Ðã ba ngày trôi qua, nhưng cuộc nói chuyện mà Như Ngọc bắt đầu lo sợ sẽ diễn ra, trong đó Celia đòi cô giải thích tại sao cô lại kể với Edwin, chứ không phải với Celia, về cái chết của một người bạn, vẫn chưa đến. Nếu nó diễn ra, Như Ngọc sẽ bảo người đã khuất không phải người gần gũi lắm với mình, nhưng thế vẫn chưa đủ. Đối với Celia, bất kỳ cái chết nào, dù là của một người xa lạ mà cô đọc được trên báo, một người họ hàng xa lắc xa lơ của một người quen qua đường, hay một con vật nuôi già yếu gần nhà, đều can hệ đến cô, nỗi đau buồn mà cô cảm nhận thay cho người khác khiến cô liên tục bị tổn thương nhưng cũng lại khiến cô sống đến từng khoảnh khắc. Tước bỏ cơ hội được khóc than của Celia không khác gì khước từ cô quyền được cảm nhận.
Trong đầu Như Ngọc chợt lóe lên một ý tưởng tai quái: hay là kể với Celia về cái chết đó? Không người xa lạ nào có thể cảm nhận được cái phí hoài những hoài bão và khát vọng của Tiểu Ái hay hình dung ra cảnh giam cầm của cô trong cơ thể chính mình trong suốt hai mươi mốt năm một cách hoàn toàn như Celia cả. Sao không mở lượng nhân từ và để cho sự mất mát Tiểu Ái được thừa nhận? Còn ai khác sẽ làm điều đó cho Tiểu Ái đây, nếu không phải là Celia? Dĩ nhiên, hẳn là mẹ Tiểu Ái cũng đang đau khổ lắm. Trong thư Bá Dương không nhắc đến Dì, nhưng Như Ngọc biết Dì vẫn còn sống: vì mấy năm trước, khi Chú mất, Bá Dương cũng viết thư báo. Nhưng người mẹ nào mà không đau xót trước cái chết của con, mà nỗi đau đớn của một người mẹ, cũng hệt như tình yêu của một người mẹ, có cứu chuộc được cái gì đâu. Thế giới này sẽ tốt đẹp hơn biết bao nếu các bà mẹ, và chỉ các bà mẹ thôi, trở thành quan tòa của con cái họ. Tất cả mọi người sẽ được xá tội trước khi họ kịp ăn năn, tất cả ngoại trừ mày , nghĩ đến đây, trong lòng Như Ngọc chợt bừng bừng giận dữ: mày - đứa trẻ mồ côi cô độc, hằn học, tàn nhẫn.
Cái chết của Tiểu Ái không khiến Như Ngọc ngạc nhiên. Chẳng phải bấy lâu nay, bằng cách duy trì một địa chỉ email liên lạc với Bá Dương và kiểm tra nó thường xuyên, cô vẫn chờ tin Tiểu Ái chết hay sao? Liệu Bá Dương có thế không? Mạc Lan nữa? Giữa họ hầu như chẳng có gì để gắn bó với nhau ngoại trừ sự chờ đợi này, mà bây giờ cũng đã đến hồi kết, để rồi rốt cuộc nó sẽ phóng thích họ vào một khoảng chân không, nơi mà ngay cả những đôi tai sành sỏi nhất cũng không thể phát hiện ra rằng họ giống như ba khúc nhạc rời rạc, trước đây đã từng nằm trong cùng một bản nhạc. Như Ngọc tự hỏi không biết cái chết này đã gieo vào hai con tim kia những gợn sóng nào, mà biết đâu, sau chừng ấy năm, chúng đã trở thành bất động rồi, và vì sự hạnh phúc của chính họ, cô lại mong đúng là như thế.
Từ khi rời Trung Quốc, Như Ngọc chưa gặp lại Mạc Lan hay Bá Dương, nhưng linh cảm cho cô biết, họ vẫn chưa quên cô. Liệu họ có được khuây khỏa phần nào không khi biết rằng cô cũng chưa từng quên họ? Những người khác trong quá khứ của cô - hai bà dì, hai người chồng cũ, Eric - cô không nghĩ đến nhiều. Mà nếu có thì đó cũng chỉ là những ý nghĩ hờ hững, cuộc sống của họ; và trong trường hợp các bà dì, cái chết của họ, không ảnh hưởng lắm đến cô. Nhưng chí ít cô lại có đủ lòng bao dung đối với Mạc Lan và Bá Dương: thi thoảng cô vẫn tự cho phép mình được băn khoăn về cuộc sống hiện tại của họ. Họ đã không may khi gặp cô, không may khi tình cờ đi lạc vào một chiến trường nơi họ không có lý do gì để xuất hiện cả. Mà chiến trường đó thuộc về ai chứ? Đã có thời Như Ngọc từng nghĩ rằng đó là cuộc chiến giữa cô và Tiểu Ái, nhưng Tiểu Ái làm sao có thể với tới được cô; cũng có thể đó là cuộc chiến giữa Như Ngọc và Chúa, nhưng ngày ấy - và cả bây giờ - cô vẫn đâu chịu nhường cho Người cái vị trí đó.
Cứ cho là người ta có thể lao đầu vào một cuộc chiến mà không có kẻ thù nào rõ ràng, và có thể, với một sự quyết tâm mù quáng, để lại một dãy dài tử thi đằng sau. Nếu đó là số phận của mình, Như Ngọc thấy việc băn khoăn bây giờ là vô ích. Mạc Lan và Bá Dương là các nạn nhân của cô, nhưng theo cách nào đó, cuộc sống của họ hẳn cũng đã nhờ cô mà được nâng tầm lên. Ý nghĩ này, dĩ nhiên là tàn nhẫn trong mắt người đời, khiến Như Ngọc thấy dịu lòng: suy cho cùng, họ cũng đâu phải là những con người quá phi thường. Từng ấy năm sống - từng ấy năm gây sự với xung quanh, hả hê với những thắng lợi cỏn con vụn vặt có lẽ đã bào mòn đi ở họ sự ngây thơ theo một cách nhàm tẻ nhất. Tuy nhiên, cái thú vị của họ lại không nằm ở sự ngây thơ bị phản bội - sự ngây thơ nào mà chẳng bị phản bội - mà nằm ở chỗ cả Bá Dương và Mạc Lan đều không biết cách mang vác một gánh nặng bền bỉ như Tiểu Ái, hay không hiểu tại sao đó lại là gánh nặng của họ.
