“Xin Người hãy biết cho, mỗi ngày con sống đều là để dành cho ngày con được gặp Người. Xin Người hãy để những kẻ xa lạ xung quanh con mãi mãi là kẻ xa lạ. Họ không biết Người, và họ thương hại con bởi vì họ không biết Người.”
Như Ngọc dừng lại, cảm thấy có điều gì đó khang khác. Ngày trước, cô vẫn yêu cái khoảnh khắc cuối mỗi ngày như thế này, khi không còn gì nữa xen vào giữa Chúa - tương lai của cô - và chính bản thân cô; ngay cả các bà dì, lúc này đã lui vào phía sau tấm rèm để thực hiện cuộc nói chuyện riêng tư của họ với Chúa, cũng không còn quan trọng nữa. Nhưng Như Ngọc không biết rằng đức tin là cách duy nhất để các bà dì giữ gìn được phẩm giá trong một cuộc sống vốn đã cướp đi của họ quá nhiều: cái chết quá sớm của người mẹ yếu đuối, sự biến mất của đứa em trai mà họ đã dốc cạn tình yêu và hy vọng, gia sản bị tịch thu, cái đặc ân được gần gũi với Giáo hội bị tước đoạt. Với họ, thế giới này là một trạm dừng tăm tối, trong đó, để chống lại nó họ đã trang bị cho mình một tôn giáo mà theo thời gian lại trở thành thứ tôn giáo do chính họ tạo ra, hoặc là không nhận ra cái bóng mà họ đã phủ lên cuộc đời một đứa trẻ mồ côi, hoặc là coi đó là điều vặt vãnh; còn Như Ngọc, mắt đã thích nghi với cái nhập nhoạng u minh triền miên, thì cho rằng thứ mà cô nhận thấy trong cái bóng kỳ vĩ của họ là cuộc đời duy nhất đáng sống, sự không con cái bị nhầm là trong sạch, sự lãnh đạm bị nhầm là tận tâm với Chúa.
Tuy nhiên, từ khi Như Ngọc đến Bắc Kinh, cái thanh thản mà những cuộc nói chuyện với Chúa mang lại cho cô đã biến mất. Phải chăng Người đang cố ý lùi xa để thử thách cô? Hay biết đâu Người đã lùi lại thật, bỏ mặc cô giữa những kẻ xa lạ? Những lời khẩn cầu gửi đến Người, tình yêu cùng lòng trung thành được bày tỏ tha thiết và liên tục - tất cả những điều này, dẫu cô không nhận thấy, rải rác xung quanh cô, xác chết của những ngôn từ không mong muốn giống như những xác ruồi vương vãi khi cuối hè. Như Ngọc băn khoăn, thật lạ lùng là khi mùa đông đến, các loài côn trùng khác thì biến mất, riêng lũ ruồi lại rụng thây trên các bậu cửa sổ hay các góc phòng, ngay cả khi chết cũng không thoát khỏi cảnh sự xấu xí của chúng bị chường ra giữa thiên hạ.
Hẳn là có lý do cho điều đó, vì cái gì cũng có lý do của nó cả; các bà dì thường nói chỉ mình Chúa mới biết. Nhưng nếu như Chúa có thể bỏ rơi lũ ruồi, không để chúng được chết trong sự riêng tư, vậy làm sao để cô biết trong mắt Người, cô khác biệt so với lũ ruồi đó? Các bà dì chưa bao giờ hoài nghi Chúa, nhưng nếu họ sai lầm thì sao - nhỡ Người, cũng như bố mẹ cô, thấy cô không có gì đáng giá để mà giữ lại thì sao?
Một nỗi hoảng sợ chợt ập đến, mạnh đến mức Như Ngọc cảm tưởng như một lực hữu hình nào đó vừa giội xuống người cô, khiến cô nghẹn thở vì một cơn đau nhói. Cô mở choàng mắt, buông hai bàn tay đang nắm lại ra, nhưng xung quanh vẫn thế: chiếc đèn trên bàn vẫn sáng; hai bàn tay đeo găng của chú chuột Mickey trên mặt đồng hồ vẫn di chuyển theo từng nhịp đều đều. Cô đang ở một mình trong phòng ngủ chung với Tiểu Ái, lưng quay ra phía cửa, chiếc rèm vẫn rủ yên. Chú và Dì đã đi ngủ. Ông đã được cho uống thuốc ngủ để giữ trật tự vào ban đêm. Tiểu Ái và một người bạn ở trường đại học đang ở trong phòng khách xem ti vi, vặn tiếng thật nhỏ. Từ ô cửa sổ để mở đưa vào, Như Ngọc nghe thấy tiếng kêu thảng thốt của một con ve sầu, rền rĩ và gấp gáp, rồi chìm vào im ắng. Những con dế đầu tiên của mùa thu kêu rinh rích trong các bụi cỏ, bản dạ khúc của chúng nghe sao mà não nề.
Như Ngọc ra lệnh cho mình phải tập trung. Tiểu Ái và bạn cô, Dạ Ngưng, có thể tắt ti vi và vào trong phòng bất cứ lúc nào. Dạ Ngưng vừa từ quê đáp tàu trở lại thành phố hồi chiều tối để chuẩn bị vào học kỳ mới, cô ấy sẽ ngủ đêm lại đây cùng họ rồi mới quay về ký túc xá. Dường như tất cả mọi người đều hiển nhiên cho rằng chiếc giường đôi mà Như Ngọc và Tiểu Ái chung nhau sẽ vừa đủ cho cả ba cô gái.
“Xin Người hãy tha thứ cho con, và xin Người hãy cho con can đảm để xứng đáng với tình yêu của Người,” Như Ngọc lại tiếp tục, dẫu nỗi sợ rằng mình là một sự phiền toái đối với Chúa đang ngày lớn dần lên trong cô. Cô vẫn ở yên trong tư thế cũ, nhắm mắt chờ đợi cơn đau dữ dội qua đi, trong khi vẫn ngờ vực rằng có khi đó chẳng qua chỉ là sự trừng phạt của Chúa. Người đã chứng kiến tất cả những gì cần chứng kiến, và Người sẽ ra tay chở che để mọi việc với cô rồi sẽ tốt đẹp. Vậy sao cô vẫn còn cầu xin sức mạnh nơi Người mỗi ngày, thứ mà lẽ ra bây giờ cô phải có rồi chứ? Chẳng lẽ Người không bực mình khi cô không đáp ứng được những tiêu chuẩn của Người; chẳng lẽ Người không phiền hà trước sự nài nỉ của cô; trước tình yêu của cô, thứ mà cô không có cách nào thể hiện; trước việc cô không ngừng đòi hỏi hơn nữa từ Người, luôn luôn đòi hỏi, luôn luôn là như thế?
