Chốn Cô Độc Của Linh Hồn

Lượt đọc: 385 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 10

G ửi dì Lan và chú Tắc Thần,

Các chị đã nhận và đọc kĩ hai lá thư chú, dì gửi vào ngày mồng 5 và ngày 17 tháng Tám. Cảm ơn chú, dì rất nhiều vì đã nhận Như Ngọc vào gia đình, mọi sự sắp xếp như vậy thật chu đáo quá. Các chị vừa gửi hai trăm tệ cho tháng Mười và Mười một qua bưu điện. Nếu nhận được thì thôi, nếu không thấy hãy đánh điện báo cho các chị nhé.

Như Ngọc cũng biên thư về rồi, và các chị tin là con bé cũng vui vẻ, ổn thỏa cả. Đúng như chú, dì nói đấy, con bé dễ nuôi lắm, nhưng thi thoảng nhờ chú, dì nhắc nó nhớ về mục tiêu của mình. Tương lai của nó, không gì quan trọng hơn với chúng tôi, cũng tức là với nó, rằng nó phải sang được Mỹ; nên rất mong chú, dì để mắt cho, nhắc nó tập trung học hành và tập phong cầm. Các chị không quan trọng cái gọi là xây dựng nhân cách toàn diện như các trường bây giờ họ hô hào đâu, nhưng với một đứa có hoàn cảnh như nó, thì nhất thiết phải có điểm số cao và tài năng âm nhạc đặc biệt.

Các chị xin dừng bút tại đây, kính chúc chú dì vạn sự như ý. Thấy chữ là thấy người.

Các chị Văn Lộc và Văn Thù Viện

Ngày mồng 2 tháng Chín, 1989

Như Ngọc con,

Các bà đã nhận và đọc kĩ lá thư con gửi ngày 24 tháng Tám. Chúng ta mừng lắm, khi biết con đã ổn định chỗ ở mới, chú, dì với Tiểu Ái đều tốt bụng, chu đáo, và con đã có bạn.

Một lần nữa, chúng ta muốn nhắc con rằng, kể từ ngày con được gửi đến với chúng ta, con đã là một đứa con được Chúa chọn. Chúng ta tin tưởng rằng con đã hiểu cuộc hành trình đầy ý nghĩa của mình từ nay về sau, và rằng con biết cách sống chan hòa giữa những người không hiểu điều đó.

Ở nhà mọi chuyện vẫn ổn, nên con không cần phải lo lắng gì cho chúng ta. Thấy chữ là thấy người.

Các bà

Ngày mồng 2 tháng Chín, 1989

Dì và Như Ngọc, ngồi trong hai phòng khác nhau, đọc những lá thư bưu điện mới gửi đến lúc chiều. Đọc xong, cả hai đều cất thư đi, nhưng đều không thể rũ bỏ cái tâm trạng mà những lời lẽ trong thư mang lại. Như Ngọc linh cảm rằng lá thư vừa rồi - và cũng là duy nhất - mà cô gửi cho các bà dì đã làm họ thất vọng. Đó là lá thư thực sự đầu tiên Như Ngọc viết - nếu không kể đến những bài tập ở trường yêu cầu học sinh viết thiệp chúc mừng vào dịp lễ cho các quân nhân đang đóng ở các doanh trại quân đội trong vùng hoặc gửi tới Vinh Diệu Đường, nơi các cựu chiến binh trong cuộc chiến tranh Triều Tiên và các cuộc chiến tranh khác trước đó sinh sống và qua đời. Có lẽ cô đã không viết lá thư này nếu không có sự thúc giục liên tục của Dì.

Như Ngọc không biết phải viết gì cho các bà dì, vì họ chưa bao giờ lấy ngôn từ của cô làm phương tiện để hiểu cô cả. Rốt cuộc, cô viết thư khen các vị chủ nhà, những người hàng xóm mới và hỏi thăm sức khỏe các bà dì, vì cô hình dung một lá thư thì phải như thế. Nhưng thư họ chỉ ngắn gọn nhắc cho cô nhớ về vị trí của mình trong cuộc sống, một điều mà họ vẫn luôn làm từ khi cô còn nhỏ hay những khi thấy cô thể hiện cảm xúc thái quá. Qua một cái nhìn nghiêm nghị hay một cái lắc đầu, họ có thể khiến Như Ngọc ngừng cười, ngừng cáu giận, hay ngừng khóc; bất kỳ cảm xúc nào - dù là vui sướng hay buồn bã, giận dữ hay mãn nguyện - đều là dấu hiệu cho sự ngu muội của con người. Những lần như thế, họ thường nói, với một giọng không nhẹ nhàng nhưng cũng không quá gay gắt, hãy nghĩ xem con trông như thế nào trong mắt của Đấng Bề trên, rồi bảo cô đứng vào một góc yên tĩnh. Tự kiểm điểm bản thân một lát, họ nói, không phải hình phạt mà là cơ hội để học cách đặt ra khoảng cách giữa cô và những điều nhỏ nhặt đã khiến cô cười hay khóc. Họ giảng giải cho cô rằng con người ta luôn sống trong sự giám sát; cuộc đời của mỗi người đều diễn ra trước đủ mọi loại mắt nhìn, nhưng chỉ có một đôi mắt trong đó là quan trọng.