Lẽ ra Chúa nên mở lòng nhân từ với Mạc Lan và Bá Dương, Như Ngọc nghĩ; lẽ ra Chúa nên để Tiểu Ái chết từ lâu rồi mới phải. Nhưng Người đã bướng bỉnh làm theo mong muốn của mình, thay đổi ý định và điều chỉnh một vài tiểu tiết, mà sự sửa đổi kịch bản - bất kỳ kịch bản nào Người khởi tạo ra, Người đều chịu một lời nguyền là phải đeo cặp mắt nhìn thấu tất thảy - mà điều này chắc gì đã mang lại sự thỏa thuê. Liệu điều đó có khiến Người cảm thấy cô độc, thậm chí là bị ruồng bỏ? Hay Người có thấy nhàm chán, rồi bực dọc vì chính sự nhàm chán của mình?
Người , Như Ngọc tự nhủ trong thâm tâm với vị Chúa mà từ lâu cô đã không còn tin tưởng, Người được con thông cảm .
Như Ngọc chỉ bị ngạc nhiên một lần duy nhất trong đời - ngạc nhiên trước miệng lưỡi của Tiểu Ái khi nó dò xét điều mà nó không có quyền dò xét; ngạc nhiên trước sự im lặng như tê liệt của chính cô, mà hẳn đã được Tiểu Ái diễn giải ra là sự phục tùng. Có phải chuyện đó cũng nằm trong kịch bản của Chúa rồi không? Nếu Người có vạch thêm kế hoạch nào khác cho cô nữa, thì từ đó đến nay cô đã không để mình bị bắt thêm lần nào. Người đã đánh bại cô một lần duy nhất đó vì Người là Chúa, mà cô thì còn quá trẻ.
Chiếc chuông treo trên cửa kêu leng keng. Như Ngọc kìm lòng dằn sự khó chịu xuống - chắc một vị khách nào đó đang bước vào cửa hàng, muốn mua thứ gì đó, hoặc tệ hơn, không biết mình muốn gì, đòi cô gợi ý, rồi lại chờ cô chốt hộ. Nhưng khi ngẩng đầu lên, cô chỉ thấy Edwin, hai tay lỉnh kỉnh các túi đựng đồ ăn từ nhà hàng gần đó, đang lách người đi vào. Anh đặt chân ngáng cửa để cánh cửa từ từ đóng lại, cho tiếng chuông bớt ồn ào.
Đúng ra thì cô nên đứng lên chào anh, nhưng Như Ngọc ngồi yên giây lát, nhìn cánh cửa chậm rãi khép lại sau lưng Edwin, thầm mong ai đó chạy ào vào để phá tan cái bong bóng của sự yên lặng lén lút đang vây quanh họ lúc này.
“Xin chào,” Edwin nói.
“Ồ, ra là anh,” Như Ngọc nói. Sao lại chặn tiếng cái chuông nhỉ, nhiệm vụ của nó là kêu kia mà?
“Cô đóng cửa hàng chưa?”
“Chưa,” Như Ngọc nói, cố tươi tỉnh lại sau cơn bực mình thoáng qua vừa rồi. “Celia cử anh đi mua đồ ăn, lại còn dặn mua thêm đồ bày tiệc à?” Cô hỏi. Chắc hôm nay Celia lại không tìm được cảm hứng để nấu một bữa tối tử tế, đảm bảo cả về mặt thẩm mỹ và dinh dưỡng.
Edwin cho biết ngày hôm sau họ sẽ tổ chức tiệc mừng sinh nhật cho một đồng nghiệp năm mươi tuổi, nên anh định mang một ít bánh kẹo đi. Như Ngọc hất đầu về phía kệ bày hàng rồi bảo anh cứ thong thả chọn. Lẽ ra cô nên chạy ra giúp, gợi ý, hỏi han về lũ trẻ và chuyện học hành của chúng, nhưng quả chuông bị nghẹn tiếng đã quay lại ám ảnh cô - không phải từ trong cửa hàng nho nhỏ ấm cúng này ở trung tâm một thị trấn ngoại ô mang phong vị một con phố chính của miền Tây xa xưa, mà từ khu tập thể ở Bắc Kinh cách nay nửa đời người. Cái chuông treo trên cửa nhà Tiểu Ái không mấy khi có cơ hội kêu vì Dì thường lật đật chạy ra lấy tay giữ nó lại. Ngày ấy, Như Ngọc cứ băn khoăn mãi, treo chuông làm gì khi mà cứ liên tục phải ngăn cho nó khỏi kêu? Nếu hỏi Chú, chắc Chú sẽ nói đó là do Dì muốn giữ cho nó được bền, hoặc Dì không muốn làm kinh động đến Ông, nhưng Như Ngọc biết, Chú chỉ muốn tin vào câu trả lời của chính mình mà thôi. Trong nhà treo chuông hay không, cả hai đều chẳng có gì sai, nhưng treo chuông mà muốn chặn tiếng thì lại là một hành động thiếu nhất quán, vừa muốn biết, vừa muốn không biết những sự đến và đi. Cái hấp tấp lén lút của Dì khi chạy vội đến chỗ cái chuông mỗi khi nghe tiếng bước chân ai đến gần cánh cửa - hình ảnh đó chợt hiện rõ mồn một trong đầu Như Ngọc, khiến cô rùng mình vì cơn oán giận chợt ập đến - chẳng phải đó là một dạng tham lam hay sao, muốn ở đó, luôn luôn là ở đó, để được là người đầu tiên chào đón người mới đến và là người cuối cùng nói lời tạm biệt người đi?
“Cô thấy sao, Ý hay Pháp?” Edwin hỏi, mắt vẫn săm soi nhìn chỗ sô-cô-la truffle . “Hay cả hai đều không?”
“Bỉ,” Như Ngọc nói, trong bụng thừa biết rằng dù Edwin chọn gì thì rốt cuộc, trong mắt Celia đó cũng chỉ là những dấu hiệu của khả năng phán đoán kém cỏi. “Celia thế nào?” Cô hỏi.