Ai đó lặng lẽ bước vào phòng, nhưng chỉ khi người đó thả chiếc gối xuống giường thì Như Ngọc mới biết đến sự hiện diện. Như Ngọc giật mình quay lại thì thấy Dạ Ngưng đang ngồi trên giường, mắt nhìn vào Như Ngọc nhưng lơ đãng, có lẽ cô chỉ đang nhìn những hình ảnh xuất hiện trong đầu mình. Trong bữa tối, Như Ngọc để ý thấy Dạ Ngưng, một cô gái cao ráo, mảnh khảnh, đối xử lịch sự với mọi người nhưng ăn uống nhỏ nhẹ và cũng không nói năng gì nhiều. Dì không tới tấp đặt câu hỏi, cũng không ép khách ăn; nhưng với vẻ lo lắng, cùng với những câu chuyện không đầu không cuối liên miên, Dì tỏ ra ngớ ngẩn hơn bao giờ hết. Như Ngọc đã quan sát thấy - và một vị khách trong số họ cũng xác nhận cho kết luận của cô - rằng Dì dường như có một nỗi sợ hãi gần như là mê tín đối với sự yên lặng, như thể mỗi giây phút nào không có sự trao đổi qua lại nào đó đều là dấu hiệu báo sự thất bại của Dì, hay tệ hơn, báo một điềm gì đó tựa như một tai ương sắp ập xuống.
“Em tưởng chị đang xem ti vi với chị Tiểu Ái,” Như Ngọc lên tiếng khi thấy cô gái kia không nói hay nhìn đi chỗ khác. Như Ngọc cảm thấy Dạ Ngưng đang có điều gì đó bồn chồn, nhưng cô còn quá trẻ để biết tại sao: Dạ Ngưng cũng có một vai trò lạc lõng trong cuộc sống giống Như Ngọc; tổn thất lớn nhất là bị đánh bại bởi chính chiến lược của mình trong tay người khác.
Dạ Ngưng nhún vai. Tiếng Tiểu Ái đang chuyển kênh truyền hình từ phòng khách vọng lại. “Lúc chị vào, em đang làm gì thế?” Dạ Ngưng hỏi.
“Không có gì đâu ạ.”
“Không có chuyện không làm gì cả chứ?”
“Em chỉ ngồi nghĩ thôi.”
“Nghĩ về cái gì? Hay nghĩ về ai?”
Như Ngọc nhún vai, và chợt nhận ra mình vừa học cái cử chỉ không lấy gì làm đẹp mắt đó của Dạ Ngưng.
“Có phải em vừa nói chuyện với Chúa của em không? Tiểu Ái bảo là em nói chuyện với Chúa của em nhiều hơn là với người trần mắt thịt tụi chị,” Dạ Ngưng nói, chọn lựa từng từ với một sự thận trọng đầy ác ý.
Như Ngọc tròn mắt nhìn lại. Dạ Ngưng chờ, và khi không thấy có câu trả lời nào, cô hất hàm về phía hộp đựng đàn phong cầm dựng ở góc phòng rồi hỏi: “Đàn của em đấy à?”
“Vâng.”
“Chị nghe nói là không ai ở đây có thể làm cho em hạ cố chơi đàn.”
Như Ngọc chột dạ, hay là Tiểu Ái gọi bạn đến đây để làm bẽ mặt cô? Tiểu Ái còn nói những gì với bạn về Như Ngọc nữa? Tiểu Ái không thích Như Ngọc, điều đó đã rõ: cô ít khi nói chuyện với Như Ngọc, mà thực ra như thế lại hóa hay vì rằng những ngày này, chẳng mấy khi Tiểu Ái mở miệng mà không kèm thêm những lời bình phẩm ghê gớm. Nhưng vào ban đêm, dường như cô luôn tìm ra cách để thể hiện thái độ thiếu thiện cảm và khinh miệt. Cô thường chờ đến khi Như Ngọc lên giường, sau đó sẽ tắt đèn đi nhưng vẫn đọc sách bằng một chiếc đèn cầm tay, giở trang sách rất mạnh tay và thi thoảng, khi đọc xong, cô ném quyển sách ra khỏi màn để nó rơi thịch xuống sàn nhà. Như Ngọc, vốn luôn cố dậy càng sớm càng tốt - thật may, Tiểu Ái lại không dậy sớm được để bắt Như Ngọc làm khán giả bất đắc dĩ một lần nữa cho những màn biểu diễn đầy tính chống đối của mình - thi thoảng lại lén liếc nhìn quyển sách bị vứt trên sàn nhà nếu bìa sách ngửa lên. Trong vài ngày liên tiếp, đó là quyển sách có nhan đề Giới tính thứ hai của ai đó tên là de Beauvoir; nhan đề quyển sách khiến Như Ngọc khó chịu, sau khi thấy gáy sách màu vàng và những trang sách bị gập lại để đánh dấu, cô tránh nhìn vào nhan đề sách, dù rằng nó vẫn đang trâng tráo nhìn lại cô từ dưới sàn nhà. Còn có nhiều cuốn sách khác nữa, mỏng hơn, nhưng tất cả đều có những nhan đề khiếm nhã như vậy: Buồn nôn, Lũ ruồi, Dịch hạch . Tuy nhiên, có một cuốn khiến Như Ngọc chú ý - Lời tự thú của một đứa trẻ thế kỷ ; cô tò mò muốn biết cuốn sách nói về cái gì, nhưng lại không dám giở dù chỉ một trang vì sợ Tiểu Ái tỉnh giấc sẽ trông thấy.
“Hồi bằng tuổi em, chị cũng chơi piano đấy,” Dạ Ngưng nói. Thật buồn cười, Như Ngọc nghĩ, cách cô nói như thể họ thuộc về hai thế hệ khác nhau vậy. “Hồi ấy lúc nào chị cũng tập. Mà chị vẫn còn thấy thiếu thời gian kia, giá mà có bốn mươi tám tiếng một ngày cũng được. Nghe cô bạn của chúng ta ở phòng bên kia nói, chị ngạc nhiên lắm khi biết từ ngày đến đây em còn chưa động vào nhạc cụ của mình lấy một lần.”
“Phong cầm là nhạc cụ ầm ĩ lắm.”
“Nhạc cụ nào chẳng ầm ĩ chứ.”
“Em không muốn quấy rầy ông.”
“Làm sao mà biết em có quấy rầy ông hay không chứ?” Dạ Ngưng nói, rồi hạ giọng thầm thì. “Chị sợ là nếu không tập hằng ngày, em sẽ bị xuống tay đấy.”
“Em có thể đợi tới lúc khai giảng mà. Mạc Lan nói ở trường có phòng nhạc riêng.”
“Dù vậy, chắc hàng xóm nghĩ rằng em kiêu căng nên mới không chơi cho họ nghe.”
“Không ai nghĩ như thế cả,” Như Ngọc phản đối.
“Sao em có thể nói chắc thế được?” Dạ Ngưng hỏi, mở to mắt như ngây thơ, rồi lại nheo lại. “Em còn trẻ quá, chưa hiểu chuyện đời. Em không biết người ta nghĩ gì về em đâu,” cô nói với sự nhẹ nhàng khinh khỉnh mà người ta vẫn dành cho những con vật què quặt hay những đứa trẻ yểu mệnh.
Như Ngọc giật mình. Thực ra, có tới mấy người hàng xóm từng bảo cô biểu diễn một tối cho cả khu xem. Trước những yêu cầu như thế, cô lễ phép lắc đầu, trong bụng không khỏi thắc mắc tại sao người ta lại cứ phải một, hai đòi cô làm những việc mà cô đã từ chối rõ đến thế rồi. Cô không thích mà cũng không hẳn là ghét chiếc đàn phong cầm các bà dì đã chọn cho cô. Thực ra mà nói, nhạc cụ này với cô là một sự ghép đôi gượng gạo. Phần thân cồng kềnh của nó giống như ngực cô tự nhiên bị trương phềnh ra rất kỳ dị. Âm thanh của nó lại quá ồn ào, thứ âm nhạc mà cô chơi - thường là các điệu polka và waltz đến từ những nơi mà trong trí tưởng tượng của cô là nắng ấm quanh năm - lại quá vui vẻ. Khi còn ở nhà, thi thoảng cô tập đàn bằng cách gõ vào bàn phím mà không tháo ống xếp ra; chỉ khi đó cô mới có thể coi mình là một nhạc công thực sự, những giai điệu im lặng là sự nối dài suy nghĩ, không ai nghe thấy, không ai để ý.
