Mạc Lan đọc đi đọc lại tờ hướng dẫn nhân viên hai lần, nhưng việc vợ hoặc chồng cũ ốm đau, dù bệnh tình trầm trọng đến đâu, cũng không được coi là lý do hợp lệ để kéo dài ngày nghỉ phép. Điều này không có gì bất ngờ, nhưng nó cũng thêm một lần nhắc cho cô nhớ rằng khi một cái chết đang sắp sửa diễn ra, thì mọi mối liên lạc nằm ngoài phạm vi máu mủ hay hôn thú đều bị coi là không cần thiết. Cô băn khoăn không biết còn những lựa chọn nào khác không. Hoặc giả cái ý tưởng xin nghỉ phép là quá tham lam: những cái chết, giống như những ký ức, đòi hỏi sự toàn tâm toàn ý của con người, không chừa ra khe hở nào để thương lượng cả.
Mạc Lan lấy một tờ giấy, liệt kê ra những việc cô cần xem xét, những khoản chi tiêu có thể, và những gì đang có. Cô đã tiết kiệm được một chút thời gian nghỉ phép - cô ít khi nghỉ, ngoại trừ chuyến du lịch hàng năm vào kỳ nghỉ cùng bố mẹ. Hợp đồng thuê nhà sẽ đáo hạn vào cuối tháng Tám năm sau, nhưng nếu không tìm được người để cho thuê lại nơi này, cô có thể tiếp tục trả tiền nhà từ xa. Tài khoản tiết kiệm đủ để duy trì cuộc sống cho cô trong hai năm hoặc hơn; cô vốn vẫn luôn sống đơn giản, và sẽ tiếp tục sống như vậy sau khi chuyển đi. Danh mục đầu tư của cô vừa rồi cũng thu được chút lợi nhuận nho nhỏ, vì cô là một nhà đầu tư bảo thủ, không có nhiều tham vọng, do đó hầu như không bị ảnh hưởng tiêu cực nào trong cuộc khủng hoảng tài chính gần đây. Cô sẽ giữ cổ phiếu của công ty mình mà cô đã tích lũy được trong suốt những năm qua để làm kế hoạch dự phòng cho những trường hợp khẩn cấp. Những thứ hữu hình này - những con số, những cột, những danh sách - giúp trấn an Mạc Lan, vì chúng mang đến cho buổi chiều này một mục đích, thứ vốn vẫn vắng mặt trong các buổi chiều khác. Cô sẽ giữ lại chiếc xe của mình, một chiếc Saab cũ; và cô cũng sẽ giữ lại quần áo cùng một chút ít đồ đạc đã gắn bó bấy lâu nay. Có thể dọn sạch cả ngôi nhà bằng một đợt bán đồ cũ cuối tuần; những gì không bán được có thể để lại cửa hàng từ thiện trong trung tâm thành phố. Ở miền Trung Tây, cô sẽ không cần đến một nơi có diện tích bằng với ngôi nhà đang thuê; có thể ở trong một căn hộ độc thân là được rồi. Bây giờ cô đã có thể hình dung về nơi đó; không, không phải một nơi với hình hài cụ thể, mà là sự tĩnh lặng êm đềm của nó, thứ đã trở thành một sự cần thiết đối với cô, một môi trường sống.
Mạc Lan nhẹ lòng khi thấy nhiều thứ có thể được hoàn thành, và hoàn thành mà không có những sự phức tạp hay khó khăn gì. Mười sáu năm trước, cô đến đất nước này với hai chiếc va li mà trong đó đã gói ghém mọi thứ cô hình dung là sẽ cần thiết để bắt đầu một cuộc sống mới: quần áo, một cặp chăn gối được nén và buộc thật chặt để tiết kiệm diện tích, hai chiếc bát ăn, một đôi đũa, một con dao gấp, một con dao pha, hai hộp trà, một cái ô, hai gói băng vệ sinh, và một cuốn từ điển Trung - Anh. Những gì cô không thể đưa vào trong hành lý của mình - máy nghe nhạc Sony Walkman và những chiếc băng cát-xét, những cuốn sách, vài cuốn nhật ký thời con gái, và cuốn album ảnh mà mẹ cô đã gom lại, trong đó có những bức ảnh chụp nhiều giai đoạn khác nhau trong cuộc đời cô - tất cả những thứ này mẹ cô đã hứa sẽ giữ gìn thật cẩn thận chờ đến ngày cô về. Nhưng cô chưa từng quay về để lấy chúng - người ta hiếm khi lấy lại những gì mình đã mất , cô đã đọc được câu này ở đâu đó, họ chỉ đơn giản là thay thế chúng mà thôi . Khi nhận thấy rằng có lẽ cô sẽ không quay về, trong một chuyến thăm Mỹ, bố mẹ cô đã mang theo cuốn album và những cuốn nhật ký. Mạc Lan cất chúng đi mà không mở ra xem.