Như thường lệ, cuống lên lo bữa tối Lễ Tạ ơn sắp tới không làm vừa lòng bố mẹ cô ấy đang ở thăm, Edwin nói. Như Ngọc gật đầu thông cảm. Năm ngoái Celia sụt sùi mãi khi bố mẹ cô quyết định nghỉ lễ với gia đình cô em gái. Hai năm liền rồi đấy, Celia nói hờn; không phải cô thích cái phiền toái khi có họ đến nhà, nhưng chẳng phải họ nên giải thích sao?
Edwin đặt hai hộp lên quầy và nhìn Như Ngọc tính giá. “Dạo này cô thế nào?” Anh hỏi bằng giọng tình cờ đến phi tự nhiên.
Như Ngọc ngẩng đầu lên. Thật sao, cô nghĩ thầm trong bụng, bỏ tiền ra mua hai hộp sô-cô-la truffle đẹp thế này chỉ để hỏi một câu như vậy sao? Cô dán hai cái nhãn màu vàng có logo của cửa hàng lên hai chiếc hộp rồi dùng ngón tay vuốt chúng cho phẳng. Có lẽ Edwin đã sơ sẩy mà không nhắc đến Celia trong cuộc nói chuyện giữa họ; ít ra đó là điều mà Như Ngọc muốn tin. “Anh hỏi vậy làm gì?” Cô nói.
“Tôi nhớ cô có nói bạn cô mới qua đời,” Edwin trả lời. “Tôi hy vọng là cô đã thấy khá hơn rồi.”
Tại sao cô lại lỡ lời mà kể cho anh biết một điều không liên quan gì vậy chứ? Tệ hơn, tại sao Edwin, với một đầu óc thực tế như vậy, lại không chịu quên đi cuộc trò chuyện vốn ngay từ đầu đã không nên diễn ra chứ? Biến một điều thành bí mật - như cách Edwin làm với tin về cái chết của Tiểu Ái - cũng giống như tự gây thương tích lên chính cơ thể mình. Để lộ ra một điều tai hại - bước vào cửa hàng và hỏi han về cái chết đó một lần nữa - nghĩa là vạch cái vết thương đó ra mà bày trước mặt người khác. Một bí mật không bao giờ lành biến một người, dù gần gũi đến đâu, thành một người lạ, hay tệ hơn, một người tâm phúc, trở thành kẻ thù.
“Tôi ổn cả,” Như Ngọc nói. “Cảm ơn anh đã hỏi thăm.”
Edwin lẩm bẩm câu gì đó, rồi gương mặt anh đỏ lựng lên. Như Ngọc thở dài. Là người bán hàng, cô thừa kiên nhẫn và năng khiếu cho các cuộc tán gẫu vô thưởng vô phạt. Khách khứa đến cửa hàng của cô lúc rỗi việc, thủng thẳng ngắm nghía những vật xinh xinh bày trên kệ: những chiếc kẹo bơ cứng và sô-cô-la nhập khẩu bọc trong những giấy gói và hộp đựng tinh tế; những chiếc cốc uống nước được làm thủ công với những hình vẽ và câu nói dí dỏm, hoặc gớm ghiếc, hoặc ngớ ngẩn; những chén trà mỏng mảnh bằng sứ bày biện xung quanh một ấm trà như những đứa trẻ mồ côi ngoan ngoãn, luôn luôn ngóng chờ được đong đầy bằng tình yêu; những món đồ chơi vặn dây cót bằng thiếc nom thiếu chắc chắn và kém hấp dẫn trong mắt trẻ con ngày nay nhưng lại mang đến cho cửa hàng một bầu không khí xưa cũ. Không thứ gì được bày bán ở đây là cần thiết đối với bất kỳ ai cả, nhưng chính vì cái sự không cần thiết này mà chúng tiếp tục tồn tại, và tiếp tục được yêu chuộng: cái hoan hỉ của đời người đa phần không xuất phát từ cái tuyệt đối của hạnh phúc và những điều tốt đẹp, mà từ niềm hy vọng rằng điều gì đó sẽ đủ tốt, và rằng người ta sẽ cảm thấy mình đủ hạnh phúc. Có lẽ vì lý do đó mà người ta mới bước vào đây - La Dolce Vita 4 là một trong số những cửa hàng nơi người ta bước vào mà không biết mình muốn gì, bụng bảo dạ rằng biết đâu nơi này sẽ mang đến cho họ một manh mối, một giải pháp nào đấy, hay chí ít là một khoảnh khắc được sao lãng cuộc đời. Công việc của Như Ngọc là thuyết phục một khách hàng rằng ai đó - có thể là một người bạn, một người thân trong gia đình, hay thậm chí là chính bản thân người khách ấy - xứng đáng được hưởng một chút buông thả. Như Ngọc không bận tâm chuyện mình dành một phần thời gian trong một cửa hàng không mấy ý nghĩa với bất kỳ ai; những nơi này - cửa hàng, căn bếp của Celia, sân bóng đá nơi thỉnh thoảng cô lái xe đưa con trai của Ginny tới tập rồi ngồi chờ giữa những người phụ nữ đang say sưa nhìn con tập với sự trìu mến vô hạn - cho phép cô vừa được sống giữa mọi người lại vừa có thể đối xử với họ như thể họ là cặp búp bê Hà Lan đang hôn nhau đặt cạnh máy tính tiền. Ở khoảng cách đủ xa, cô thậm chí còn có thể tự cho phép mình được cảm thấy một sự trìu mến nào đó với những người đàn ông, đàn bà, và trẻ nhỏ kia; thế nhưng từ cái màn sương mờ đang tiêu tan ấy lại xuất hiện Edwin, một người, vì bất kỳ lý do nào đó, cứ một mực đòi hỏi quyền được coi là thật và không thể chối bỏ. “Tôi không có ý khó chịu gì đâu,” Như Ngọc nói. “Tôi chỉ không muốn ồn ào vì một chuyện nhỏ nhặt thôi.”
“Cái chết của một người bạn đâu phải chuyện nhỏ nhặt.”