Có lẽ các bà dì phật ý khi thấy cô đã điều chỉnh hành vi của mình theo môi trường xung quanh mà viết một lá thư có lẽ chỉ xuất phát từ ngòi bút của một người như Mạc Lan, cô gái dường như lấy việc làm vừa ý tất cả mọi người là nhiệm vụ tối cao của mình. Như Ngọc ước cô có một đầu óc mạnh mẽ hơn là thứ đầu óc ngu xuẩn và dễ bị ảnh hưởng: dường như tất cả mọi người cô gặp ở Bắc Kinh đều hào hứng muốn thay đổi cô theo cách này hay cách khác, như thể điều quan trọng không phải cô là ai, mà là cô khiến người ta hình dung ra một người khác nữa. Ngay cả cặp song sinh nhà chú Vấn Dưa Hấu cũng có lần nói với cô rằng nếu chịu khó cười hơn, cô sẽ trông giống hệt một nữ diễn viên trẻ trong một chương trình mà thiếu nhi rất ưa thích. Chị Như Ngọc này, biết đâu chị lại trở thành một minh tinh màn bạc và chúng em lại được lên sân khấu ké với chị, hai đứa nói oang oang, khiến Như Ngọc nghĩ bụng tại sao không một người lớn nào có mặt ở sân lúc ấy lên tiếng bảo chúng thôi trò vớ vẩn đó đi.

Nhưng không cần phải lo lắng về lá thư của các bà dì, vì nghĩ về phản ứng của họ nghĩa là phải sống trong mắt loài người một lần nữa. Sự thực thì việc họ nghĩ sao về cô cũng không quan trọng gì hơn việc những người khác nghĩ thế nào về cô. Mục đích của họ, như họ đã nhắc đi nhắc lại với cô, là đưa cô đến với Chúa; nếu cô có thể thôi sống vì họ, liệu cô cũng có thể ngừng sống vì Người không? Ý nghĩ vốn chưa từng xuất hiện trước đây chợt khiến tim cô như nghẹt thở. Một cách vô thức, cô nhắm mắt lại, cầu xin Người tha thứ.

Trong bữa tối, Như Ngọc có vẻ lạnh lùng hẳn, sự im lặng của cô, cùng với vẻ sưng sỉa của Tiểu Ái, khiến Dì thắc thỏm. Dì vẫn chưa đưa cho chồng xem lá thư của hai người chị nọ; trong buổi tối đó sẽ phải đến lúc đưa ra, nhưng dì cần thời gian để lấy lại tinh thần sau những gì họ viết. Dì không dám chắc ai trong hai người họ là người biên thư, vì theo như Dì nhớ, cả hai đều có chung kiểu chữ viết thiếu nữ tính theo thể thức của thời nhà Ngụy như vậy. Khi còn ở với họ, bản thân Dì cũng được họ rèn cho lối viết ấy bằng cách chép lại những từ khắc trên những bài vị cổ. Nhưng Dì không phải là một học sinh sáng dạ; trong mắt họ, Dì là đứa ngu ngốc, khó dạy bảo. Trước đó, khi mới mở lá thư ra, Dì đã thấy tim mình đập thình thịch; nét chữ nghiêm nghị trên phong bì, mà mỗi nét đều mang trong nó cái nặng nề của sự không tán thành, đã khiến Dì cảm thấy như mình lại trở về làm đứa trẻ hôm nào, đẩy Dì vào một cơn choáng váng vô thức.

“Con đã đọc thư các bà dì chưa?” Dì hỏi Như Ngọc khi bầu không khí im lặng đã trở nên rất đỗi gượng gạo. “Họ có vui vì nhận được thư của con không?”

Như Ngọc gật đầu nhưng không nói gì thêm để tiếp tục cuộc hội thoại.

“Dì đoán là họ vui lắm,” Dì nói. “Ít ra trong thư họ gửi dì thì là thế.”