Sau ly hôn, Mạc Lan lại lên đường với hai chiếc va li cũ cùng với lượng hành lý mang theo còn ít hơn trước. Tất cả những gì từng là quan trọng cô đều đã bỏ lại sau lưng. Chiếc nhẫn cô trả lại cho Josef; cái ý nghĩ rằng anh có tới hai cặp nhẫn để tùy nghi vứt bỏ, hay giữ lại, khiến tim cô đau nhói, nhưng cô không biết phải làm gì - mà cô cũng không muốn làm gì - để làm dịu bớt nỗi đau của chính mình, bởi hẳn là nó còn khiến Josef đau lòng hơn. Những bức ảnh cưới và ảnh chụp trong tuần trăng mật - một tuần ngoài khơi ở Nam Carolina (Josef định rủ cô đi Bahamas, nhưng hộ chiếu Trung Quốc của Mạc Lan khi ấy khiến cô khó có thể đi đâu ra ngoài lãnh thổ nước Mỹ) - cô đã nhờ Josef giữ lại cùng với những bức ảnh gia đình của anh. Em đi nhẹ nhàng quá, anh nói khi thả cô xuống sân bay, đôi mắt xanh của anh đượm một nỗi buồn man mác, nhưng điều anh muốn nói, điều thực sự khiến anh thất vọng, là cô đã xem mọi việc nhẹ nhàng quá. Tâm lý người nhập cư là như vậy mà, cô trả lời; đó là một lời biện hộ ở đầu môi mà cô đã dùng đi dùng lại nhiều lần khi tiếp tục sống trong một trạng thái mà dưới mắt Josef và những người khác là tạm bợ nhưng qua năm tháng đã mang màu sắc của sự dài lâu. Để có thể, vào bất kỳ giây phút nào, nhổ những chiếc rễ chỉ được cắm xuống một cách tối thiểu, để có thể ra đi mà không bị chú ý hay nhớ nhung - những điều đó đã mang lại cho cô một cảm giác lạ lùng về thứ tự do tinh khiết. Cái gì dính mắc đến tâm đều khiến tâm loạn động ; cô đã gặp câu này trong một cuốn sách của nhà Phật mà cô đọc sau khi Tiểu Ái bị đầu độc; không cầu không khổ .
Nhưng bao nhiêu con tim có thể thực sự giữ cho chúng miễn nhiễm trước tất thảy mọi thứ có khả năng khiến chúng khốn khổ? Bằng kỷ luật, Mạc Lan đã sống trong sự yên bình, không xáo trộn kể từ sau ly hôn; không, ngay cả trong cuộc hôn nhân của mình, cô cũng không mong mỏi gì ngoại trừ sự bình yên. Nhưng sự yên bình như thế chỉ là một chiếc cổng được khóa kỹ, và hơn ai hết, Josef đã nhẹ nhàng chỉ ra điều đó cho cô, không đẩy cánh cổng đó mà bước vào, nhưng cũng không vờ như anh chẳng nhìn thấy nó. Phải chăng đó là lý do tại sao cô lại phá vỡ lời thề hôn ước của mình? Mạc Lan cưới Josef vì tất cả những gì cô có thể kế thừa từ quá khứ của anh - bạn bè, con cái, và các cháu của anh - để cô không phải xây dựng một cuộc đời của riêng mình; cô những tưởng rằng cái đông đúc ở thế giới của anh sẽ để cho một cô vợ trẻ được lẳng lặng tồn tại, cuộc hôn nhân đầu của anh, lâu dài và hạnh phúc, sẽ mang lại cho cô đủ bóng râm để cô chỉ cần là một sự thay thế. Nhưng cô nhận ra mình đã sai. Josef không coi chuyện hôn nhân nhẹ nhàng như cô. Cuộc sống, vốn công bằng, đôi khi còn công bằng tới mức không ngờ, chăng ra những cái mạng để đánh bẫy cả những sinh vật được ngụy trang kĩ nhất: Mạc Lan, hoảng hốt trước tình huống mà cô phát hiện mình đã rơi vào - cô chỉ tìm kiếm sự tử tế nhưng lại nhận về được cả một tình yêu - đã vùng vẫy hết sức để giải thoát cho chính mình, và trong cuộc vật lộn ấy cô cũng đã để lại vài vết xước trong cuộc đời Josef. Cô không cho phép mình tin vào bất kỳ vết thương nào sâu đậm hơn thế. Cái ý nghĩ rằng biết đâu cô lại là kẻ nhẫn tâm vượt quá sức chịu đựng của cô: sự nhẫn tâm là một nét tính cách mà cô liên hệ với Bá Dương, và trước anh, Như Ngọc; trước Như Ngọc là không ai cả, vì trong những ngày ấy, mù quáng trước niềm khát khao yêu, Mạc Lan thấy thế giới này là một nơi tràn ngập tình yêu thương.