“Cái ngây thơ này mới ngọt ngào, đáng yêu làm sao chứ,” Dạ Ngưng nói và mỉm cười một mình như đang thích thú cái nhận định của mình lắm, nhưng không để Như Ngọc kịp trả lời, cô đã vỗ tay xuống gối. “Em nằm mé nào đây?” Cô hỏi, gương mặt đột nhiên trở nên lạnh lùng, như thể thiện chí đã hết và cô muốn được ở một mình.
Sau đó, khi nằm trên giường nhưng chưa ngủ, Như Ngọc nghe tiếng Tiểu Ái trèo lên giường, nằm giữa cô và Dạ Ngưng. Cả hai người tính tình đều khó chịu, khiến Như Ngọc cứ băn khoăn không hiểu sao họ lại chơi được với nhau. Cũng có lẽ đó là chuyện phải thế giữa hai người đó, cái góc cạnh của người này liên tục khía vào cái góc cạnh của người kia, những người hay làm tổn thương người khác cũng hay tìm cách để chính mình bị thương tổn như vậy.
Rất lâu sau đó, Như Ngọc bị tỉnh giấc giữa chừng vì những tiếng cãi nhau rầm rì nhưng gay gắt. Không biết lúc này là mấy giờ hay cuộc tranh cãi đã diễn ra bao lâu rồi. Cô cố nằm thật yên và giữ hơi thở thật đều, và nhanh chóng nhận ra hai người đang tranh cãi về một chàng trai.
“Cứ để cậu ấy đi tu,” Tiểu Ái nói, “nếu cậu ấy không dám đứng lên bảo vệ chính mình.”
“Vấn đề không phải là dám hay không, mà là điều gì thì tốt cho cậu ấy hơn?”
“Thế sao không hỏi ngược lại là điều gì thì tốt cho cậu hơn? Đương nhiên là nếu cậu ấy cạo đầu vào chùa ở thì cậu sẽ khó dụ dỗ cậu ấy hơn rồi chứ còn gì nữa.”
“Kinh tởm quá đấy, Tiểu Ái.”
“Sự thật có khi nào dễ nuốt đâu.”
“Nhưng cậu đang gay gắt với cậu ấy rất vô lý, vì cậu ghen với cậu ấy.”
“Cậu dùng từ sai rồi,” Tiểu Ái nói. “Cậu ấy không đáng để tôi phải ghen.”
“Dĩ nhiên là không rồi,” Dạ Ngưng nói. “Người nào mà tôi để mắt đến chẳng là sinh vật hạ đẳng đối với cậu. Cậu chỉ muốn tôi không yêu ai, để tôi lúc nào cũng dính lấy cậu.”
“Nếu cảm thấy thế, cậu có thể thôi dính lấy tôi bất kỳ lúc nào.”
“Dĩ nhiên là cậu sẽ nói thế rồi, vì bây giờ cậu có một con bé xinh xắn và ngốc nghếch ngủ chung giường kia mà.”
Cả hai cô gái ngừng nói một lát, rồi Như Ngọc cảm thấy một làn gió nhẹ man mát thoảng qua trên má khi Dạ Ngưng nhấc màn lên. “Cậu đi đâu đấy?” Tiểu Ái hỏi. Dạ Ngưng không trả lời, và giây lát sau Như Ngọc nghe tiếng đôi dép rách của cô hướng về phía phòng khách. Cô đợi nghe tiếng leng keng của chiếc chuông trên cửa, nhưng nó không kêu.
“Em nghe trộm thế đã đủ chưa?” Tiểu Ái nói, giọng nhỏ nhưng không thì thầm.
Như Ngọc vẫn nằm im.
“Chị biết em đang thức,” Tiểu Ái nói. “Để em không hiểu nhầm thì đây: người mà bọn chị vừa nói đến trước cũng là bạn chị, nhưng giờ thì cậu ấy đang sợ bị kỷ luật vì những việc cậu ấy đã làm trong cuộc biểu tình. Phụ huynh đã thu xếp cho cậu ấy rời trường để vào chùa ở một thời gian. Thử hình dung mà xem. Giải thoát khỏi những vấn đề của người thường kia đấy.”
Xin Người hãy khiến cô ấy im lặng. Xin Người hãy khiến cô ấy biến mất, bởi vì cô ấy không quan trọng đối với Người, và như thế có nghĩa là cô ấy cũng không quan trọng đối với con.
“Chị nghĩ tất cả những gì em cần biết là chị và Dạ Ngưng bất đồng với nhau về quyết định của cậu ấy,” Tiểu Ái nói. “Cô ấy cho rằng đó là một ý tưởng hay ho. Cô ấy cho rằng bất kỳ ý tưởng nào giúp cậu ấy thoát khỏi rắc rối đều là hay ho. Nhưng rồi cô ấy lại thấy khốn khổ về việc để cho cậu ấy đi vào một thế giới nơi cô ấy không có quyền đến. Chẳng phải sẽ tốt hơn sao nếu cô ấy trở thành ngôi chùa riêng cho cậu ấy?”
Sự cay nghiệt trong những lời nói của Tiểu Ái trở nên quá sức chịu đựng. “Em có hỏi gì chị đâu,” Như Ngọc nói.
“Chị nói là để em đỡ mất thời gian nghĩ ngợi về chuyện này,” Tiểu Ái nói. “Giờ thì em biết hết mọi chuyện rồi đấy; ngày mai tốt nhất là hãy quên nó đi.”
Như Ngọc biết câu chuyện đâu chỉ có thế, nhưng điều đó với cô không quan trọng, vì rằng cô không có nhiệm vụ phải tách bạch cái đúng với cái không đúng: bí mật, ở mọi thể loại, đều dung dưỡng cái xấu xa. Mà Như Ngọc lại cảm thấy một sự không sạch sẽ đang bám lấy cô theo cách một con đỉa bám vào một cơ thể như đã được nói đến trong các cuốn sách mà cô đã đọc.
“Nhưng, biết đâu việc em biết thêm một chút về thế thái nhân tình lại không phải là một điều dở cho em,” Tiểu Ái nói. “Ai mà biết các bà dì đã làm hư em như thế nào chứ?”
“Chị còn không biết họ mà,” Như Ngọc nói.
“Chị muốn biết họ để làm gì chứ?” Tiểu Ái vặn lại. “Cứ từ cái cách họ nuôi dạy em thì chị sẽ khuyên rằng một người trẻ hễ thấy thấp thoáng bóng họ là nên chạy cho thật nhanh.”