Tiểu Ái khục khục trong cổ như đang cố nhịn cười, nhưng Dì chưa muốn chuyển sự tập trung sang con gái. Từ đầu năm học, Tiểu Ái chỉ đến trường vài lần. Mà năm nay là năm thứ tư rồi, có lẽ cô cũng sắp nhận giấy đi thực tập. Nhưng nỗi lo lắng của bố mẹ cô là có lẽ nhà trường không giao việc gì cho Tiểu Ái, mà như thế có nghĩa là cô không tốt nghiệp được, cũng đồng nghĩa với việc không thể tìm được một công việc lâu dài, ổn định.

Dì vừa nhai vừa ngẫm nghĩ một hồi rồi nói tiếp với Như Ngọc: “Các bà có hỏi về con đấy. Dì nghĩ con thích trường học chứ, phải không?”

“Vâng.”

“Bài tập về nhà thì sao - có nặng không? Con có theo kịp hết không? Chuyện học hành thì tốt nhất cứ hỏi Bá Dương, còn những chuyện khác thì có thể nhờ Mạc Lan.”

Như Ngọc nói mọi chuyện đều ổn. Tuần đầu đi học có lộn xộn một chút; một nửa bạn cùng lớp Như Ngọc, cũng như cô, đều lạ lẫm với trường mới, nhưng Mạc Lan và Bá Dương - vốn đang là học sinh ở đây và hiểu mọi ngóc ngách của trường - không rời cô nửa bước, luôn tìm cách làm sao để cô không cảm thấy mình bị lạc lõng. Trường học chỉ cách nhà khoảng ba mươi phút đi bộ, nhưng dường như Mạc Lan và Bá Dương chưa từng nghĩ rằng Như Ngọc thích tự mình đi bộ đến trường hơn. Sáng nào họ cũng rời khỏi nhà cùng nhau, ba người trên hai chiếc xe đạp, và chiều chiều lại diễn lại hoạt cảnh đó.

“Còn tập phong cầm thì sao? Các bà cứ hỏi về chuyện đó.”

Như Ngọc báo cô đã học một buổi với thầy Thư, và thầy cũng ưng lối chơi của mình. Cô những muốn sau khi tan học thì được ở lại phòng nhạc để tập càng lâu càng tốt, nhưng chỉ sau một tuần, Hiệu trưởng Lưu đã tập trung các học sinh cấp ba mới đến để thông báo về một nhiệm vụ chính trị khẩn cấp: vào tối ngày mồng 1 tháng Mười - ngày Quốc khánh nước mẹ Trung Hoa - các học sinh này sẽ phải tham dự một buổi lễ ở Quảng trường Thiên An Môn cùng với bốn trăm nghìn công dân khác. Để chuẩn bị cho nhiệm vụ ấy, Hiệu trưởng Lưu nói tiếp, mỗi ngày tất cả các học sinh đều phải ở lại trường sau giờ học trong hai tiếng, tập múa tập thể để sau đó còn tham gia các buổi tổng duyệt cấp phường, quận, và thành phố.

“Thế con có đủ thời gian tập phong cầm không?” Dì hỏi.

Như Ngọc nói ngày nào cô cũng tập nửa tiếng sau bữa trưa, và mong rằng sau tháng tập múa, cô sẽ có nhiều thời gian hơn vào các buổi chiều.

Tiểu Ái nhướng một bên lông mày lên. “Thế ra em sẽ là một trong những công dân có may mắn được chúc mừng chiến thắng của Đảng Cộng sản chúng ta à? Vinh dự quá nhỉ.”

Dì nhìn Chú với ánh mắt nài nỉ, nhưng không thấy chồng nói gì, Dì đành thở dài đánh sượt. “Đừng nói năng kiểu đó, Tiểu Ái,” Dì nói. “Như Ngọc có được lựa chọn đâu.”

Tiểu Ái ngả người sang phía Như Ngọc, giả như không nghe thấy mẹ nói gì. “Em có nghĩ đến chuyện tẩy chay nó không?” Tiểu Ái hỏi.

“Em không hiểu ý chị,” Như Ngọc nói.

“À thì, thi thoảng trốn tập này, hay tốt hơn thì trốn cả buổi lễ nữa,” Tiểu Ái nói. “Mẹ chị có thể viết đơn xin nghỉ ốm cho em mà - phải không mẹ ơi?”

“Đây là một nhiệm vụ chính trị,” Dì nói. “Con đừng tuyên truyền cho Như Ngọc những tư tưởng sai trái.”

“Con đang dạy em nó biết tự dùng đầu óc mình để suy nghĩ đấy chứ,” Tiểu Ái nói. “Nó sẽ không bao giờ học được điều đó ở trường đâu.”