Mạc Lan gặp Josef ở một nhà tù của hạt vào năm đầu tiên cô sống ở Mỹ, trong một chuyến thăm nhà tù do một nhóm ở nhà thờ địa phương tổ chức để giới thiệu với các sinh viên quốc tế về hệ thống pháp lý của Mỹ. Nhóm này cũng từng tài trợ cho các buổi gặp mặt khác - những buổi liên hoan cây nhà lá vườn trong công viên, các lớp học tiếng Anh miễn phí vào những tối thứ Ba và thứ Năm hằng tuần, và một buổi hòa nhạc quyên góp tiền từ thiện cho nhà thờ - nhưng Mạc Lan chưa từng tham dự sự kiện nào trong số đó.
Khi Mạc Lan tới nhà tù thì chỉ có bốn sinh viên - hai chàng trai từ Ấn Độ và một cặp đôi trẻ từ Thái Lan. Vài phút sau, một người đàn ông béo lùn, hói đầu và ăn vận nghiêm túc trong chiếc áo khoác tối màu, xuất hiện và giới thiệu mình là Josef. Anh nói người phụ trách hôm nay bị cúm dạ dày nên anh phải hỗ trợ.
Vị cảnh sát trưởng chủ trì chuyến tham quan dường như không hề nản lòng trước lượng khán giả èo uột của mình. Phần giới thiệu ban đầu của ông ở hành lang kéo dài gần một tiếng, trong đó ông kể chi tiết về lần bị một cậu choai choai bắn, về những chấn thương tâm lý mà ông phải vượt qua, về những thách thức mà một nhân viên thực thi pháp luật phải đối mặt hằng ngày, về nước Mỹ và luật pháp của nó.
Cặp đôi người Thái mỉm cười gật đầu, hai tay chắp sau lưng. Hai cậu trai Ấn Độ hào hiệp xung phong khi vị cảnh sát trưởng đưa chiếc còng tay ra để minh họa việc bị còng tay đau và không đau, tùy thuộc vào thái độ hợp tác ra sao. Mạc Lan định bụng lẻn đi, nhưng Josef, lúc này đang đứng sau những người mà anh phụ trách, một cách hết sức mẫn cán đã chắn lối cô tới cửa ra. Cô đành nghiền ngẫm đọc lại thông tin về giờ tham quan dán trên tường mà cô đã thuộc lòng từ lúc nào. Hôm đó là thứ Bảy, ngày duy nhất trong tuần các tù nhân không được phép tiếp khách. Đầu Mạc Lan chợt đau nhói, nhưng dĩ nhiên trong cuộc sống, con người ta có nhiều cái để chịu đựng hơn là phải chịu đựng một buổi chiều trong một nhà tù của hạt, vốn một lúc nào đó cũng sẽ đến hồi kết.
Khi vị cảnh sát trưởng mở cánh cổng sắt, các vị khách ngoại quốc vừa thở phào nhẹ nhõm vừa cảm thấy một sự tôn kính kín đáo. Qua cánh cửa có chấn song của một xà lim có độ an ninh thấp, họ nhìn thấy vài người nam giới mặc quần áo màu vàng cam đang ngồi quanh một chiếc bàn chơi bài, không ai buồn ngẩng mặt lên để ngó vào toán người đứng ở hành lang. Đủ mọi thứ lý do, vị cảnh sát trưởng trả lời khi cặp đôi người Thái rụt rè hỏi vì nguyên nhân gì mà họ vào đây. Ở một xà lim không người, vị cảnh sát trưởng chỉ cho họ thấy một bệ xí bằng kim loại không có nắp đậy cũng không có bệ ngồi, và một tấm đệm màu nâu gấp ở một góc. Ông dùng một chiếc thước dây để minh họa kích thước của ô cửa sổ, không đủ rộng để một người gầy gò nhất có thể trèo qua, nhưng mang lại một tầm nhìn rộng rãi về thế giới bên ngoài: những ngọn cây trơ trụi lá, những đám mây thấp màu chì trên trời.
Một trong bốn xà lim có độ an ninh cao với tù nhân bên trong, vị cảnh sát trưởng dừng lại trước cửa để giới thiệu. Ông mở ô cửa quan sát và ghé mắt nhìn vào trong rồi lại đóng lại. Giọng một phụ nữ vọng ra, lúc đầu là tiếng thút thít, rồi la hét, rồi nhỏ dần lại thành tiếng thút thít. Một cái giỏ sắt gắn ở khung cửa đựng một bàn chải và một ống kem đánh răng nhỏ.