Như Ngọc nhìn Edwin, phân vân không biết mình khinh miệt hay thương hại anh, một kẻ đang ngớ ngẩn tự chui vào tròng làm nạn nhân cho lòng tử tế của chính mình. Sự quan tâm trong giọng nói của anh là sự quan tâm của một tâm hồn đang khao khát yêu thương; khi hành động như thể anh cũng đau đớn trước nỗi mất mát của cô, nghĩa là anh đang yêu cầu cô phải thừa nhận ở anh quyền được cảm nhận nỗi đau của cô. “Cô ấy không phải là bạn thân,” Như Ngọc nói, cố hết sức để giữ nét bình thản trong giọng nói. Anh đã không may khi lạc bước vào bãi chiến trường cũ, nhưng hôm nay cô thấy không cần phải có thêm ca thương vong nào.
“Hôm nọ tôi trông cô có vẻ buồn.”
“Thế thì tôi e là anh nhầm rồi,” Như Ngọc nói. “Đó là một trong những người mà tôi không bao giờ muốn gặp lại hay nghe đến nữa, tôi không cảm thấy đau khổ gì về cái chết của cô ta cả. À, tôi xin rút lại lời nói đó. Nỗi đau duy nhất mà tôi cảm nhận được là cô ta đã không chết sớm hơn. Giờ thì anh yên tâm là tôi sẽ sống ổn rồi chứ?”
Edwin giật mình, bối rối tìm lời để nói, còn Như Ngọc, sự nhân từ của cô dành cho anh đã hết, trân trối nhìn anh loay hoay mà không hề tỏ ý muốn giúp đỡ. Thời gian, dù là cũ hay mới, được sống hay chưa được sống, chỉ đơn thuần là một cơ thể mà cô mang bên trong con tim mình, trọng lượng của nó mỗi ngày một teo tóp đi, mà sự lạnh lẽo của nó thì càng lúc càng được thích nghi dần, sự ích kỷ của nó dễ dàng được hiểu, hoặc bị hiểu nhầm, là sự bình thản. Và rồi đến Celia - tất cả các Celia trên thế giới này - người đã giúp cô không cần chật vật gì mà vẫn có thể được là chính mình: cặp mắt của họ không nhìn vào cô hay nhìn xuyên thấu cô, mà lại đôn đáo tìm kiếm chính bản thân họ trên gương mặt cô. Chẳng lẽ Edwin không rút ra được bài học gì từ cuộc hôn nhân của mình sao? Tại sao anh còn tới đây, cố công dựng dậy cái không thể hồi sinh làm gì? “Anh có theo tôn giáo nào không?” Như Ngọc hỏi.
Edwin lắc đầu, bối rối giải thích rằng ông bà và bố mẹ anh có theo đạo, và họ đã nuôi dạy anh theo đức tin của mình - nhưng không, bây giờ thì anh không theo tôn giáo nào cả.
“Vậy thì đừng cố đối xử tốt với người lạ,” Như Ngọc nói. “Chẳng có ích gì đâu.”
“Tôi không hiểu.”
“Ví dụ dễ hiểu thế này nhé: ngay lúc này, chẳng phải anh nên lo lắng về chuyện bữa tối của gia đình anh sắp nguội ngắt thay vì băn khoăn về một người chết mà anh chưa từng gặp mặt hay sao?”
Khuôn mặt Edwin lại đỏ bừng. “Tôi xin lỗi,” anh nói. “Lẽ ra tôi không nên đường đột.”
Có gì đó khiến Như Ngọc thấy lòng dịu lại. Cái thôi thúc phải làm cho ai thấy bẽ bàng và nhục nhã cũng phản trắc như cái thôi thúc phải tử tế, bởi bất kỳ cảm xúc nào cũng đều trao cho người khác cái tâm thế bớt lập giả định hơn. “Hãy quên chuyện này đi. Người đó không có chỗ ở đây, còn chúng ta cũng đừng làm phức tạp hóa cuộc sống bằng cái chết nữa,” Như Ngọc nói, chỉ tay ra phía cửa, nơi chùm chuông vẫn đang kiên nhẫn chờ được lên tiếng chào tạm biệt Edwin. “Cho tôi gửi lời thăm Celia và lũ trẻ nhé.”
Tối đó, Như Ngọc thả bộ về nhà dưới ánh trăng. Sương mù từ vịnh bồng bềnh dạt vào đất liền, và trên khắp vùng hẻm núi, những ánh đèn vàng đang thắp sáng ô cửa sổ các ngôi nhà, những ô cửa sổ vừa đủ mờ để trưng ra một vẻ kỳ ảo như mộng như mơ. Ba tối mỗi tuần, Như Ngọc ở lại cửa hàng cho đến khi đóng cửa. Chuyến đi bộ lên đồi, nếu có người đi cùng, chắc là sẽ lãng mạn lắm trong mắt người khác; nhưng cô lại vắng bạn đồng hành, nên người nào thấy cô có lẽ sẽ chạnh lòng nghĩ đến sự cô độc. Mà sự cô độc, cũng như tình yêu, là một niềm tin viển vông vào ý nghĩa của thế giới này: khi lựa chọn cảm giác cô độc, cũng như khi lựa chọn tình yêu, tức là người ta đã tạo ra một khoảng trống ngay bên cạnh mình để chờ người khác đến lấp đầy - một người bạn, một người tình, một con chó đồ chơi, một nghệ sĩ chơi vĩ cầm trên sóng phát thanh.
Suốt cuộc đời mình, Như Ngọc vẫn tin rằng cô có thể che chắn cho mình khỏi tình yêu và sự cô độc, bí quyết của cô là hiện tại sẽ chỉ được tồn tại trong khoảng thời hạn mà nó được phép. Người phủi bụi trên các kệ trong cửa hàng cũng chắc chắn và có thật như người trông hai con chó giống pomeran khi chủ nhân của chúng đi nghỉ ở miền Nam nước Pháp hay Ý, hoặc như người làm gia sư tiếng Quan Thoại cho một cậu nhóc không mấy hào hứng với việc học. Là một sát thủ bẩm sinh, cô đã thuần thục kĩ năng kết liễu từng khoảnh khắc trước khi phóng thích nó vào hàng đống những khoảnh khắc đã qua. Không có gì gắn kết khoảnh khắc này với khoảnh khắc khác; thời gian bị xóa bỏ không trở thành ký ức.