Chú thở dài, đặt đôi đũa xuống cạnh bát ăn, rồi chỉnh chúng lại cho ngay ngắn. “Để bố hỏi con một câu thế này, Tiểu Ái,” chú nói. Chú hiếm khi tham gia vào các cuộc nói chuyện bên bàn ăn giữa Tiểu Ái và Dì, nên khi Chú lên tiếng, bầu không khí trong căn phòng đột nhiên trở nên lạ lẫm hẳn. “Sẽ có bốn trăm nghìn người tham dự buổi lễ mừng Quốc khánh ở Quảng trường. Con thử tính xem, mấy phần trăm trong số những con người đó có khả năng suy nghĩ độc lập nào?”

“Không phần trăm, nếu bố hỏi con,” Tiểu Ái nói. “Những người biết suy nghĩ độc lập họ sẽ tìm cách để không đi.”

“Thế cứ giả dụ Như Ngọc nghe con mà không đi, thì sự vắng mặt của nó có ảnh hưởng đến buổi lễ không?”

“Con biết bố định lèo lái con đi hướng nào rồi. Không, nếu nó không đi, cũng không ai để ý cả. Nhưng chuyện gì sẽ xảy ra nếu cả bốn trăm nghìn người đó đều có can đảm mà không đi?”

“Nói chuyện thực tế đi nào, khả năng điều đó xảy ra là bao nhiêu?”

“Nếu không phải là bốn trăm nghìn, vậy bốn trăm, hay bốn nghìn thì sao?”

“Cứ cho là bốn nghìn người tẩy chay buổi lễ đi. Con nghĩ hành động đó của họ sẽ mang lại gì khác biệt nào? Buổi truyền hình trực tiếp vẫn sẽ cho thấy bốn trăm nghìn người tập trung lại để mừng lễ. Nhưng còn bốn nghìn con người kia sau đó có thể sẽ phải chịu những biện pháp kỷ luật. Theo con, việc họ làm sẽ gây hại cho ai ngoài chính bản thân và gia đình họ chứ?”

“Phải, bố đúng rồi. Tốt nhất là tất cả chúng ta cứ ngoan ngoãn mà sống, họ bảo gì làm nấy, và để cho sự hèn nhát dẫn dắt cuộc đời mình,” Tiểu Ái nói, và sau một lúc ngập ngừng, cô nói thêm, “giống như bố”.

Gương mặt Dì lộ rõ vẻ căng thẳng. Dì mở miệng định nói gì đó nhưng đã kịp ngăn mình lại. Dì đứng lên đóng cánh cửa sổ duy nhất đang mở trong phòng, rồi mang từ trong phòng ngủ ra một cái quạt và bật lên.

Gương mặt Chú vẫn bình thản như lệ thường, dường như không mảy may bị ảnh hưởng bởi những lời nói của Tiểu Ái. Chú nhìn xuống đôi đũa và chỉnh lại chúng. “Khi bố còn ít tuổi hơn con, cuộc nội chiến vẫn đang diễn ra, không ai biết bên nào sẽ thắng cả. Ngày ấy bố được ông dẫn đi nhiều phòng trà chơi, trên tường phòng trà nào cũng dán cái nguyên tắc duy nhất này: Không bàn chuyện chính trị . Ông chỉ cho bố xem và nói đó là bài học mà bất kỳ người có trách nhiệm nào đều phải học. Nào, ông là người đã trải qua rất nhiều chính phủ, nhiều cuộc cách mạng rồi, theo con thì lẽ ra ông phải truyền lại cho con cái mình bài học gì hay hơn đây?”

“Nhưng đã bao giờ bố nghĩ rằng chính những người như ông, và những người như bố, đã khiến cho đất nước này trở nên không thể chịu đựng nổi đối với thế hệ chúng con hay không? Đó là lý do vì sao chúng con phải đứng lên chiến đấu: bởi vì bố và ông đã không làm.”

