a dua thuộc mọi thể loại - những thanh niên để những kiểu tóc Mohawks hay tóc dây thừng nhuộm màu táo bạo, những phụ nữ sành điệu khoác những chiếc túi hàng hiệu, bô bô đánh giá sự thật giả của những món đồ của người khác, một nghệ sĩ tiền phong mặc chiếc áo chùng màu xám của các nhà sư và để râu thật dài, trông cổ kính như một bậc hiền nhân, ngoại trừ việc anh ta lúc nào cũng cặp kè bên mình hai hoặc ba cô gái trẻ đẹp, dập dờn vây quanh như lũ bướm. Bá Dương những muốn níu vai ai đó mà hỏi cái gì đã lôi kéo anh đến đây; cái gì đã khiến anh rời bỏ đất nước mình, thành phố mình, khu phố mình, để đến đây hòa vào cuộc phô diễn tầm quan trọng của bản thân này? Ngày xửa ngày xưa, đây chỉ là một nơi bình thường như mọi nơi khác, là chỗ để người ta sống và trải qua những vở bi kịch và hài kịch nho nhỏ của mình. Giờ thì nó được mệnh danh là địa điểm hấp dẫn nhất Bắc Kinh, như thông tin Bá Dương đọc được trong những tờ quảng cáo dành cho khách du lịch. Không biết Mạc Lan sẽ nghĩ gì nhỉ, nếu như cô quay lại và thấy nơi tuổi thơ cô đã trải qua biến hình thành một sân khấu trung tâm trong một bữa tiệc giả trang thế này. Nhưng hẳn là cô cũng đã từng đến những nơi khác giống vậy, cũng tham gia vào những cuộc phô diễn vô nghĩa không kém ở một đâu đó khác. Anh hình dung cảnh cô ngồi trên một quảng trường ở Rome, hoặc một quán cà phê vỉa hè Paris: có lẽ cô đã đọc đủ thông tin về những nơi đó rồi, sẽ tiện miệng kể một vài mẩu giai thoại nào đó cho người bên cạnh, chắc cô sẽ cười to chứ không chỉ cười mỉm vì cô không phải tuýp phụ nữ kiềm chế niềm vui sướng của mình chỉ để tỏ ra đài các đoan trang. Đối với người qua đường, cô sẽ có khuôn mặt của một người vô tư lự, và trong ký ức của ai đó về thành phố ấy, hình ảnh cô sẽ còn mãi. Vậy thì tại sao không quay lại chứ, Bá Dương ước anh có thể hỏi cô lúc này. Sao không ngồi bên bờ Tiền Hải và kể cho một vị du khách nghe chuyện một nàng công chúa bị vua cha chặt đứt cánh tay khi loạn quân tiến vào Bắc Kinh vì ngài không thể chịu nổi cái ý nghĩ nhìn thấy con gái mình rơi vào tay của những kẻ mọi rợ? Ngài đã định giết nàng công chúa mới tròn độ tuổi trăng rằm, nhưng cô đã giơ một tay lên để tự vệ và xin được sống; nhìn vết thương tung tóe máu của con, ngài khóc và nói rằng cô thật không may khi phải sinh vào một gia đình hoàng tộc. Bá Dương nhớ Mạc Lan đã kể câu chuyện này cho Như Ngọc nghe vào mùa hè năm đó. Khi ấy họ cũng đứng cạnh cái cây nơi vị hoàng đế kia từng treo cổ tự vẫn khi không thể buộc bản thân ra tay hạ sát đứa con gái yêu của mình. Sự kết thúc của triều Minh , anh nhớ rõ nguyên văn những từ mà Mạc Lan đã nói, sự nghiêm nghị của cô thật đến độ ngay cả bây giờ, anh cũng không dám cười cợt cô. Như Ngọc thì lại lãnh đạm; dẫu vậy, cô đã với tay ra khỏi hàng rào bao quanh, cố nhặt lấy một chiếc lá rơi xuống khỏi cái cây cổ thụ, nhưng nó ở xa tầm với của cô quá.

Tại sao bây giờ không quay về chứ, hỡi hai kẻ đào tẩu kia? Một cuộc đời vừa kết thúc vì cậu và cậu - nhưng Bá Dương biết, chính anh cũng không được miễn trừ. Một cuộc đời đã kết thúc, không một ai trong số họ là vô tội cả. Điều đó hẳn cũng có ý nghĩa gì chứ, không ư? Bao nhiêu người khi ở bên bờ sông này, từng đôi lúc có những ý nghĩ giết người, những bóng ma u hoài phủ bóng đen lên tâm trí họ, khiến họ phải ngoảnh nhìn đi chỗ khác? Bao nhiêu người đã thành công trong một vụ án mạng?

Bá Dương đi dạo thêm vài phút để trấn tĩnh và chuyển sự tập trung vào cuộc hẹn sắp tới. Khi tiến về phía Tư Tá từ mé đường không có bóng đèn, anh nhận thấy cô đã khóa cửa hàng. Đứng ở chỗ nằm ngoài vùng phủ sáng của ánh đèn vàng tỏa ra từ cột đèn đường gần đó, cô không hí hoáy gửi tin nhắn trên điện thoại; cô cũng không sốt ruột ngó trái quay phải vì anh đến muộn. Từ dáng điệu của cô - lưng thẳng, im lìm như một bức tượng, cặp mắt nhìn ra phía trước nhưng hẳn là cô không thể thấy gì nhiều trong bóng tối - anh không thể xác định được rằng có phải cô đã quen việc chờ đợi người khác, hay cô chưa từng ở vào vị trí đó, chờ đợi mà không đánh mất sự kiên nhẫn của mình.

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của yiyun li