Cặp đôi người Thái lảng nhìn đi chỗ khác, như thể đang ngại ngùng thay cho vị cảnh sát trưởng. Khi ông hỏi có ai muốn thử mặc chiếc áo trói tù nhân để ở bên ngoài xà lim không, ngay cả hai cậu trai Ấn Độ đầy hào hứng cũng không lên tiếng tình nguyện. Qua một khúc ngoặt, họ tới văn phòng, nơi vị cảnh sát trưởng lại thực hiện một tràng diễn văn nữa. Tới khi cả nhóm được thả ra vỉa hè vắng người và lạnh lẽo, trời đã chạng vạng. Trong ánh vàng của những ngọn đèn đường, những bông tuyết lớn lặng lẽ rơi, và cả không gian đã bị phủ một tầng trắng tinh khôi từ lúc nào.
Đó là lần đầu tiên hai cậu trai Ấn Độ và cặp đôi người Thái nhìn thấy tuyết, nên tất cả đều phấn khích hẳn lên, như thể buổi chiều vừa qua là một bài kiểm tra họ phải vượt qua để có thể chứng kiến cảnh tượng tuyệt vời này. Cả hai cặp nhanh chóng đi khuất, một cặp thì nặng nề đi lên hướng đồi, cặp kia thì hối hả đi về phía hồ. Mạc Lan và Josef đứng lặng yên giây lát, cả hai cùng bất động trong nỗi sợ hãi khi vừa bị tách riêng. Rồi Josef lên tiếng hỏi Mạc Lan có ổn không, và ngỏ ý mời cô một tách sô-cô-la nóng để hồi sức sau chuyến tham quan khủng khiếp vừa rồi.
Ngồi trong quán, Josef hỏi Mạc Lan từ đâu đến, đang học gì ở trường đại học, và từ khi đến Mỹ đã bị cú sốc văn hóa nào chưa; Mạc Lan đã giắt lưng sẵn một kho các câu trả lời cho những câu hỏi như vậy, những câu trả lời mà nhiệm vụ của chúng là ngăn mọi câu hỏi thêm. Khi đã cạn câu hỏi, Josef đành quay sang kể rằng anh vốn không phải là thành viên trong nhóm nhà thờ, nhưng một cặp vợ chồng, cũng là bạn bè lâu năm của anh, cứ rủ anh tham gia vào các hoạt động của nhóm. “Tôi hy vọng là cô thích các hoạt động kia hơn là hoạt động ngày hôm nay,” anh nói.
Mạc Lan nói cô chưa từng tham gia bất kỳ sự kiện nào.
“Vậy ra cô muốn đi xem nhà tù?” Josef hỏi. “Chứ không phải là một trận bóng đá? Không phải lễ hội Oktoberfest 2 sao?”
Không có sẵn câu trả lời, Mạc Lan chỉ lắc đầu, như thể chính cô cũng đang bối rối. Cô đã làm quen sơ với vài người ở thành phố mới, nhưng không muốn kết thân với ai cả; một cô gái cùng trường đại học với cô cũng tới Madison để học trường kĩ thuật, nhưng Mạc Lan đã từ chối khi cô này ngỏ ý mời ở chung phòng. Thấy Josef vẫn kiên nhẫn ngồi đợi câu trả lời, Mạc Lan nói có lẽ vì cô có cách nhìn cuộc sống tiêu cực, và luôn bị hút về phía tối tăm của thế giới. Cô không nói Oktoberfest và các trận bóng đá ở trường đại học không thu hút bởi vì chúng là những sự kiện mà người ta phải đi cùng với người khác.
Josef nhìn cô chăm chú hơn. Mạc Lan chột dạ phân vân không biết liệu anh có đòi cô giải thích thêm gì nữa không, bởi cô không thể, mà đúng hơn là không muốn, giải thích gì cả. Nhưng Josef chỉ hất hàm về phía biển tên cô đeo và hỏi Lara có phải là một cái tên phổ biến ở Trung Quốc không.
Mạc Lan trả lời, sau khi đến đây cô đã quyết định chọn lấy một cái tên Mỹ, vì rằng cô nghĩ có thể người Mỹ sẽ khó phát âm tên mình, nhưng điều đó chỉ đúng phần nào. Trong chương trình học Tiến sĩ hóa học hiện nay, cô vẫn để tên là Mạc Lan; ở Westlawn, một tòa nhà ba tầng dành cho các nữ nghiên cứu sinh chuyên ngành khoa học và công nghệ, Mạc Lan có một phòng ngủ riêng và chung bếp ăn, phòng tắm, và phòng khách với tám nữ sinh khác - hai người từ Ba Lan, ba người từ Ukraina, hai người từ Jordan học trong chương trình trao đổi sinh viên, và một người Hàn Quốc gốc Canada - không ai gặp khó khăn khi phát âm tên Trung Quốc của cô cả. Cô chỉ dùng tên Lara với người lạ, chẳng hạn như chàng trai trẻ phụ trách khu nướng ở căng tin sinh viên, và người thu ngân ở cửa hàng tạp hóa có một bàn tay lắp móc để thay thế và hễ thấy Mạc Lan là giơ tay lên vẫy rối rít đến nỗi cô buộc lòng phải tới thanh toán ở quầy của anh ta. Anh này kể với cô rằng trước đây có thời gian anh nghiện rượu; khi hai vợ chồng ly hôn, vợ anh đã giành hết quyền nuôi cả hai đứa con, nhưng trước đó anh còn bị mất một cánh tay khi lái xe đâm vào tường. Kể từ đó không bao giờ tôi đụng vào một giọt rượu nào nữa, anh vui vẻ khoe, và lúc nào cũng chúc Lara có thời gian vui vẻ ở Mỹ trong khi dùng bàn tay lành lặn ấn dấu ghi tổng số tiền thanh toán của cô vào sổ.