Như Ngọc đột nhiên thấy mệt mỏi. Nhàm chán. Cô ước giá mình có thể bảo Tiểu Ái thôi đừng đóng vai thằng hề đang cố coi mình là kẻ nghiêm túc đi. Ở trường, khi Hiệu trưởng Lưu thông báo về nhiệm vụ chính trị đó, một vài học sinh rên rỉ than van về chuyện bị mất thời gian chơi bóng rổ hay bóng bàn sau giờ học, nhưng Hiệu trưởng Lưu không để những lời ca cẩm ấy kéo dài. “Khi nói về một nhiệm vụ chính trị, tức là chúng ta đang nói về một nhiệm vụ chính trị, không phải trò chơi trẻ con,” cô nói. “Lạc quan lên nào các em. Hãy coi đây là cơ hội để làm quen bạn cùng lớp mới. Cứ múa cho hăng vào, vì múa cũng thú vị chứ.” Thật kỳ cục, những người lớn tiếng than van nhất, rốt cuộc, dường như lại thích múa nhất. Thực ra, đúng như dự đoán của Hiệu trưởng Lưu, buổi tập múa sau giờ học đã trở thành một buổi liên hoan hằng ngày cho ba trăm học sinh đầu cấp, vòng tròn nam sinh ở ngoài và vòng tròn nữ sinh ở trong xoay xoay theo nhiều hướng khác nhau, khiến các cậu trai có cơ hội được nắm tay từng cô gái.

“Thế hệ nào cũng đinh ninh rằng thế hệ trước còn nợ mình,” Chú nói. “Thế hệ nào cũng chắc mẩm rằng họ có thể đạt được điều mà thế hệ trước chưa làm được. Đời này chúng ta đã có quá đủ những cuộc cách mạng vì cái lối tư duy đó mà ra rồi.”

“Nhưng đây sẽ là cuộc cách mạng của chúng con. Nó sẽ khác hoàn toàn so với những cuộc cách mạng của bố. Tất cả các cuộc cách mạng của bố đều xuất phát từ việc nhắm mắt đi theo mà không suy nghĩ gì.”

Chú gật đầu, vẻ mệt mỏi. Khi thấy chồng không nói nữa, Dì ngập ngừng lên tiếng, “Dĩ nhiên, bố mẹ hiểu ý con. Nhưng người trẻ thì thường quên đi lợi ích của chính mình. Là bố mẹ, chúng ta coi mình có trách nhiệm phải nhắc nhở con không được quá đà.”

“Để bố mẹ được có một cô con gái luôn sẵn sàng túc trực chăm sóc khi bố mẹ về già, như ông bây giờ có mẹ và bố đúng không?” Tiểu Ái hỏi. “Nếu thứ logic đó mà chấp nhận được, thì việc Như Ngọc làm cách mạng lại càng hợp lý. Ai có thể phù hợp với nhiệm vụ này hơn là một đứa trẻ mồ côi chứ?”

Dì thở dài đánh sượt, Chú thì cau mày, nhưng không ai nói gì. Tiểu Ái khinh khỉnh nhìn Như Ngọc, coi thường cô, Như Ngọc nghĩ bụng, bởi vì Tiểu Ái có bố mẹ nên cô có cái xa xỉ là được phép coi nhẹ tình yêu của họ. Như Ngọc nhìn thẳng vào mắt Tiểu Ái và nở một nụ cười khả ái. Với giọng lịch thiệp, cô nói mình sợ rằng đã làm Tiểu Ái thất vọng, vì cô không có chút dòng máu cách mạng nào trong người cả.

Tiểu Ái đẩy ghế đứng lên. “Con không nghĩ rằng sẽ có lúc bố mẹ hiểu được con, mà con cũng không bao giờ chấp nhận quan điểm của bố mẹ, nên chúng ta hãy quên chuyện này đi,” cô nói với bố mẹ, nhưng mắt vẫn không rời khuôn mặt Như Ngọc.

Chú và Dì nhìn Tiểu Ái lấy chìa khóa xe đạp rồi đi ra ngoài sân, giả lả cười chào bà của Bá Dương. Chú Vấn Dưa Hấu ở đầu sân bên kia nói vọng sang câu gì đó, giây lát sau vài người hàng xóm cùng góp chuyện. Món bò hầm thế nào, một người trước đó chắc đã trông thấy Dì nấu ăn lên tiếng hỏi Tiểu Ái, và cô trả lời rằng nó vẫn như mọi lần. Có thịt bò để ăn là còn may mắn chán ra rồi đấy, bà Bá Dương nói. Năm 1958, gia đình chồng bà ở tỉnh Hà Nam đến vỏ cây còn không kiếm nổi mà bỏ vào bụng nữa kia.

Dì sốt ruột nhìn vào bát của chồng và nói nếu đã ăn xong chú không cần phải ngồi đợi Dì làm gì. Dì sợ hai vợ chồng chậm tham gia vào cuộc tụ tập ở sân sau bữa ăn, như thể sự vắng mặt của họ sẽ bị coi là một lời tuyên bố không lấy gì làm hay ho lắm. Chú gật đầu, nói sẽ ra ngoài đại diện cho gia đình vài phút. Khu sân chung là sân khấu mà cả Dì và Chú đều chưa từng nghĩ đến chuyện họ sẽ bỏ lỡ dịp nào, và cả hai đều cố gắng hết sức để làm những thành viên tốt - Chú thì bằng cách cười trừ và gật gật đầu, Dì thì bằng cách luôn luôn nói về mặt tích cực của mọi vấn đề đang được bàn luận.