Tiếng dế gáy trong các bụi cây, ngừng lại khi bước chân Như Ngọc tới gần, nên dọc quãng đường đi, cô chỉ có thể nghe được tiếng những con dế ở xa xa. Những kẻ khóc mướn của mùa thu này, ngay cả khi đang trong dàn hợp xướng, ranh ma hơn lũ sơn ca, và sầu thảm hơn cả đám cú. Đã gần đến Lễ Tạ ơn, nhưng thời tiết vẫn dễ chịu lạ thường, thậm chí là với vùng bắc California. Ở Bắc Kinh giờ này, những con dế cuối cùng của mùa thu chắc đã chết cóng vì những đợt lạnh đầu tiên từ Siberia thổi đến.
Có những thứ xuất hiện mà không báo trước, như lũ dế, như bóng đêm của mùa này: tới lúc nhận ra chúng, người ta đã trở thành nạn nhân của sự mê hoặc quỷ quyệt của chúng rồi. Như Ngọc nhìn bóng mình bị một bụi cây gần đó biến thành một hình thù quá lạ lẫm so với cô. Đột nhiên, theo bản năng, cô bước lùi lại và trốn vào cột đèn duy nhất đứng sau một cái cây. Cái gì đó trườn vào các lùm cây phía sau cô, một con sóc hay gấu mèo nào đó. Tự nhiên khiến cho người ta tìm đến đồng loại của mình, nhưng đồng loại thì làm được gì ngoài việc khiến người ta càng thêm cô độc hơn?
Khi Như Ngọc gần về đến nhà, chuông điện thoại của cô reo lên. Celia gọi, Như Ngọc bắt máy: không nên bỏ bê những con người bình thường.
“Cô đang ở đâu vậy?” Celia hỏi.
“Tôi sắp mở cửa nhà đây.”
“Edwin nói trông cô không được khỏe. Có chuyện gì vậy?”
Trì hoãn sự trung thực có phải là một hình thức của sự lừa dối không? “Không có chuyện gì đâu,” Như Ngọc nói.
“Cô bị cảm lạnh à?” Celia hỏi. “Giọng cô nghe buồn cười lắm.”
“Chắc đó là triệu chứng rồi.”
“Hoặc là không,” Celia nói. “Nghe này, cô không phải kể gì cho tôi cả, nhưng nếu nói ra giúp nhẹ lòng hơn thì tôi sẵn sàng nghe.”
“Sẵn sàng nghe cái gì kia?”
“Edwin nghĩ là người nào đó quan trọng với cô vừa mới qua đời,” Celia nói. “Sao cô không kể gì cả?”
“Nếu là người quan trọng thì tôi đã kể cho cô nghe rồi,” Như Ngọc nói. “Tôi chỉ tình cờ nói chuyện đó với Edwin mà lại quên kể cho cô - điều đó không đủ để chứng tỏ rằng không có gì đáng để bận tâm hay sao?”
“Người đó là phụ nữ à? Edwin nghĩ đó là người yêu cũ của cô mà?”
Có lẽ trong sự hiếu kỳ của Edwin thuần túy chỉ là lòng trắc ẩn chân thành, nhưng Như Ngọc không thể không cảm thấy phẫn nộ: thụ động - một cách đầy chủ đích, Edwin đã đẩy người vợ ngây thơ của mình đi phục kích Như Ngọc. Cô thở dài. “Nói chuyện này sau nhé, Celia.”
“Mai cô đến uống cà phê với tôi được không? Trước khi tới cửa hàng ấy?”
Như Ngọc nhìn đồng hồ. Cô có chưa đầy mười hai tiếng nữa để nghĩ ra điều gì đó hay ho mà ngăn Celia thôi truy đuổi đề tài này. Được, Như Ngọc đồng ý. Cô sẽ đến sau khi Celia thả lũ trẻ ở trường.
Nhưng khi đã yên vị trong nhà, Như Ngọc lại không thể theo đuổi quyết tâm sửa soạn một câu chuyện để kể cho Celia nghe nữa. Mọi kế hoạch đều cần cô phải hình dung đến tương lai - một ngày hay một tháng tới - nhưng ngay khi vừa đặt ra nhiệm vụ đó cho mình, đầu óc cô lại trống rỗng một cách bướng bỉnh. Người ta phải tới các phòng tập yoga hay thiền viện mới đạt được trạng thái đó; tiếc là cô lại không chia sẻ được bí quyết của mình với thế giới, nhưng nghĩ tới đây Như Ngọc đã thấy mệt lử rồi. Cô đã kịp nhận ra là kể từ khi tin tức về cái chết của Tiểu Ái xuất hiện, cô càng ngày càng chóng bị mệt hơn. Những cuộc tranh cãi với một vị Chúa từ quá khứ hẳn đã tác động đến cô nhiều hơn cô tưởng.
Từ lâu Như Ngọc đã nhận ra là các bà dì của cô, tuy đinh ninh rằng mình là những con chiên ngoan đạo, lại chỉ bám víu vào một đức tin do chính họ tạo ra thì đúng hơn, vị Chúa mà họ trao cho cô cũng không phải là vị Chúa trong lời cầu nguyện của những người khác. Nhưng việc họ trao cho cô đức tin sai lầm thì có quan trọng gì đâu chứ, vì đằng nào thì bây giờ cô cũng không còn đi theo đức tin đó nữa rồi. Dẫu sao, Như Ngọc biết rằng mình vẫn phải biết ơn các bà dì: khi trao một vị Chúa cho cô, họ đã đặt cô vào vị thế bề trên ở thời điểm mà một đứa trẻ mồ côi có thể dễ dàng bị thế giới ăn tươi nuốt sống; khi bỏ họ và Chúa của họ lại đằng sau, cô đã đạt tới ngưỡng không một thế lực nào có thể hủy hoại.
Như Ngọc xả nước vào bồn tắm rồi bật đĩa CD có bản concerto viết cho piano mà cô đang nghe dở, của ai lúc đó cô không buồn nhớ nữa.