Josef lại hỏi câu gì đó, và Mạc Lan vì lơ đãng nên bảo anh nhắc lại. “Tại sao cô lại quyết định chọn tên Lara?” Anh nhắc lại câu hỏi.
“Tôi muốn tên nào đơn giản thôi.”
“Nhưng sao lại là Lara? Sao không phải là Lily hay Nancy?”
Mạc Lan tự nhủ, hay Josef là kẻ nhàm chán, chỉ có thể hiểu những thứ vốn đã có sẵn lời giải thích hay không. Ở đại học, Mạc Lan đã hẹn hò, một cách hờ hững, với hai chàng trai, và cả hai đều khiến cô phát ngấy khi cứ cố tìm cách đơn giản hóa thế giới thành một đống lộn xộn các thứ cần được sắp xếp lại. Mạc Lan băn khoăn, có phải ngày trẻ Josef cũng khiến các cô gái trạc tuổi anh phải phát cáu lên như thế này không, nhưng Josef, không nhận ra sự khinh miệt ở Mạc Lan, vẫn kiên nhẫn chờ, cặp mắt của anh thật trong trẻo. Đó là lần đầu tiên Mạc Lan nhìn thấy một đôi mắt xanh ở khoảng cách gần như vậy.
“Tôi mượn tên đó từ một cuốn tiểu thuyết của Nga,” Mạc Lan nói.
“Không tình cờ là cuốn Bác sĩ Zhivago đấy chứ?”
Mạc Lan sửng sốt nhìn lên. “Thảo nào ngay khi cô nói tên cô, tôi đã ngờ ngợ rồi,” Josef nói, và bắt đầu ngân nga Giai điệu của Lara . Giọng của anh, chỉ vừa đủ lớn để hai người có thể nghe được, khiến Mạc Lan kinh ngạc: chất giọng đẹp và buồn đó dường như thuộc về một thời đại nào xa lắm, khi mà đàn ông thì đẹp trai, đàn bà thì xinh gái, còn sự lãng mạn được mặc sức thăng hoa và dấu vết duy nhất của cái chết là những hình ảnh mờ dần xuất hiện vào đúng lúc.
“Một bài hát gắn liền với tuổi trẻ của tôi,” Josef nói sau khi hát xong.
“Với tuổi trẻ của tôi nữa,” Mạc Lan nói. Trong căn phòng của cô ở Bắc Kinh, có một thùng tiểu thuyết, trong đó có cuốn Bác sĩ Zhivago , mà cô không nỡ bán đi dù trong thâm tâm cô biết rằng mình sẽ không bao giờ quay về để đọc lại chúng. Những cuốn sách đó từng là bạn đồng hành trung thành của cô trong hai năm cuối cấp ba. Khi đó, Tiểu Ái và bố mẹ cô đã chuyển đi khỏi khu tập thể. Còn Như Ngọc, vẫn đang học cùng trường cấp ba với cô, trở thành học sinh diện nội trú và không hé răng nói với cô một lời khi tình cờ gặp nhau ở trường. Bố mẹ Bá Dương cũng chuyển anh đi chỗ khác, gửi anh tới trường cấp ba liên kết với trường đại học nơi họ làm việc; vào dịp cuối tuần, khi anh trở lại khu tập thể để thăm bà, Mạc Lan hoặc là tìm lý do để đi đâu đó, hoặc là ở lì trong phòng, vùi đầu vào một trong những cuốn tiểu thuyết nặng trịch dịch từ tiếng Nga hay tiếng Pháp. Vốn trước đây cô không ham mê gì văn học, nhưng những cuốn tiểu thuyết đó, cùng các nhân vật với những cái tên dài dòng và khó nhớ, đã giúp cô khuây khỏa: ngay cả những câu chuyện phức tạp nhất rốt cuộc cũng mang đến một sự rõ ràng mà cô không thể tìm thấy trong thế giới xung quanh, và mỗi nhân vật đều cam chịu kết cục của mình, bác sĩ Zhivago từ bỏ mạng sống khi không thể bắt kịp Lara trên phố, và Lara thì từ bỏ hạnh phúc của mình.