Khi Chú đã ra ngoài với hàng xóm, Dì dường như mới được thoải mái một chút. Dì quay sang Như Ngọc, ngỏ ý xin lỗi vì thi thoảng Tiểu Ái lại vùng vằng thế. Như Ngọc biết Dì muốn nói thêm nữa, nhưng khi thấy cô vẫn chăm chú nhìn mình, Dì ngập ngừng rồi lảng sang chuyện khác, hỏi Như Ngọc xem cái đèn bàn có đủ sáng để học vào buổi tối không. Như Ngọc mỉm cười nói dĩ nhiên là đủ rồi ạ, và chỉ tay lên chiếc đồng hồ trên tường, nói đã muộn rồi, chắc Ông đang đói lắm.

Con bé hợp với các bà dì hơn bản thân Dì ngày xưa, Dì vừa bón cháo bột mì cho Ông vừa nghĩ. Thời còn sống với hai chị em họ, Dì cảm thấy mình giống như một miếng bọt biển không có khả năng tự vệ, hấp thụ mọi sự chỉ trích chê bai của họ, và độ thẩm thấu của Dì, tính từ đó tới nay, vẫn chưa hề thay đổi. Ngược lại, Như Ngọc dường như miễn nhiễm với cái định mệnh của một kẻ liên tục bị nhấn chìm xuống trong cái sũng nước của thế giới. Dì thở dài, băn khoăn không biết lớn lên Như Ngọc sẽ trở thành người như thế nào.

Ngồi vào bàn nhưng không tập trung học được, Như Ngọc lôi lá thư của các bà dì ra đọc lại. Từ vẻ tuyệt vọng mà cô nhìn thấy trên gương mặt Chú và Dì, cô biết rằng, dẫu Tiểu Ái có phản kháng lại thế giới một cách thái quá, tồi tệ đến đâu, họ vẫn sẽ yêu thương cô như thế, vẫn ao ước rằng họ có thể xẻ thịt mình ra làm tấm đệm để che chắn cho cô trước mọi nguy hiểm. Nhưng không ai có thể làm được điều gì cho chị ấy đâu, Như Ngọc nghĩ; Chú, Dì không bao giờ có thể cứu vớt được chị ấy đâu. Ý nghĩ này khiến Như Ngọc khuây khỏa. Trái với ý muốn ban đầu, giờ đây cô đã bắt đầu có thiện cảm với Chú và Dì, thế nhưng dường như điều đó lại càng củng cố thêm trong cô cái lý do để không dung thứ cái tình yêu ngớ ngẩn họ dành cho con gái mình.

Tối đó, Tiểu Ái trở về sớm hơn Như Ngọc nghĩ. Mạc Lan và Bá Dương cũng vừa vào phòng cô hai mươi phút trước đó - thường thì tối muộn họ mới đến, để đố nhau cách đánh vần các từ tiếng Anh cho buổi học ngày hôm sau, hoặc là tán gẫu. Dì rất tán thành những cuộc viếng thăm này, còn Như Ngọc cũng để mình dần trở nên quen với họ, vì cô hiếm khi chịu đến nhà hai người đó.

Thấy Tiểu Ái bước vào, Mạc Lan nhổm dậy, nhưng Tiểu Ái ra hiệu cho cô cứ ngồi yên chỗ mép giường nơi cô đang ngồi cùng Như Ngọc, và bảo Bá Dương không phải nhường chiếc ghế duy nhất cho mình. Như Ngọc vốn đã để ý thấy cả Mạc Lan và Bá Dương đều coi Tiểu Ái như thần tượng, mà bản thân Tiểu Ái cũng đối xử với họ bằng thái độ tôn trọng pha lẫn nét mỉa mai suồng sã. “Thế nào, trường cấp ba ra sao?” Tiểu Ái vừa hỏi vừa ngồi xuống mép ghế.

Như Ngọc ngồi nghe Mạc Lan và Bá Dương thi nhau kể cho Tiểu Ái nghe từng chuyện vặt vãnh - biệt danh của các thầy, cô giáo do học sinh khóa trên truyền lại, một bạn cùng lớp mới đến, các dự án xây dựng khuôn viên trường.

“Còn nhiệm vụ chính trị thiêng liêng các em vừa được giao thì sao?” Tiểu Ái hỏi.