Cô để tâm trí phiêu diêu trong hơi nước ấm; thi thoảng một khúc nhạc nào đó trong bản concerto lạc vào đầu cô, dường như cô có thể thấy rõ mồn một nó được in trên tờ giấy ký nhạc rồi các nốt nhạc rủ nhau bơi đi như những con nòng nọc. Người ta dễ để tuột mất đám nòng nọc, cũng như người ta có thể dễ để tuột mất bất kỳ thứ gì. Một lần, hồi tám tuổi, Mạc Lan và Bá Dương tới một cái hồ gần nhà để bắt nòng nọc, cho vào các ống gấp bằng giấy sáp đựng nước hồ, hai đầu được buộc bằng dây nho; họ định chạy về khu tập thể để thả đám nòng nọc vào chiếc thùng phuy lớn mà thầy giáo Phán đang thả hai con cá chép Nhật, nhưng không hiểu sao họ lại vòng vèo tạt vào nhà một người bạn cùng lớp, rồi cả ba nhảy nhót trên giường của cậu bạn một hồi, quên khuấy cả đám nòng nọc.
Họ không bao giờ dám lên tiếng hỏi người bạn kia về chiếc giường của cậu, Mạc Lan bổ sung thêm khi cô kể câu chuyện này cho Như Ngọc nghe. Đám nòng nọc tội nghiệp, Bá Dương nói giọng ăn năn; và cậu bạn tội nghiệp, Mạc Lan thêm vào, giọng hai người rõ ràng và sát gần bên tai Như Ngọc đến nỗi cô thình lình mở mắt ra. Hơi nước vẫn chưa tan hết. Có lẽ cô mới chỉ thiếp đi một lúc, nhưng cô cảm thấy khó hiểu; cô tưởng như mình vừa nhìn thấy và nghe thấy tiếng Mạc Lan và Bá Dương, không chỉ là lúc họ đã lớn rồi kể lại cho cô câu chuyện này, mà còn cả lúc họ mới tám tuổi, những đứa trẻ vô tư lự mà lẽ ra cô chưa từng biết, thế nhưng trông họ lại rất đỗi thân thuộc trong giấc mơ của cô, nếu như đúng là cô đã trông thấy họ trong giấc mơ của mình.
Như Ngọc không nhớ nguyên do gì khiến họ kể cho cô nghe câu chuyện đó. Thực ra họ kể cho cô nghe đủ thứ, nhưng hầu như không còn gì đọng lại trong trí nhớ của cô. Như Ngọc không ưa nghĩ ngợi về tuổi thơ của người khác, nhưng hình ảnh Mạc Lan và Bá Dương, mới giây phút trước đây thôi, lại hiện lên sống động đến mức cô gần như có thể cảm nhận được sự sửng sốt của họ khi đánh mất lũ nòng nọc.
Như Ngọc không nhớ trông cô như thế nào ở độ tuổi đó; dĩ nhiên, các bà dì thì cô nhớ rõ: giọng nói và tác phong của họ, cặp lông mày tỉa gọn gàng và búi tóc ngay ngắn, những hình ảnh ấy chưa lúc nào mờ nhạt mỗi khi cô mường tượng về họ. Nhưng cô không thể nhìn ra mình ngày đó, hay bất kỳ độ tuổi nào trong thời gian cô ở với họ. Trong căn hộ ấy có gương không nhỉ? Như Ngọc nhớ có một chiếc hình bầu dục, chỉ nhỏ như một chiếc gương tay, dựng ở một giá kim loại đặt trên một chiếc tủ cao, các bà dì thường soi trước khi ra khỏi nhà. Cô đã được họ đưa cho cầm chiếc gương đó chưa nhỉ, Như Ngọc băn khoăn, nhưng không thể trả lời chắc chắn. Theo như cô nhớ, chiếc tủ đó rất cao, có tới tám tầng ngăn kéo chia thành hai hàng. Đó là một trong số ít tài sản của các bà dì sống sót sau nhiều đợt viếng thăm của Hồng vệ binh: khác với các món đồ nhỏ hơn, chiếc tủ này không thể giấu đi đâu được, nhưng các thanh niên cách mạng đã chừa món đồ nội thất nặng nề này ra, có lẽ họ cho rằng nó nặng quá, không thể khiêng xuống tầng để mà ném vào lửa được, hoặc cũng có khi họ không có công cụ thích hợp để chặt nó ra. Khi có thể với tới nóc tủ để lấy đồ, chắc Như Ngọc cũng phải mười tuổi rồi. Không, cô không nhớ lần nào mình từng soi gương cả; hẳn nhiên là đã có lúc cô được phép làm thế, nhưng điều đó thì có khác gì chứ? Cô đã để mất những cơ hội - mà không, cô không mất chúng, vì cô chưa từng được trao cho những cơ hội ấy - để có một tuổi thơ bình thường. Không có gì phải thất vọng vì thế cả: sự thất vọng là dành cho những người đã lập kế hoạch, những người đã gieo hạt và không chịu chấp nhận cái trống vắng của cuộc sống.
Rất nhiều thứ đã được lên kế hoạch cho cô, rất nhiều điều đã được kỳ vọng ở cô, vào lúc này hay lúc khác, và thành tích của cô - liệu có phải đây là thành tích duy nhất cô đạt được? - là phá hỏng kịch bản hay của tất cả mọi người. Nhưng sao lại không chứ? Cô chưa hề yêu cầu dự phần vào đời sống của ai cả, mà họ, hoặc là quá tự tin hoặc quá tự ti, dường như lại cứ nhất định phải tìm ra cách thay đổi điều đó mới yên tâm.