Ở nhà, khi thấy người ta nhấm nháy nhìn nhau đầy bỉ bôi sau lưng các bà dì, Như Ngọc đã học được cách mặc kệ: những kẻ đó không hiểu các bà dì của cô, và quan trọng hơn, các bà dì của cô không cần đến cái sự hiểu của người đời. Cô ước giá mà lúc này mình cũng có thể coi những lời huyên thuyên của Tiểu Ái là một trong những lời bàn tán vô nghĩa lý kia, nhưng Tiểu Ái có vẻ đã quyết tâm không để mình bị gạt phăng ra như thế. “Nào, để chị giải thích rõ hơn cho em,” Tiểu Ái nói. “Em nghĩ thế nào về Dạ Ngưng? Theo em, cô ấy có phải là người tốt không? Liệu trong mắt các bà dì của em, cô ấy có phải là người tốt không?”
“Cô ấy là bạn chị,” Như Ngọc nói. “Sao lại đi hỏi ý kiến em?”
“Thấy chưa, câu trả lời của em đã chứng minh chính xác luận điểm của chị. Trước khi là bạn chị, cô ấy là một thực thể ở ngoài kia , một thực tế ; bất kỳ ai cũng có thể hình thành một ý kiến về cô ấy. Mẹ chị nghĩ cô ấy là người lập dị. Bố chị có lẽ cho rằng cô ấy là một đứa trẻ hư, như chị. Người bạn nhát chết của tụi chị - cái cậu sắp сạо đầu đi tu ấy - lại thấy ở cô ấy một sự cuốn hút đến mê hoặc và muốn cô ấy chờ cậu ấy xong thời gian ở chùa để họ cưới nhau. Nhưng còn em, ý kiến của em là gì? Tất cả những gì em làm là lạnh lùng nhìn cô ấy và tự nhủ: chẳng có gì can hệ đến mình cả. Và thế là cô ấy trở thành con số không đối với em. Em đã nhận ra chưa? Có một con người ở ngoài kia, mà em, với thứ logic kỳ cục mà các bà dì đã tạo ra cho em, lại biến thành một phi thực thể.”
Như Ngọc cảm thấy như mình đang bị những lời nói của Tiểu Ái quét xuống một vực thẳm, một điều thật nực cười nhưng lại mang trong nó cái hấp lực không dễ gì kháng cự nổi của sự điên rồ. “Nhưng đúng là em với chị Dạ Ngưng không có gì can hệ đến nhau mà,” cô nói, nhưng ngay lập tức nhận ra sai lầm của mình. Từ bỏ vị thế im lặng, cho phép mình bị lôi kéo vào câu chuyện - vậy là cô đã để cho Tiểu Ái có được thứ mà cô không xứng đáng rồi.
“Em chưa hiểu ý chị rồi,” Tiểu Ái nói. “Chị chỉ lấy cô ấy làm ví dụ thôi. Cũng có lẽ cô ấy là ví dụ sai. Nhưng những người đã bị bắn chết ở Quảng trường Thiên An Môn thì sao? Có bao giờ em nghĩ, dù chỉ thoáng qua thôi, về họ hay gia đình họ không? Em có hỏi Mạc Lan hay Bá Dương về những gì họ đã nhìn hoặc nghe thấy không? Không, và không, vì rằng những người đã chết đó không can hệ gì đến em; do đó, với em họ không là gì cả. Nhưng yên tâm, em không phải là người duy nhất ôm khư khư chính kiến đó. Giờ đây, khi một cuộc cách mạng đã bị nghiền nát, sẽ ngày càng có nhiều người chọn thái độ đó hơn, nhưng như thế không có nghĩa là em được giải thoát đâu. Thành thực mà nói, chắc em là người nhẫn tâm bẩm sinh, hoặc là em đã bị các bà dì tẩy não triệt để rồi. Dù theo cách nào, chị vẫn thấy việc em thiếu quan tâm đến mọi sự ngoại trừ đức tin nhỏ bé của riêng em là một điều còn hơn cả khủng khiếp. Tất nhiên, em có thể nhún vai duyên dáng mà nói là ý kiến của chị thì can hệ gì đến em chứ?”
Khi Tiểu Ái kết thúc màn độc thoại của mình, Như Ngọc vẫn không lên tiếng. Sự im lặng của cô dường như càng khiến Tiểu Ái tức điên lên. “Sao?” Cô hỏi. “Em đã quyết tâm không hạ cố mà trả lời chị đúng không?”
“Chị muốn em nói gì nào?” Như Ngọc hỏi.
“Vấn đề không phải là chị muốn em nói gì. Vấn đề là em muốn nói gì cho chính bản thân em kia. Nào, bảo vệ mình đi nào. Bảo vệ các bà dì của em đi nào. Ít ra chúng ta cũng phải chơi cho công bằng chứ.”
“Các bà dì không cần em phải bảo vệ họ.”
“Còn em thì sao?”
“Chị nghĩ về em thế nào cũng được, hoặc chị nghĩ em không là gì cả cũng được,” Như Ngọc nói, và chợt thấy mừng khi nghe tiếng dép lẹt quẹt của Dạ Ngưng tiến về phía phòng ngủ. Trước khi Tiểu Ái kịp nói thêm, Dạ Ngưng đã bước vào. “Sao đột nhiên lại im ắng thế?” Cô nói trong căn phòng tối, khe khẽ cười. “Tôi tưởng hai người đang chuyện trò rôm rả lắm kia mà.”
Ngày hôm sau, Tiểu Ái giúp Dạ Ngưng quay về ký túc xá, và khi không thấy cô trở về ăn tối, Dì bắt đầu băn khoăn thành tiếng không biết có phải Tiểu Ái đã thông báo cô cũng quay về ký túc xá luôn hôm đó mà Dì không nghe thấy không. Chú lên tiếng trấn an Dì, nói nếu đó là kế hoạch của Tiểu Ái thì chính chú cũng không nghe thấy. “Anh phải biết là em sẽ không đời nào để lỡ thông tin quan trọng đến thế chứ,” Dì nói.
Khi Dì hỏi Như Ngọc, cô nói mình cũng không hay biết gì về kế hoạch nào như thế cả. Có lẽ trong mắt Tiểu Ái, Như Ngọc giống như một chú chim tới chiếm tổ của con chim khác; nhưng ý nghĩ này không mang lại cho Như Ngọc chút day dứt nào, cũng không làm giảm bớt cảm giác nhẹ nhõm trong cô rằng Tiểu Ái sẽ sớm rời khỏi nhà, và cô sắp được một mình chiếm lĩnh phòng ngủ.
Nhưng khi bữa tối sắp xong thì Tiểu Ái về, với vẻ cương quyết, cô tuyên bố đã quyết định trong học kỳ mới sẽ không ở ký túc xá nữa. Chú và Dì nhìn nhau lo lắng. “Lãnh đạo trường đã nói chuyện với con rồi à?” Dì hỏi.
“Chưa ạ.”
“Thế tức là mọi chuyện sẽ ổn thỏa cả chứ?”
“Nếu mẹ hỏi ý kiến con thì không bao giờ có gì ổn thỏa cả,” Tiểu Ái nói.
“Nhưng nhà trường - họ có... con có...” Dì chật vật tìm từ ngữ thích hợp để nói.
“Mẹ lo là con sẽ bị đuổi học chứ gì? Và con sẽ không tốt nghiệp được, sẽ không có công ăn việc làm, và sẽ mãi mãi là gánh nặng cho bố mẹ chứ gì?” Tiểu Ái nói. “Để con nói thế này nhé: trên thế giới có nhiều thứ còn tồi tệ hơn việc không tốt nghiệp với một tấm bằng vô dụng về thương mại và quan hệ quốc tế.”