Mạc Lan dè chừng ngó nét mặt Tiểu Ái rồi quay sang Bá Dương, anh nhún vai nói cũng ổn. Màn múa may cũng tạm chấp nhận được, mà dù gì thì cũng chỉ kéo dài một tháng thôi. Thấy Tiểu Ái không bình luận gì, Mạc Lan nói thêm rằng không có nhiều học sinh thực sự hào hứng, một số người còn bàn chuyện bận đồ đen để tang vào tối diễn ra buổi lễ đó.

“Chúng nói thật hay chỉ huênh hoang thôi?” Tiểu Ái tò mò hỏi.

Mạc Lan lúng túng, khiến Như Ngọc thắc mắc không biết có phải cô vừa nói dối không. Bản thân Như Ngọc chưa từng nghe thấy cuộc nói chuyện nào như thế cả, nhưng cô thì không có bạn; tin tức và tin đồn về trường học tất cả đều từ Mạc Lan và Bá Dương đưa lại.

“Hay chị nên hỏi là liệu đó có phải chỉ là mong ước của em rằng một điều như thế sẽ xảy ra?” Tiểu Ái nói.

“Mạc Lan và em đã tính chuyện mặc đồ đen để phản đối cùng với vài người bạn nữa, nhưng không hiểu sao các thầy cô lại nghe phong thanh được kế hoạch này,” Bá Dương nói.

“Và...?”

“Hiệu trưởng Lưu đã nói chuyện với chúng em,” Bá Dương nói.

“Dọa dẫm để các em phải phục tùng?”

“Không hẳn,” Bá Dương nói. “Cô ấy giảng giải cho chúng em hiểu việc phản kháng như thế là rất ấu trĩ.”

“Ấu trĩ? Bà ta dùng từ đó à?” Tiểu Ái hỏi.

Bá Dương nhún vai và nói dù gì thì Hiệu trưởng Lưu cũng đã nói rõ rằng họ không được bàn chuyện đó nữa. Mạc Lan thắc thỏm hết nhìn Bá Dương lại nhìn Tiểu Ái, rồi khi thấy Tiểu Ái không nói gì, cô mới nói rằng Hiệu trưởng Lưu đã bóng gió rằng hành vi ấy sẽ chỉ gây khó dễ cho chính họ và nhà trường thôi, mà đó lại là điều họ không hề mong muốn.

“Thế các em muốn gì?” Tiểu Ái hỏi.

Câu hỏi đó có vẻ khiến Mạc Lan lúng túng. Tiểu Ái chăm chú nhìn cô, rồi phá lên cười vui vẻ. “Chị không trách các em đâu,” cô nói. “Khi bằng tuổi các em, chị còn không biết mình muốn gì nữa kia. Ôi chao, chị còn nghĩ tới chuyện trở thành điệp viên cho đất nước này cơ đấy.”

Khi Tiểu Ái ngừng nói, Mạc Lan mới nhỏ nhẹ giải thích cho Như Ngọc rằng trước khi Tiểu Ái vào đại học, một mật vụ từng tiếp xúc với cô ở Góc Anh ngữ 3 gần Quảng trường Thiên An Môn đã tìm gặp cô. Vị này cho hay đã quan sát cô vài tuần rồi, và rất ấn tượng với cá tính của cô; ông ta hỏi cô có thích làm mật vụ không - cô sẽ không được học đại học, nhưng họ sẽ đào tạo cho cô những thứ khác.

Như Ngọc để ý thấy Tiểu Ái đang lắng nghe cuộc trò chuyện giữa họ, có lẽ muốn chờ xem Như Ngọc thấy ấn tượng thế nào chăng, nhưng cô tránh nhìn vào mắt Tiểu Ái, và chỉ khẽ gật đầu khi Mạc Lan kết thúc câu chuyện.

“Cứ thử tưởng tượng mà xem, lẽ ra bây giờ chị đã có thể biết cách lái xe jeep, hay biết gắn ống giảm thanh cho súng lục, hoặc biết cách pha chế đủ thứ độc dược rồi ấy chứ,” Tiểu Ái nói, nhưng không để ai kịp đáp lời, cô đột ngột thay đổi chủ đề, quay sang hỏi han về trường học. Bầu không khí trong căn phòng trở nên thoải mái hơn. Thi thoảng Bá Dương còn phá lên cười. Mạc Lan thì tỏ ra giữ ý hơn, nhưng dường như Tiểu Ái đã quyết định sẽ dễ chịu hơn trong buổi tối hôm ấy.

Sau đó, khi tới giờ đi ngủ, Tiểu Ái vẫn giữ vẻ dễ chịu này. “Em có thích Bá Dương không?” Cô hỏi khi Như Ngọc đã yên vị ở mé giường của mình.