Cuộc hôn nhân đầu tiên của Như Ngọc kết thúc khi người đàn ông cô lấy làm chồng được hai năm mất kiểm soát và đánh cô. Cô chỉ lấy tay che mặt trước những cú đấm của chồng để tự vệ, rồi sau đó bình thản nhìn anh ta sụp xuống khóc lóc, gọi cô là con quỷ đã biến anh ta thành kẻ vũ phu như bố mình. Cô đã làm gì chứ, ngoại trừ việc vẫn là con người mà anh ta mới chỉ nhìn thấy hai lần trước khi cưới, cô tự hỏi lúc săm soi cơ thể bầm tím của mình trong gương để quyết định xem nên đau ở mức nào là hợp lý. Khi cô gặp, qua sự mai mối của một người quen, người đàn ông lớn hơn cô chín tuổi này, mục đích không phải vì những kỳ vọng về một cuộc sống tốt đẹp hay một cuộc hôn nhân hạnh phúc nơi đất Mỹ, mà vì muốn thoát ly khỏi sự kiểm soát của các bà dì cũng như khỏi cuộc sống của chính cô ở Trung Quốc. Khi anh ta, với vẻn vẹn hai tuần nghỉ phép và mục tiêu tìm vợ trong đầu, quyết định cưới một người xa lạ, một cô gái chưa đến hai mươi, chẳng phải anh ta nên chuẩn bị sẵn sàng tâm lý cho mọi điều có thể xảy ra hay sao? Hẳn rồi, anh ta đã nghĩ đến những điều thiết thực: anh ta không bao giờ cho cô dùng chung tài khoản ngân hàng của mình, mỗi tuần cho cô hai mươi đô la tiền tiêu vặt ngoài tiền sinh hoạt; cho cô lựa chọn theo học một bằng về kế toán hay thống kê sinh học, cả hai ngành đều giúp cô tìm việc dễ dàng và đóng góp đáng kể cho gia đình; khi bắt đầu mỗi học kỳ, anh ta đều đích thân đi đăng ký các lớp học cho cô để có thể nắm rõ lúc nào cô ở đâu, và không bao giờ cho cô học các lớp buổi tối, vì vào buổi tối cô phải phục vụ ở một nhà hàng buffet của người Trung Quốc, chuyên thuê người nhập cư có visa sinh viên, vốn là những người không được phép đi làm và sẵn sàng lao động với đồng lương dưới mức tối thiểu. Nếu hôn nhân giữa họ là một giao dịch, thì Như Ngọc đã chấp nhận các điều khoản của anh ta, đồng ý thực hiện bổn phận làm vợ để đổi lấy nơi ở, thức ăn, và tiền học phí. Thực hiện bổn phận làm vợ, từ bỏ quyền sở hữu tương lai của mình mà đổi lấy chiếc vé máy bay một chiều: chứ cô chưa từng đồng ý yêu, và cũng không hề trông chờ tình yêu của anh; ấy thế nhưng anh ta lại nổi giận nhân danh tình yêu, và gọi cô là người lạnh lùng nhất anh ta từng gặp. Ngay cả một tảng băng cũng phải tan chảy sau hai năm anh ta dày công cố gắng, anh ta nói vậy, và gọi cô bằng đủ thứ danh xưng mà trước đó cô không hình dung nổi là anh ta có thể. Không biết bố anh ta có dùng những ngôn từ đó mà gọi mẹ anh ta hay không.
Khi anh ta trấn tĩnh lại, Như Ngọc nói cô sẽ không báo cảnh sát - với tấm bằng Tiến sĩ sắp nhận và lời đề nghị công việc từ một đồng nghiệp cũ của thầy giáo cố vấn, anh ta không thể dính dáng tới pháp luật được, điều đó sẽ xóa bỏ giấc mơ của anh ta về tấm thẻ xanh trên nước Mỹ. Nhưng đổi lại, cô nói, cô muốn ly hôn và một khoản tiền đủ cho hai năm học tập và trang trải sinh hoạt. Anh ta nói mình không có số tiền đó; Như Ngọc đáp cô sống đơn giản và không đòi hỏi nhiều, nếu anh ta không chấp nhận, cô sẽ phải xoay xở cách khác.
Đồ tính toán, anh ta đã gọi cô như vậy trong một email gửi cô sau khi họ ly hôn, trong đó liệt kê tất cả những điều cô đã làm để giăng bẫy anh ta. Sự chân thành trong cơn giận dữ của anh ta khiến Như Ngọc không khỏi băn khoăn về sự khác biệt giữa bản chất thực của con người và cái mà người ta trưng ra trước thế giới. Cô chưa từng nghĩ mình là người tính toán, không phải bởi vì cô còn tốt đẹp hơn thế, mà bởi vì cô không tìm thấy thứ gì trong cuộc đời này đáng để tính toán cả. Cô đòi hỏi rất ít, và nếu có được cho ít hơn cô vẫn chấp nhận kia mà, nhưng việc ít mong muốn hơn, hay không mong muốn gì cả, rốt cuộc, lại là một hình thức tham lam mà chồng cô không thể sống cùng.
Sau cuộc hôn nhân đó, Như Ngọc không nghĩ đến chuyện tái hôn nữa. Cô tiếp tục học để hoàn tất bằng kế toán, vì cô không thấy cần phải thay đổi chương trình học. Khi tốt nghiệp, cô nhận ra rằng mình sẽ phải hoặc là có tham vọng và tìm việc làm ở các công ty lớn, hỗ trợ visa làm việc, hoặc là tìm ra một cách hợp pháp nào đó để ở lại đất nước này rồi mới có thể theo đuổi một công việc ít đòi hỏi hơn.
Thi thoảng Như Ngọc lại tự hỏi, không biết liệu cuộc hôn nhân thứ hai của cô có thể kéo dài hơn không, thậm chí là mãi mãi, nếu hoàn cảnh cho phép. Giả như ai đó có quyền trách móc về sự tính toán của cô, thì người đó chỉ có thể là Paul, người mà Như Ngọc đã gặp trước khi tốt nghiệp và quyết định hẹn hò nghiêm túc vì tương lai ở lại đất nước này của cô: đám cưới diễn ra trước khi thời hạn lưu lại một năm sau tốt nghiệp của cô kết thúc.
Paul lớn lên ở Bắc Dakota, và sau hai năm theo học ở một trường đại học trong vùng, anh hứng chí chuyển tới một trường đại học của bang ở California; anh muốn được tiếp xúc với thế giới rộng lớn hơn thị trấn quê nhà với vẻn vẹn hai nghìn người. Sau tốt nghiệp, anh tìm được một công việc vào giai đoạn đỉnh cao của bong bóng dot-com 5 ở Thung lũng Silicon, nhưng vốn không thực sự xuất sắc hay đủ tham vọng, anh không tìm được việc khác sau khi bong bóng này vỡ. Lúc này, Như Ngọc đã lấy được thẻ xanh nhờ cuộc hôn nhân đó và đang làm người giữ sổ sách bán thời gian cho một vài công ty trong vùng. Khác với người chồng đầu tiên, Paul chưa bao giờ coi công việc của cô là cần thiết đối với kinh tế gia đình cả; ước mơ của anh là kiếm được khoản tiền vừa đủ khi công ty của anh được chào bán ra đại chúng, rồi có ba hoặc bốn đứa con để Như Ngọc bận rộn ở nhà. Nhưng khi ước mơ đó tan vỡ, anh lại không thể xây dựng được ước mơ khác. Rồi đến bố mẹ anh, luôn mong ngóng một trong những đứa con của họ - cả bốn đều đã đi xa, tất cả đều chuyển tới những thành phố lớn - sẽ quay về để tham gia vào công việc kinh doanh của gia đình, là bán trang thiết bị đi thuyền kayak và quản lý tour du lịch cho những khách ưa mạo hiểm.