Dì và Chú nhìn Tiểu Ái bực tức đi vào trong phòng mình. Như Ngọc nghĩ bụng nếu mà có cửa phòng hẳn Tiểu Ái đã đóng sầm nó lại cho hả cơn giận của mình, và như thể Tiểu Ái cũng có chung suy nghĩ đó, cô quay trở ra và nói không khí trong nhà ngột ngạt quá nên sẽ ra ngoài đi dạo. Dì liếc nhìn chiếc đồng hồ treo trên tường, chực nói gì đó thì Chú đã kín đáo nhìn Dì lắc đầu. Giây lát sau, cánh cửa ra vào bị đóng sầm lại; chiếc chuông phía trên cánh cửa không bị giữ lại nên đung đưa tít mù.
Không ai nói với ai câu nào, nhưng khi ngẩng đầu lên và bắt gặp cái nhìn của Như Ngọc, Dì thở dài nói giá mà họ có thể khiến cho quãng thời gian của cô ở đây được êm đềm hơn, và rằng trước đây tính tình Tiểu Ái dễ chịu hơn. “Nếu các bà dì biết chúng ta làm bố mẹ chẳng nên thân thế này, chắc họ sẽ không chịu gửi cháu đến đây đâu,” Dì nói, vẻ buồn bã.
“Số phận có chừa nhà ai,” Chú bảo, dè dặt nhìn lên Như Ngọc như có ý cầu khẩn cô đồng ý với câu nói đã thành sáo rỗng ấy, và cô cũng hùa theo, nói Dì không nên cả nghĩ, và rằng cuối cùng rồi mọi chuyện cũng ổn thỏa cả thôi. Vốn đang cần người để tin - tốt nhất là ai đó ngoài chồng mình - dường như Dì đã tìm được chút khuây khỏa trong những lời nói của Như Ngọc, và Dì lẩm bẩm nhắc lại chúng như để an ủi thêm cho hai người còn lại trong phòng. Khi ông làm ầm đòi ăn, Dì bật đứng dậy đôn đáo đi ngay. Với vẻ buồn bã đầy trìu mến, Chú nhìn Dì đổ cháo vào bát, thêm lớp đậu phụ thối lên trên. Chẳng gì thì họ cũng còn có nhau, Như Ngọc thầm nghĩ, như hai bà dì của cô có nhau vậy.
Khi Dì ra khỏi phòng, Chú nói với những chiếc đĩa đựng đồ ăn vẫn còn dang dở trên bàn: “Cháu thật tốt bụng vì đã thông cảm.”
Như Ngọc thoáng băn khoăn, không hiểu Chú, một người hiếm khi lên tiếng bắt chuyện ai, có thực là đang nói với mình hay không. Cô nhìn ông, nhưng ông chỉ cười và nhìn vào những chiếc đĩa ăn dở, hệt như mỗi lần ông cười khi hàng xóm trêu ghẹo nhau trong sân, hay khi Dì ca cẩm về thời tiết. Không biết Chú có muốn chờ cô trả lời không.
“Tiểu Ái từ bé đã ương bướng vậy rồi,” Chú nói tiếp. “Một đứa trẻ khó bảo. Chúng ta đã bàn với nhau về việc sinh thêm đứa nữa - Dì muốn có thêm - nhưng chú sợ đến mức không dám hình dung phải trải qua việc đó lần thứ hai.”
“Nhưng lẽ ra chú, dì có thể sinh thêm em bé nữa cũng được mà,” Như Ngọc nói. “Cháu nghe người ta bảo anh chị em cùng bố mẹ có thể có tính tình khác nhau.”
Chú thở dài. “Nhiều người cũng bảo thế đấy, nhưng hồi đó chú không tin. Thực lòng mà nói, bây giờ chú thấy tiếc vì cái sự ương bướng ấy của mình. Nếu chúng ta sinh đứa nữa, thì biết đâu bây giờ nó đã giúp cuộc sống dễ dàng hơn rồi, cháu có nghĩ thế không? Ít ra Tiểu Ái sẽ phải học cách đối xử tử tế với người nhỏ tuổi hơn nó. Thật tiếc rằng nó lại không coi cháu là người trong nhà.”
Như Ngọc lắc đầu như muốn nói những chuyện đó không quan trọng. Nếu Chú và Dì có thêm người con nữa - một cậu con trai chẳng hạn - thì có lẽ các bà dì lại cho rằng gia đình họ không phù hợp với Như Ngọc. Khi ấy, cô sẽ bị gửi tới một nơi khác để sống, với những con người khác... nhưng cứ miên man nghĩ như thế thì thật rỗi hơi quá. Cô đứng lên, nói nếu Chú đã ăn xong rồi thì cô sẽ cất đồ ăn thừa đi.
Những ngày cuối hè bao giờ cũng nắng. Cái nóng của tiết trời tháng Tám, dẫu đã dịu đi nhưng vẫn thừa gay gắt để tạo cho con người ta cái ảo giác về sự triền miên - của một khoảnh khắc, một ngày, một mùa. Lũ ve sầu, những sinh vật bướng bỉnh, đã dành hàng chục năm trời dưới lòng đất, vẫn không chịu từ bỏ vị trí của mình trên những cái cây; nhưng ngày tàn của chúng chỉ còn tính trên đầu ngón tay nữa thôi: ráng chiều chạng vạng làm câm nín tiếng ra rả của chúng và mang đến, cùng làn gió nhẹ đầu tiên của buổi chiều tà, những giai điệu mùa thu của loài dế.
Ngô đồng nhất diệp lạc, thiên hạ cộng tri thu ; buổi sáng cuối cùng của tháng Tám, Như Ngọc loáng thoáng nghe tiếng bà của Bá Dương và một người hàng xóm đối đáp những câu thơ đầy sáo ngữ này với nhau. Tiết cuối mùa dường như đã để lộ ra cái khía cạnh đa cảm của con người, như thể mỗi người đều đang chuẩn bị để một phần nhỏ bé nào đó trong chính mình làm cuộc ra đi cùng với những sinh mạng của mùa hè. Khi nghe bà cụ nói vậy, chú Vấn Dưa Hấu cất giọng the thé mà ngân nga một đoạn kinh kịch nói về một vị lão tướng thương tiếc cái cây đã trưởng thành song hành với nghiệp chiến chinh năm mươi năm của mình; hai đứa con sinh đôi của chú Vấn đứng sau cánh cửa chắn bắt chước bố, rồi bắt đầu rung rúc cười với nhau, khiến màn biểu diễn bị kết thúc sớm và nỗi buồn cũng dịu bớt đi.
Hãy chờ cho đến khi cô phải lòng mùa thu ở Bắc Kinh, những người hàng xóm thường bảo Như Ngọc thế, hoặc có khi họ lại nói, hãy chờ cho đến khi cô phải lòng Bắc Kinh vào mùa thu này. Cái ý tưởng rằng có ai đó lại phải lòng một nơi chốn hay một thời điểm nào đó thật lạ lẫm với Như Ngọc; có lẽ cô sẽ chịu đựng nó tốt hơn nếu như không có cái chắc chắn kia của tất cả mọi người về cảm nhận của cô. Với cô, mùa là mùa - không hơn, không kém, vì rằng đó là cách vận hành của thời gian trong mắt các bà dì, mỗi ngày là một bản sao lại của ngày trước đó; một nơi chốn, bất kỳ nơi chốn nào, đều chỉ đơn thuần là điểm dừng chân trên hành trình của con người từ điểm đầu tiên tới điểm cuối cùng. Chỉ có trong kịch thì mới có chuyện ông già đặt tay lên lớp vỏ sần sùi của một cái cây mà khóc thương trước cho cái chết của chính mình; còn trong đời thực, nỗi dằn vặt của một người dành cho bản thân chỉ vô ngôn như ánh sáng mờ mịt trong đôi mắt của Ông, những ngày trôi qua đổ dồn vào một vũng nước tù đọng hôi tanh xung quanh cơ thể đang chết dần chết mòn của ông.