“Cô vẫn còn trẻ mà,” Josef nói.
Mạc Lan những muốn vặc lại rằng chỉ có kẻ ngốc mới nghĩ về tuổi tác theo lối giản đơn như thế. Nhưng người xa lạ này đang rất tử tế với cô, và cũng thật lòng chia sẻ quan sát của mình. Mà Mạc Lan thì còn hai tháng nữa mới tròn hai mươi ba. Được khen ngợi là trẻ trong khi đã nhìn thấy cái ngõ cụt mà tuổi trẻ dẫn đến - lẽ ra người ta phải thấy được an ủi phần nào trong sự tán dương đó, nhưng sự khuây khỏa ấy vẫn chưa đủ. Ở độ tuổi của mình, Josef đã có thể yên tâm rút lui vào chốn ẩn dật của những ký ức, nhưng Mạc Lan thì vẫn còn trước mắt cô hàng năm, hàng thập kỷ nữa. Cô ước mình già như Josef - phải tiếp tục sống khi đã sống đủ lâu khiến cô trở thành một phiên bản mệt mỏi của tất cả những gì không phải là cô.
Mạc Lan lấy một tờ giấy ăn lau mặt bàn xung quanh cốc của mình, cô nghĩ rằng hẳn phải có một lời đáp phù hợp cho câu nhận xét của Josef; chỉ là cô không biết nó là gì mà thôi. Khi ngẩng đầu nhìn lên, cô thấy hình như Josef vừa nói gì đó, nhưng từ nét mặt anh mà đoán thì có lẽ anh không muốn nhắc lại để khiến cô lúng túng. Để phá tan sự im lặng, cô hỏi anh đã bao giờ bị vào tù chưa.
Josef trả lời đây là lần đầu tiên anh đến nhà tù; anh và tất cả những người anh biết đều là những công dân tuân thủ pháp luật. “Nhưng nói thế không có nghĩa đó là điều gì đáng để tự hào,” anh nói thêm.
Một người đàn ông như Josef có thể sẽ thích thú với việc nhìn vào thế giới của người khác mà cảm thấy mãn nguyện trong một cuộc đời được rào giậu che chắn bằng sự nhạy cảm. Nhưng cuộc sống không bao giờ an toàn như anh tưởng. Một tội ác có thể diễn ra, hay tệ hơn, diễn ra dang dở, mà một vụ án mạng dở dang thì có thể còn tồi tệ hơn là một vụ án mạng được lên kế hoạch và hoàn thành một cách lạnh lùng. Nhưng tất cả những điều này Mạc Lan đều không nói với Josef, cả khi ấy, hay sau này.
Sau một lúc, Josef bắt đầu chuyển sang nói về Alena, về chuyện anh và cô từng được trao vương miện và được vinh danh là hoàng tử và công chúa Bohemia trong một lễ hội ở Cộng hòa Séc năm 1952; về chuyện cô giành giải vô địch bang trong một cuộc thi đàn phong cầm vào năm sau đó. Phong cầm? Mạc Lan lẩm bẩm rồi không nói gì nữa, và Josef gật đầu xác nhận, đúng phong cầm, không phải thứ nhạc cụ phổ biến ở đất nước này, nhưng cả anh và Alena đều chơi nhạc cụ đó, giống như mọi đứa trẻ khác trong cộng đồng người Séc nhập cư. Các ông bà họ sống gần làng nhau và cùng nhau tìm đường sang lục địa mới này; bố họ là bạn rượu của nhau, cả hai đều thích món lưỡi bò ngâm giấm. Cuộc hôn nhân giữa Josef và Alena, Mạc Lan có thể đoán, là một cuộc hôn nhân hạnh phúc, con cái được nuôi dạy với những ưu tiên hàng đầu dành cho chúng, tình bạn được duy trì bằng sự trung thành, lịch sử các thế hệ trước được trân trọng, hàng thập kỷ ký ức được cẩn trọng gìn giữ trong các cuốn album gia đình. Khi Josef kể về vụ tai nạn của Alena, Mạc Lan thấy mắt anh ươn ướt. Có những chuyện chia sẻ với người lạ thì dễ dàng hơn, khi người ta cảm nhận được sự chia tay sắp sửa; cái chết thì ít gây phiền muộn cho một người qua đường hơn.