Đó cũng là quyết định đầy khó khăn đối với anh, Paul nói; anh hy vọng rằng về lâu dài cô sẽ hiểu rằng điều đó là tốt nhất cho họ.
Nhưng với Như Ngọc, những chuyến về thăm trường cũ, bất kể thuộc thể loại nào, là những vở bi hài kịch. Năm đầu tiên ở Mỹ, người chồng cũ đưa cô đến xem cuộc diễu hành chào mừng các cựu sinh viên của trường, và một xe diễu hành, chở một nhóm cựu sinh viên lớn tuổi mặc đồng phục, vẫy tay chào và cười toe toét dưới băng rôn của trường, khiến cô cảm thấy lúng túng thay cho cả những người trên xe và những người phải hò reo chào đón họ. Con người là những diễn viên dở tệ, và tệ nhất là những người làm những điều vượt quá những gì họ được yêu cầu: những diễn viên chính trong những đôi giày quá khổ. Nhưng biết đâu đấy lại là điều mà con người ta không thể ngừng làm - tự tạo ra tầm quan trọng bởi vì sự nhỏ bé của bản thân là điều quá đỗi nặng nề khiến ta không thể chịu đựng được. Về sau, khi đi học, Như Ngọc thi thoảng lại chăm chú nhìn bạn bè cùng lớp rồi tự hỏi trong số những cậu trai không chịu cởi mũ lưỡi trai và không ngừng nhai kẹo cao su trong lúc thầy giáo đang giảng trên bục, ai sẽ lớn lên rồi trở thành những người đàn ông trên chiếc xe diễu hành nọ.
Như Ngọc đã thẳng thừng từ chối tham gia chuyến về thăm trường cũ của Paul. Bức tranh mà anh vẽ ra về tương lai của hai người quá chật chội đối với cô. Sẽ có những con suối nơi anh từng lội xuống bắt cá khi còn nhỏ, có quầy bán kem nơi anh từng mua một chiếc kem ốc quế cho cô bạn gái thời cấp ba; Như Ngọc không bận tâm chuyện quá khứ của anh, nhưng cô không muốn bị đồng hóa vào quá khứ của anh, hay của bất kỳ ai khác.
So với cuộc ly hôn đầu, cuộc ly hôn thứ hai diễn ra nhẹ nhàng hơn, bớt ồn ào hơn. Cô vốn có thiện cảm với Paul, tuy không yêu; cô đã học cách hòa đồng với mọi người - bạn bè và đồng nghiệp của anh - và ăn mặc sao cho có thể khiến anh tự hào, học cách ăn nói dí dỏm, thậm chí còn tán tỉnh đôi khi. Cuộc hôn nhân kéo dài năm năm đã dạy cho cô thấy rằng nếu cố gắng, cô có thể đảm nhận bất kỳ vai trò nào, dẫu rằng không gì khiến cô hài lòng hơn là đứng từ một khoảng cách xa quan sát mọi người cho đến khi có thể nhìn thấu họ. Giấc mộng triệu phú không thành của Paul không khiến cô buồn lòng. Cô chẳng bận tâm khi mục kích sự dại dột của anh được kiểm chứng; thậm chí, cô còn có cảm giác hả hê hệt như mỗi lần nhìn thấy một con người trượt ngã.
Nước trong bồn tắm đã nguội dần, Như Ngọc miễn cưỡng đứng lên. Bản concerto đã hết từ lâu, nhưng đến giờ cô mới nhận thấy sự tĩnh lặng. Trong thế giới rộng lớn ngoài kia, những người đã tình cờ gặp cô đều đang sống trong những tổ kén an toàn của họ; còn những người đã khuất - các bà dì, chẳng hạn thế, hay Chú, hay Tiểu Ái - chuyện gì đã xảy ra với họ?
Như Ngọc không nhớ hai bà dì, xét theo nghĩa cô cũng chưa từng nhớ bố mẹ mình. Bốn người bọn họ đã cướp đi của cô quá đủ rồi; những gì còn lại là để trân trọng hoặc để vứt bỏ đi với sự vô cảm chỉ có thể sánh ngang với sự vô cảm của họ. Cái chết của Chú khiến con tim Như Ngọc gợn chút buồn dẫu chỉ là thoáng qua, nhưng theo sau đó là một sự an ủi: Chú là một trong những người mà cả cuộc đời bị nhận chìm trong một nỗi buồn vô căn cứ, và cái gì có thể là liều thuốc giải cho nỗi buồn công hiệu hơn chính cái chết đây?
Cái chết của Tiểu Ái nữa, cái chết được nhân từ ban tặng sau một khoảng thời gian dài đằng đẵng, có lẽ cũng là một liều thuốc giải. Tuy nghe có vẻ nhẫn tâm, nhưng Như Ngọc đã nói thật khi cô bảo Edwin rằng cái chết của Tiểu Ái đã đến quá muộn, không chỉ đối với chính người đang chờ đợi cái chết ấy mà còn đối với cả những người xung quanh cô nữa. Cứ mỗi năm trôi qua, Như Ngọc lại già hơn Tiểu Ái một tuổi, vì rằng cô chỉ biết Tiểu Ái khi Tiểu Ái còn là một cô gái trẻ. Một cảm giác lạ lùng chợt dấy lên trong lòng Như Ngọc khi một ý nghĩ thoảng qua rằng ngày đó Tiểu Ái còn trẻ lắm, thậm chí là ngây thơ, nhưng liệu đó có phải là sự ngây thơ đích thực không, khi mà nó có thể - và thực tế là đã - được dùng để làm ố bẩn người khác? Và rồi, cuộc chiến tồi tệ nhất, Như Ngọc nghĩ, đã diễn ra giữa những kẻ ngây thơ: vì không biết cách kiềm chế mình, nên họ không cảm thấy, dù chỉ một giây, thương xót cho đối thủ.