Buổi sáng ngày 31 tháng Tám, Bá Dương lấy dây thừng buộc chiếc phong cầm của Như Ngọc vào sau xe, còn Mạc Lan ngồi trên xe đạp của mình, giữ thăng bằng trên cả hai chân và đợi Dì nói xong với Như Ngọc để cô có thể nhảy lên yên sau ngồi. Đó là ngày lớp nhập môn đăng ký vào trường cấp ba. Ngoài giấy báo nhập học, Dì còn đưa Như Ngọc một tờ thư ngắn, bảo cô tới gặp giáo viên âm nhạc sau buổi đăng ký.
Ngôi trường, số 135, chiếm lĩnh một ngôi chùa cổ. Khuôn viên rộng trông như một công viên được điểm xuyết bằng những cây du cổ thụ và những bụi dâu tằm, ngôi vườn được thiết kế đẹp mắt nằm ở giữa từ lâu đã bị đám hoa dại và tường vi mọc lút lên. Vài dãy nhà gạch một tầng xây thô mới được dựng làm phòng học và ký túc xá, khiến khuôn viên trường mang dáng vẻ một công xã nhân dân được lập vội. Bản thân ngôi chùa, được trưng dụng thành nơi làm việc của ban quản lý và các giáo viên, được ngăn đôi và chia thành các văn phòng bằng các bức tường mỏng, nhưng những dấu hiệu của kiến trúc ban đầu - trần nhà cao, những cột gỗ tròn, và những khung cửa sổ dài và hẹp - vẫn còn thấy rõ. Bên trong là bóng tối triền miên: những bức tường và trần nhà vẫn giữ nguyên những ô gỗ sơn màu nâu thẫm; sàn nhà ban đầu lát gạch, màu xám, gồ ghề và ở một vài nơi được sửa bằng những mảng bê tông. Những ống đèn huỳnh quang kêu rì rì ở tiền phòng và trong các văn phòng. Chẳng có gì để mà yêu ở ngôi trường mới này cả, Như Ngọc nghĩ.
Mạc Lan và Bá Dương tỏ ra hào hứng khi cả ba người cùng được xếp vào một lớp. Sau khi đăng ký, họ đưa cô tới gặp thầy Thư, giáo viên âm nhạc. Phòng nhạc nằm trong một ngôi lán nhỏ ở đầu kia khuôn viên trường, Bá Dương nói trước kia đó là nơi dành cho người nhà các sư thầy ngủ lại khi tới thăm. Như Ngọc thoáng mường tượng cảnh Dạ Ngưng, bạn Tiểu Ái, ở một ngôi lán tương tự thế trong một ngôi chùa khác, chàng trai mà cô yêu mặc chiếc áo cà sa dài màu nâu, tay khẽ lần tràng hạt trong khi cô thổn thức nỗi niềm. Thật kỳ quặc, Như Ngọc nghĩ, khi thấy mình phải ở một nơi không liên quan gì đến cuộc đời mình nhưng lại cần thiết vào lúc này: chắc các bà dì không ngờ được rằng cô lại học trong một ngôi chùa cổ thờ Phật.
Thầy Thư là một trong những người xấu nhất Như Ngọc từng thấy. Vóc người thấp tịt, hói, bộ râu cạo lởm chởm và cặp mắt tròn lúc nào cũng mở thao láo tưởng chừng như chúng không bao giờ cần phải chớp, ông khiến cô liên tưởng tới một con cú mèo bị xù lông, nhưng lại trông có vẻ ngố ngố hơn là khiến người ta sợ hãi. Khi cười, ở ông toát ra một niềm vui chân chất, để lộ hàm răng ố vàng vì hút thuốc. “Thầy đang đợi em đây,” ông nói khi thấy Như Ngọc đến, vẫy tay bảo Bá Dương và Mạc Lan đi ra; hai người ngoan ngoãn rời phòng nhạc nhưng vẫn nán lại ở ngoài hiên, để cửa phòng khép hờ.
Như Ngọc chơi bản Bài hát của các dũng sĩ đấu bò Tây Ban Nha và Đa-nuýp xanh ; khi thầy bảo chơi tiếp, cô chơi thêm hai bản polka . Đã một tháng rồi cô không tập đàn, các ngón tay cô tuy chưa đến mức gượng gạo, nhưng cũng vài lần bị vấp ở những vị trí chúng chưa từng bị vấp trước đây. Thầy Thư gật đầu với cái nhìn đăm chiêu, rồi khi cô dừng lại, ông ngỏ ý muốn xem chiếc phong cầm của cô.
Dường như nhạc cụ này, dòng đàn 120 bass của hãng Parrot Accordion - dòng đáng khao khát nhất của thương hiệu tốt nhất mà các bà dì Như Ngọc đã mua với giá chợ đen khi cô lên chín tuổi - gây ấn tượng với ông hơn là màn biểu diễn của Như Ngọc hay tờ chứng nhận lớp tám mà cô đã đưa ông xem. Ông đưa một ngón tay chạm nhẹ vào đầu con vẹt màu vàng rồi lại lấy ống tay áo lau vết vân tay của mình vừa để lại. Cho thầy chơi thử được không, ông nói. Vâng, Như Ngọc trả lời, tránh nhìn vào những ngón tay to bè, dính nhựa thuốc của ông khi xếp chiếc đàn lại và tháo các sợi dây đai ra.
“Em chơi đàn được bao lâu rồi?”
“Sáu năm ạ.”
Thầy Thư nhận xét sáu năm không phải là tệ đối với một cô gái tuổi cô. “Bố mẹ em có chơi nhạc cụ nào không?” Ông hỏi, nhưng trước khi Như Ngọc kịp nghĩ cách trả lời cho phù hợp thì ông đã đánh bản Bài hát của những người du mục Mông Cổ , bàn tay phải gớm ghiếc của ông lướt lên lướt xuống bàn phím như một vũ công khoe khoang, bàn tay trái kéo và ấn vào phần ống xếp với một sự thành thục rất tự nhiên. Trong lúc ông đang chơi dở thì một người phụ nữ cao ráo, dáng người khỏe khoắn tiến về phía cửa phòng. Mạc Lan và Bá Dương, lúc này đang đứng dựa vào khung cửa, vội vàng đứng thẳng người và nhường đường cho người phụ nữ nọ. Cô ngồi xuống chiếc ghế gần thầy Thư rồi xem ông chơi đàn, khuôn mặt cô dịu lại dù không để lộ nụ cười. Khi thầy đàn xong, cô tự giới thiệu mình là Hiệu trưởng Lưu. Về sau, khi Như Ngọc thân với thầy Thư hơn, những lúc không có ai xung quanh, ông hay kể cho cô nghe nhiều chuyện về Hiệu trưởng Lưu, chuyện cô không chịu lấy chồng để thực hiện tham vọng trở thành nhà giáo dục hàng đầu, chuyện đằng sau vẻ ngoài nghiêm khắc và đáng sợ, cô là một người phụ nữ tốt bụng nhưng ít người gần gũi.