Trước khi họ chia tay, Josef hỏi Mạc Lan đã có kế hoạch gì cho Lễ Tạ ơn đầu tiên của cô ở Mỹ chưa. Cô đáp chưa, nên anh mời cô cùng tới đón lễ với gia đình mình. Anh không nói đó sẽ là Lễ Tạ ơn đầu tiên của anh và các con mà không có Alena, nhưng Mạc Lan đoán được. Phải chăng cô đã nhận lời mời vì vết thương của người khác lúc nào cũng là một lời giục giã, một lý do cho sự tồn tại của cô? Sau ly hôn, Mạc Lan có thói quen nhìn nhận mọi thứ thật kĩ lưỡng trong mối quan hệ của họ. Suy cho cùng, hai năm hẹn hò và ba năm kết hôn - một câu chuyện được bảo quản hoàn toàn như trong một khối hổ phách, không có mối liên hệ nào với cuộc sống của cô ở Trung Quốc - là câu chuyện duy nhất nơi cô có thể tìm thấy một khởi đầu và một kết thúc; ấy thế nhưng ngay cả cái câu chuyện đơn giản này cũng không có nhiều ý nghĩa khi cô quan sát nó gần gũi hơn. Điều gì sẽ xảy ra nếu lúc ấy cô tìm được một cớ để thoái thác lời mời của Josef, như cô vẫn luôn làm với những lời mời tương tự thế hồi ấy, và sau này?
Nhưng quay trở lại quán cà phê tối đó, việc nhận lời mời của Josef là điều tự nhiên như nó phải thế, vì anh đã thật tử tế khi nghĩ đến việc mời cô, một kẻ tha phương nơi đất khách quê người. Khi cô đưa anh số điện thoại của mình, cô đã cho anh biết tên thật.
“Cô thích tên nào hơn?” Josef hỏi.
“Chuyện đó không quan trọng,” cô trả lời, nhưng trong lòng thì biết không phải thế.
“Thế thì chúng tôi sẽ gọi cô là Mạc Lan nhé,” Josef nói, và Mạc Lan để ý thấy trong câu nói này anh đã đưa cả gia đình của mình vào. “Tên cô có nghĩa là gì? Tôi nghe bảo mọi tên của người Trung Quốc đều mang một ý nghĩa nào đó.”
Có thể có rất nhiều chữ Trung Quốc khác nhau cho một cái tên như của cô, Mạc Lan giải thích. Và chữ mà bố mẹ cô chọn cho cô có nghĩa là lặng lẽ. “Yên lặng à?” Cô giải thích lại, phát âm chữ đó ra, nhưng rồi cô nói rằng ý nghĩa của nó thiên về sự trầm lặng hơn. “Nó chỉ một người có thiên hướng không thể hiện quan điểm của mình, kiệm lời.”
Thật là kỳ quặc khi đặt cho một đứa trẻ cái tên đó, cô đợi Josef nói như vậy, nhưng anh chỉ gật đầu, như thể chuyện đó không có gì lạ cả. Rồi cô chợt tiếc nuối, giá mà cô cứ giữ lấy cái tên Lara, một con người khác hẳn: cuốn hút, bạo dạn, bí ẩn.
Trước khi rời Trung Quốc, Mạc Lan đã biết rằng mình sẽ không bao giờ quay về, nhưng cô không nói điều đó với bố mẹ; cô cũng không tiết lộ gì với Bá Dương, lúc cô nhờ anh thu xếp để cô gặp Tiểu Ái vài ngày trước khi bay. Lúc này, họ đã trở thành những người xa lạ: Mạc Lan đã chọn học tại một trường đại học ở Quảng Châu, nơi xa Bắc Kinh nhất mà cô có thể đi; Bá Dương và Như Ngọc đăng ký vào cùng một trường đại học ở Bắc Kinh, nhưng khi cả hai bước vào năm thứ hai, Như Ngọc đột ngột bỏ dở việc học và kết hôn với một người đàn ông để sang Mỹ.
Hình như Chú và Dì đã được thông báo trước về cuộc viếng thăm của Mạc Lan, bởi cả hai đều vắng mặt khi cô đến, để Tiểu Ái lại cho Bá Dương chăm sóc, anh dìu cô đi lại bằng đôi cánh tay chắc khỏe và những lời dỗ dành. Hóa chất đó đã hủy hoại phần lớn não của Tiểu Ái, khiến cô gần như bị mù và trí tuệ chỉ còn bằng của một đứa trẻ lên ba. Vì không nhìn rõ nên Tiểu Ái lại gần chỗ Mạc Lan đang ngồi trên mép ghế, đưa mặt sát lại gần, như thể mỗi lần cô chỉ có thể nhìn thấy một cái miệng, một cái mũi, hay một mảng da. Cô lầm bầm những tiếng rời rạc, và tâm trạng thay đổi liên tục - từ cười sang khóc rồi thành sụt sùi rấm rứt - nhưng những điều đó dường như không hề khiến Bá Dương lúng túng hay chán nản. Gương mặt anh không còn vẻ trẻ con nữa, thay vào đó là nét rắn rỏi mà trong trí nhớ của Mạc Lan, cô chưa từng thấy trước đây, và cô cảm thấy sợ hãi trước điều mà mình cảm nhận được đằng sau cái uy quyền dịu dàng của anh đối với Tiểu Ái cũng như sự lịch thiệp đến hoàn hảo của anh dành cho chính cô: đây là con người đã tìm được tất cả mọi giải pháp anh ta cần đến trong cuộc sống, và cô, cũng như những người khác, sẽ bị đưa ra làm vật hy sinh nếu như cản trở anh dù theo bất kỳ cách nào.