“Sao chị lại hỏi thế?”

“Tò mò thôi. Trông em có vẻ thoải mái khi ở bên cạnh cậu ấy.”

“Em thích cậu ấy như Mạc Lan thôi,” Như Ngọc thận trọng nói, cảm giác các cơ trong người mình đang căng ra. Cô không thể biết những cuộc nói chuyện với Tiểu Ái sẽ dẫn đến đâu.

“Hay ý em là em ghét họ như nhau?”

“Chuyện đó có gì quan trọng chứ. Họ không cần em phải thích họ.”

“Chúng ta không nói về việc họ cần gì,” Tiểu Ái nói, nhổm người lên nhìn Như Ngọc chăm chú. “Điều chị muốn biết là em có thích họ - hay bất kỳ ai không.”

“Sao em phải làm vậy?”

“Tại sao à?” Tiểu Ái thốt lên. “Sao lại cứ phải coi khinh cả thế giới như thế chứ?”

“Em không coi khinh ai cả,” Như Ngọc nói.

“Em có cảm xúc nào không?”

“Em không biết chị hỏi thế để làm gì, mà em cũng không biết chị đang hỏi cái gì,” Như Ngọc nói, và khi thấy Tiểu Ái vẫn không chịu rời mắt khỏi mình, cô nhắm mắt lại.

“Vì chị thấy thái độ vô cảm với cuộc sống của em kỳ lạ lắm. Em có biết là người như em thì không thể tin tưởng được không?”

Như Ngọc mở mắt, nhìn thẳng vào Tiểu Ái trong khi Tiểu Ái vẫn tiếp tục dò xét gương mặt cô. “Em không yêu cầu chị phải tin tưởng em,” Như Ngọc nói. “Vậy nên chị để em yên có được không?”

“Chị không mời em đến đây ở. Chị cũng không đồng ý để bố mẹ chị rước em về,” Tiểu Ái nói, giọng đột nhiên khản đặc lại. “Để em yên à? Sao em không tha cho tất cả chúng ta cái thái độ phán xét ấy? Sao em không để chị yên?”

Ở khoảng cách gần như vậy, gương mặt Tiểu Ái trông như bị biến dạng đi vì đau đớn. “Nếu chị cho em biết phải làm gì để chị được yên, em sẽ làm theo đúng ý chị,” Như Ngọc nói. “Em không biết mình đang ngáng đường chị. Bố mẹ chị bảo các bà dì của em là vào năm học chị sẽ ở trong ký túc xá.”

“Vậy ra lỗi là ở chị?”

“Em không có nơi nào khác để ở cả.”

“Em mới là người đã khiến chị không có nơi nào khác để ở.”

Trong thoáng chốc, Như Ngọc cảm thấy Tiểu Ái, trong cơn giận sôi sục, sẵn sàng xông vào bóp cổ mình. Cô dằn lòng nằm im và nói bằng một giọng điềm tĩnh rằng cô xin lỗi nếu như đã khiến Tiểu Ái phải nghĩ như thế. Bây giờ cũng khuya quá rồi, cô nói, mà sáng mai cô lại có bài kiểm tra hằng tuần. Không để Tiểu Ái kịp phản ứng, Như Ngọc với tay tắt đèn. Cô chưa kịp có thời gian cầu nguyện, nhưng lúc này cô đã quá mệt mỏi đến nỗi chẳng buồn nghĩ tới chuyện đó nữa.

Như Ngọc vẫn thao thức một lúc, cô biết Tiểu Ái cũng vậy. Cô mơ hồ cảm nhận được một sức mạnh nào đó của mình đang trấn áp Tiểu Ái, nhưng cô không muốn tìm hiểu xem điều đó có nghĩa là gì; ở cấp độ nào đó, cô thích tin rằng đó cũng là sức mạnh mà cô đang có với Bá Dương và Mạc Lan, dù rằng với hai người bọn họ thì cô có thể nhìn thấu, còn Tiểu Ái, tuy là cả một sự phiền toái, nhưng vẫn là một bí ẩn. Chỉ nội cái ý tưởng đi tìm hiểu sự bí ẩn ấy cũng đã đủ khiến Như Ngọc cảm thấy nhớp nhúa rồi. Hơn nữa, cô sẽ không đời nào để mình bị vượt mặt ở sở trường của mình: thói quen khép kín giúp cô trở thành một điều bí ẩn trong mắt người khác. Muốn hiểu rõ ai hơn, người ta phải từ bỏ vị trí đó để bớt vẻ kỳ bí đi.

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của yiyun li