“Đấy, chơi phong cầm là phải như thế. Đó là ban nhạc một người, và cái gì em cũng phải biết làm một chút. Em phải biết hát, biết thầm thì, gầm rống, thủ thỉ chuyện trò, và ngân nga, hay thậm chí là cả khóc lóc,” thầy Thư nói, nới dây đai đàn ra và cẩn thận đưa nó lại cho Như Ngọc. “Hãy hình dung em là một võ sĩ đấu bò, và một con bò khổng lồ đang lao về phía em. Điều đó mang lại cho em cảm giác gì khi bước vào bài hát?”
Như Ngọc chăm chú nhìn ông. Cô không biết đó có phải là một câu hỏi yêu cầu câu trả lời từ mình hay không.
Thầy Thư gãi gãi đầu. “Có lẽ như thế thì đòi hỏi em nhiều quá. Thôi được rồi, em thì không làm võ sĩ đấu bò được. Vậy thì hãy hình dung em đang mặc một bộ đầm thướt tha và được dìu nhảy quanh một phòng khiêu vũ ở Vienna,” thầy Thư nói rồi ngân nga vài giai điệu của bản Đa-nuýp xanh và tự xoay người, hai cánh tay ông giơ lên rất đúng điệu, cằm ngẩng cao. Bá Dương bật cười, nhưng bị Mạc Lan chặn lại ngay lập tức.
Thầy Thư xoay người trở lại, dừng trước mặt Như Ngọc rồi hỏi: “Trong một điệu nhảy như thế thì cơ thể em sẽ di chuyển như thế nào?”
“Em không biết nhảy.”
“Em không cần phải biết. Cứ hình dung thôi. Hãy nghĩ mình là Công chúa Sissi. Hãy nghĩ mình là Romy Schneider đang vào vai Sissi,” thầy Thư nói. “Mà em có biết bộ phim thầy đang nói đến là gì không đã?”
“Không ạ.”
Thầy Thư ngừng lại, rồi phác một cử chỉ như đầu hàng.
Như Ngọc phân vân không biết có phải mình vừa trượt bài phỏng vấn không. Ngoài thầy Thư và người dạy phong cầm trước đây, một thầy giáo già mà các bà dì đã thuê để dạy cô hai buổi mỗi tuần, cô chưa gặp nhạc sĩ nào, mà cũng chưa suy nghĩ gì nhiều về âm nhạc hay những người chơi nhạc cả. Cô không thích, cũng không ghét âm nhạc, vì ưa thích hay ghét bỏ bất kỳ điều gì trong cuộc sống cũng đều là những việc không liên quan. Lẽ ra cô cũng đã có thể dễ dàng trở thành một cao thủ cờ vua, một họa sĩ hay một vũ công ba lê - bất kỳ điều gì có thể phân biệt cô với bạn bè đồng trang lứa ở thị trấn tỉnh lẻ đó. Việc âm nhạc được lựa chọn cho cô, việc cây đàn phong cầm được lựa chọn làm nhạc cụ của cô - Như Ngọc chấp nhận tất cả những điều này bởi vì chúng là một phần trong những thứ cần thiết của cuộc đời. Cô không thấy ý nghĩa của việc tưởng tượng mình trong hình hài một nàng công chúa.
Thầy Thư gật đầu với Hiệu trưởng Lưu, hai người rút vào một văn phòng nhỏ gần phòng nhạc. Mạc Lan ra hiệu cho Như Ngọc, cô ngập ngừng rồi đi về phía cửa, mang theo hộp đàn. “Thầy Thư không phải là người hài hước nhất hay sao chứ?” Mạc Lan hỏi.
“Thế à?” Như Ngọc nói.
Mạc Lan đỏ bừng mặt. “À, ban đầu thì có lẽ thầy không được dễ chịu lắm, nhưng cứ tin tôi đi, thầy đúng là một trong những giáo viên giỏi nhất đấy.”
“Nói cho cậu biết nhé,” Bá Dương thì thào với Như Ngọc, “Mạc Lan thích thầy Thư ba năm trời nay rồi đấy.”
“Này,” Mạc Lan nói. “Này!”
“Mà thầy Thư chưa có vợ nhé,” Bá Dương vẫn nói với Như Ngọc nhưng lại toe toét cười nhìn Mạc Lan, vốn đang chực lên tiếng thì thầy Thư và Hiệu trưởng Lưu bước ra. Ông đưa cho Như Ngọc một tập giấy chép nhạc và dặn bắt đầu từ tuần sau, thầy sẽ dạy cô vào thứ Ba hằng tuần lúc 4 giờ. Thầy cũng bảo cô có thể để nhạc cụ ở đây, rồi đưa cho cô hai chiếc chìa khóa, một chiếc nhỏ dùng để mở phòng an ninh, nơi giữ tất cả các loại nhạc cụ, và một chiếc lớn hơn bằng đồng để mở cửa lớn.
Các bà dì chưa hề nói với Như Ngọc về các giờ học phong cầm cả, khiến cô băn khoăn không biết mình có phải phân trần với thầy Thư rằng cô không có tiền để trả cho thầy không. Liệu điều đó có làm ảnh hưởng đến địa vị của cô ở trường không? Về sau, cô giãi bày băn khoăn này với Mạc Lan và Bá Dương. “Sao cậu phải trả tiền cho thầy nếu như cậu đã là học sinh trong trường rồi?” Bá Dương nói.
“Nếu không thì tại sao thầy ấy lại dạy tôi?” Như Ngọc nói, rồi kể rằng thầy dạy nhạc ở nhà cô được trả công mười tệ mỗi buổi, cộng thêm cả tiền mua vé xe buýt khứ hồi.
“Chẳng phải thầy Thư được nhà trường trả lương hay sao?” Mạc Lan nói.
“Nhưng nhà trường có trả thêm cho thầy để dạy tôi không?” Như Ngọc nói. “Có thể tôi đã không đến đây. Có thể thầy vẫn kiếm được mức lương như thế mà không cần phải dạy tôi, chẳng phải thế sao?”