Cuộc viếng thăm không kéo dài. Khối người đồ sộ đến nguy hiểm của Tiểu Ái, và việc cô cứ đột ngột lại chạy va vào hết góc phòng này sang góc phòng kia, khiến Mạc Lan bồn chồn không yên, cô có thể thấy rõ Bá Dương không hề có ý định giúp đỡ cô; thực ra, có vẻ anh còn đắc chí một cách đầy ác ý trước sự không thoải mái của Mạc Lan nữa kia. Vài năm trước đó, anh đã đưa ra cho cô cái lý do vờ vĩnh để chấm dứt tình bạn giữa họ: cô đã yêu anh nhiều hơn thứ tình cảm của một người bạn từ thuở niên thiếu, và như vậy cô là người chịu trách nhiệm nhiều nhất cho một tội ác bất khả giải.
Nếu Mạc Lan là người khác, hẳn cô đã đứng lên thách thức lại sự thiếu công bằng của anh trong căn hộ đó: đổ lỗi cho một người vì bi kịch đã xảy ra thì dễ hơn là đổ lỗi cho số phận, lực lượng sẽ đánh bại tất cả mọi người một cách công tâm. Nhưng sự tự tôn đã ngăn cô lại. Cô không muốn bị coi là kẻ đi cầu xin sự tha thứ.
Khi tiễn cô ra cửa, anh dúi nhanh tấm danh thiếp của mình đưa cô. “Đừng quên chúng tôi,” anh nói chậm rãi, và không để Mạc Lan kịp phản ứng, anh đóng sập cánh cửa sau lưng cô.
Anh đã biết cô đủ rõ để có thể dành cho cô lời nguyền đó, và tất cả những gì cô có thể làm để tự vệ là không nghĩ gì đến những điều mình không thể quên nữa. Nếu quên là nghệ thuật xóa bỏ một người, một nơi chốn khỏi lịch sử của chính mình, thì Mạc Lan biết cô sẽ không bao giờ trở thành bậc thầy trong môn nghệ thuật đó cả. Đúng hơn, cô sẽ giống như một người thợ cần cù, chẳng bao giờ phí một giây cẩn trọng khi luyện tập môn nghệ thuật thấp kém hơn là không ngoái đầu nhìn lại, không nghĩ về quá khứ nữa.
Nhưng biết đâu điều đó sẽ khác đi đối với một người tên Lara, người có thể lựa chọn điều gì cần quên đi trong quá khứ, và điều gì nên tiếp tục để có một cuộc sống tốt đẹp hơn. Rất lâu sau khi ly hôn, Mạc Lan vẫn giữ thói quen báo tên cô là Lara cho những người phục vụ ở tiệm Starbucks. Cô đã có lần chạm trán một người tên Lara ở sân bay Logan, cả hai đều đang đợi cà phê, và cả hai cùng đứng lên khi tên mình được gọi. Người tên là Lara kia nói bố mẹ cô từng trải qua một giai đoạn cho rằng mọi thứ gốc gác ở Nga đều là thần thánh, vậy nên họ mới đặt tên cho cô là Larissa - Lara - theo tên một nữ nhân vật chính trong một cuốn tiểu thuyết của Nga. Về sau này, bố mẹ cô bỏ lại những vết tích của một thời hippie và đặt cho các em gái cô những cái tên bình thường hơn: Jennifer, Molly, Aimee.
Thật lạ lùng, Mạc Lan nghĩ khi cô thắt đai an toàn và chờ máy bay cất cánh, sao người ta có thể trở thành kẻ thu thập những ký ức vặt vãnh như vậy nhỉ. Cô vẫn nhớ, một cách sống động, người phụ nữ tên Lara ở sân bay ấy: mái đầu đỏ rực, cặp mắt mệt mỏi khi nói về bố mẹ mình, những người đang “giữ mùa đông” - theo ngôn từ của Lara - ở Florida. Cô Lara ấy nói mình không thực sự gần gũi với họ; thực ra cả bốn chị em đều không. “Một người bạn tôi là chuyên gia tâm lý cứ bảo tôi: cái tủ lạnh đã trống toác rồi; đừng đến tìm nó làm gì,” Lara ấy vừa nói vừa vội vàng nuốt hụm cà phê.