Mạc Lan quay sang nhìn sát mặt Như Ngọc, nhưng khuôn mặt cô vẫn kỳ bí khó hiểu như thế. Băn khoăn của Như Ngọc có vẻ hợp lý, song Mạc Lan không thể đừng được cái suy nghĩ rằng logic của Như Ngọc có vấn đề. Mạc Lan muốn giải thích cho Như Ngọc rằng trong cuộc sống có nhiều thứ khác hơn là tiền bạc, và trong hình dung của mình, cô có thể làm được điều đó, một cách kiên trì, như khi cô phải đứng ra giải hòa xích mích giữa hai đứa trẻ hàng xóm. Giống như các gia đình khác trong khu tập thể, gia đình Mạc Lan không thuộc diện khá giả, nhưng những sự chật vật mà họ trải qua cũng là những điều mà hầu hết những người mà họ biết đều đã và đang trải qua, đó là tính toán khéo léo để cho vừa cuộc sống tằn tiện, là việc phải chia khẩu phần trứng, thịt, cùng các loại thực phẩm khác sao cho đủ dùng trong cả tháng. Nhưng cái chật vật ấy không ngăn bố mẹ Mạc Lan đừng làm dư vài cái bánh bao để mang cho hàng xóm hay đừng chia sẻ với họ ít hoa quả tươi mà bố cô thi thoảng được cho ở chỗ làm. Sự tử tế này cũng được những người khác đền đáp lại, và cuộc sống mà Mạc Lan biết, cuộc sống diễn ra trong gia đình cô cũng như với hàng xóm láng giềng và bạn bè, không phải là cuộc sống mà trong đó của cải, hay sự thiếu của cải, được cho là một nhân tố quan trọng. Nhưng dù chỉ mới thầm nghĩ đến lập luận này trong đầu, Mạc Lan cũng biết điều khiến cô hoang mang không đơn thuần chỉ là những băn khoăn về tiền bạc của Như Ngọc. Dường như việc hình dung cuộc sống của thầy Thư khi không có mình là điều diễn ra rất tự nhiên với Như Ngọc; vậy thì có lẽ cô cũng sẽ rất dễ hình dung ra một cuộc sống mà không có thầy Thư, hay Bá Dương và cả chính Mạc Lan nữa. Mạc Lan, không biết điều gì nằm ngoài tầm với của mình, một cách vô thức, đã xích lại gần Như Ngọc hơn, như thể đang muốn tìm kiếm cho mình sự trấn an.
“Nếu các cậu hỏi tôi...” Bá Dương nói.
“Nhưng có ai hỏi cậu đâu,” Mạc Lan gắt, khiến cả hai người kia ngạc nhiên.
“Được rồi, dù các cậu không hỏi, nhưng tôi cũng cứ phải nói rằng chúng ta đừng ôm rơm rặm bụng nữa,” Bá Dương nói. Anh nói thêm, mọi việc sẽ ổn thỏa cả thôi, không cách này thì cách khác, và thay vì đứng thộn mặt trước cổng trường như ba đứa học sinh mới lơ ngơ, sao chúng ta không tới Hậu Hải, thuê một chiếc thuyền chơi cho đã đời cả chiều và tận hưởng ngày cuối cùng của mùa hè trước khi quay lại cái lồng?
“Cái lồng ư?” Mạc Lan nói. “Nếu bố mẹ biết cậu nói về trường học như thế, chắc họ sẽ quản cậu thật chặt.”
“Khi ấy thì tôi sẽ gặp rắc rối to,” Bá Dương vừa nói vừa giả điệu bộ một con khỉ bị nhốt trong lồng và phát ra những tiếng kêu rít chói tai.
Như Ngọc xem màn biểu diễn của Bá Dương, nhưng khi thấy cô không cười như Mạc Lan, Bá Dương hỏi có phải cô vẫn còn lo lắng về tiết học phong cầm hay không. Cô lắc đầu. “Làm sao cậu biết bây giờ cậu chưa ở trong lồng?” Cô hỏi.
“Ha ha, cậu hỏi hay đấy,” Bá Dương nói. “Những trò đùa hay nhất luôn là các trò do những người như cậu kể, những người thậm chí còn không cười khi nói điều hài hước.”
Mạc Lan liếc nhìn Bá Dương và khơi lại lời đề nghị bơi thuyền. Ngày hôm đó, với vầng mặt trời chói chang vẫn còn ở trên cao giữa bầu trời không một gợn mây, mang màu sắc phi thực. Những hình ảnh thấp thoáng về đời sống học đường sắp tới mà Như Ngọc nhìn thấy, khi Bá Dương và Mạc Lan chỉ cho cô xem khuôn viên trường, dường như xa lạ hẳn so với những gì mà họ từng quen thuộc trong mùa hè. Những phòng học, tất cả đều mới sơn, với những chiếc ghế vẫn còn nằm chơ hơ trên bàn, chân ghế chổng lên tạo thành một khu rừng kim loại nhỏ, trông thân thuộc nhưng không lấy gì làm dễ chịu; dãy nhà phụ dành cho các môn khoa học, nơi một phòng thì những chiếc đèn bunsen được gom lại thành bó trên một chiếc ghế băng cạnh cửa ra vào, một phòng khác thì treo những tấm áp phích mới chồng lên những tấm áp phích cũ, trên đó minh họa một cách sống động lục phủ ngũ tạng của ếch nhái và con người, lại toát ra bầu không khí lạnh lẽo và thiếu sinh khí; gần đường đua, một giáo viên thể dục đang dùng vòi nước rửa mấy chiếc bàn chơi bóng bàn bằng xi măng; ở tít cuối khuôn viên, những học sinh ở ký túc xá đã chuyển đến, mấy chiếc chăn đủ màu sắc đang được hong trên dây phơi; hai cô gái đứng ở cửa vào một khu ký túc, trông có vẻ lúng túng: một người vừa để chiếc phích hơi gần mép cầu thang nên nó rơi xuống, gần như không ra tiếng, nhưng nước nóng đổ tràn ra các bậc cầu thang, hơi nước bốc lên.
Mọi sự háo hức đều chỉ lối đến ngày mai, khi những hành động và sự tiếp xúc qua lại sẽ quyết định mỗi người ai sẽ ở lớp mới, giữa những nhóm người mới; vì vậy mà ngày hôm nay lại trở thành một bầu chân không, biến thành hư không trước khi thời khắc kết thúc của nó đến.
Mạc Lan uể oải nhìn Như Ngọc, nửa hy vọng cô sẽ đồng ý với chuyến đi chơi ngẫu hứng, nửa lại sợ rằng cô sẽ từ chối. Ở một mình cả ngày, ít nhất là với Mạc Lan, dường như là điều không thể tưởng tượng nổi: trong đời cô, hiếm khi có ngày nào trôi qua mà thiếu bóng Bá Dương; thế nhưng dù có hay không sự đồng hành của họ, dường như Như Ngọc cũng chẳng thấy phiền hà gì.
“Một ngày nữa ở hồ à?” Như Ngọc hỏi, nhưng giọng nói của cô cũng mơ hồ như khuôn mặt vậy, và Mạc Lan không thể nhìn ra sự hứng thú nào cả.
Mạc Lan và Bá Dương có thể không cần suy nghĩ gì nhiều mà đạp xe tới địa điểm yêu thích của mình bên bờ hồ, nhảy xuống một chiếc thuyền, và dành cả buổi chiều lênh đênh trên sóng nước, lắng nghe tiếng ve sầu ra rả trong các rặng cây, nhìn những người bán hàng rong đi lại trong các con hẻm, rồi lan man đủ thứ chuyện trên trời dưới đất với nhau, nhưng cái khả năng này, vốn chỉ một tháng trước đây hẳn còn là bức tranh hoàn hảo về một ngày hè với những sự vô tâm vô tư rất đỗi quen thuộc của nó, bây giờ lại cảm tưởng như thiếu hoàn hảo, như thể khi bước vào thế giới của họ, Như Ngọc đã khiến cho cái thế giới đó trở nên nhỏ bé hơn. Lúc này cả ba người, ít nhất là đối với Mạc Lan, đã cho rằng họ là một nhóm chứ không chỉ còn là Bá Dương và cô nữa. “Đi với tụi tôi nào,” Mạc Lan nói, và cái sắc thái nài nỉ trong giọng nói của chính cô khiến cô khẽ rùng mình dưới bóng râm của những tán cây.