Buổi lễ ở Quảng trường Thiên An Môn vào ngày mồng 1 tháng Mười đã đến và đi; chẳng có sự kiện gì đáng nhớ cả, Mạc Lan thất vọng nghĩ bụng vì trước đó cô đã băn khoăn tự hỏi người ta có tìm cách nào để phản đối sự kiện ấy, vốn diễn ra chỉ bốn tháng sau cuộc đổ máu ở đó. Nhưng cuộc đổ máu, dẫu chưa thể bị quên lãng, lại không ảnh hưởng gì lắm đối với ngày này. Không có ai leo lên cột đèn để hô hào các khẩu hiệu, cũng không hành động phá hoại có tổ chức nào - một ống thuốc nổ tự làm ném vào đám đông không nhằm sát thương ai mà chỉ nhằm gây hỗn loạn, một lời báo động giả để lừa người ta di tản đi chỗ khác - như cô và Bá Dương đã hình dung đầy thèm thuồng.
Kịch tính duy nhất trong ngày đã diễn ra trước đó, vào buổi chiều. Khi cả trường tập trung, Hiệu trưởng Lưu phát cho mỗi lớp hai thỏi son môi, nói rằng quận ra lệnh cho các nữ sinh trông phải thật tươi tắn. Không ai lên tiếng chỉ ra rằng trang điểm ở trường là điều cấm, như đã ghi rõ trong nội quy học sinh. Khi đến lượt Như Ngọc, cô không tô mà chuyển thỏi son sang cho nữ sinh khác trong hàng.
“Sao vậy?” Lớp trưởng hỏi. “Nó có độc đâu.”
Mạc Lan đứng lên, sẵn sàng bảo vệ bạn mình. Như Ngọc không phải người ưa gây sự để thu hút về mình những sự chú ý không cần thiết, dù rằng cô không mặc đồ lễ phục như hướng dẫn. Ngày hôm đó, cô mặc chiếc áo khoác ngoài dài tay, màu xanh xám, là một trong những bộ đồ cô đã mang theo từ quê lên; màu sắc duy nhất liên quan đến cô, thứ màu sáng trên nền da xanh xao vì thiếu máu của cô, là chiếc dây vải màu đỏ dùng khi múa mà cô - khác với các nữ sinh khác dùng nó làm khăn quàng cổ, băng đô quấn đầu, hay thậm chí là cuộn lại làm hoa cài trên ngực áo - quấn quanh cổ tay.
Mất vệ sinh lắm, Như Ngọc trả lời. Lớp trưởng nhìn cô trân trối, sững sờ trước một câu nói bạo gan như vậy, nhưng Như Ngọc chỉ nhếch miệng cười; thái độ khinh thị mà cô không hề có ý định giấu giếm, đối lập hẳn với cơn thịnh nộ của lớp trưởng, khuôn mặt đỏ bừng, bầu ngực phập phồng, những từ ngữ mới kịp định hình dở dang đã tuôn ra ào ạt.
Lớp trưởng không phải là người dễ ưa, và Mạc Lan vốn cũng đã nhìn thấy trước rằng cô gái này khi lớn lên sẽ trở thành người có thể dễ dàng chà đạp lên những kẻ kém may mắn hơn mình. Tuy vậy, Mạc Lan vẫn thấy tội cho cô gái này, sợ rằng trong mắt Như Ngọc, chính bản thân Mạc Lan cũng có một vị trí chẳng khác gì so với lớp trưởng. Mạc Lan thở dài, đứng chen vào giữa lớp trưởng và Như Ngọc. “Thôi đừng làm ầm lên,” Mạc Lan xoa dịu lớp trưởng. “Nhỡ Hiệu trưởng Lưu nghĩ là cậu không làm việc ra hồn thì sao.”
Dường như mọi người đều thích thú với đêm lễ. Các học sinh xoay xoay thành những vòng tròn người xếp khin khít giữa mớ âm thanh om sòm của những chiếc loa phát mười bốn bài hát nhạc nền vào biển người đang chuẩn bị nhảy. Cứ sau ba mươi phút lại đến mười lăm phút giải lao để chiêm ngưỡng màn bắn pháo hoa.
Khi những tiếng bùm bụp của pháo hoa khiến mặt đất rung lên, Mạc Lan thấy các bạn cùng trường reo hò, những gương mặt đang ngước lên sáng lập lòe bởi ánh chớp trên bầu trời. Một cậu trai trèo lên vai cậu bạn khác rồi hò hét với đám đông: “Nhìn tôi đây!” Không mấy người bận tâm quay sang cậu, nhưng khi nhảy xuống đất, cậu rối rít khoe về số lượng người. Bốn trăm nghìn người, cậu nói, có phải ngày nào cũng được bốn trăm nghìn người chú ý đến đâu.
Một cậu bạn cùng lớp, thấy bảo có bố là lãnh đạo chi bộ Đảng trong một hãng nhiếp ảnh, cầm một chiếc máy ảnh trông có vẻ đắt tiền tiến lại gần, xin chụp một bức cho Như Ngọc và Mạc Lan. Mạc Lan ngờ rằng cậu ta có cảm tình với Như Ngọc; thực ra trong lớp có tới vài cậu thích Như Ngọc kia, và qua đôi mắt họ, Mạc Lan cảm thấy cô có thể hiểu về Như Ngọc hơn là qua mắt của chính cô. Như Ngọc không thể hiện tình cảm đáp lại, tuy nhiên, cô vẫn cho phép họ được tìm đến cô vào giờ ra chơi, đặt cho họ những câu hỏi và lắng nghe những câu trả lời của họ với một sự chăm chú ắt hẳn là vừa khiến họ thấy hỉ hả trong lòng lại vừa không khỏi thắc thỏm; thi thoảng họ đỏ mặt hay nói vấp, bởi không thể chịu được sự xét nét của cô.
Cậu trai bảo Như Ngọc và Mạc Lan đứng sát cạnh nhau. Cậu ngồi xổm để điều chỉnh góc và tiêu điểm, rồi lại ngồi xuống thấp hơn nữa. Mạc Lan lên tiếng hỏi cậu muốn họ nhìn đi đâu, cậu bảo họ nhìn về phía trước để tạo dáng như những nữ chiến sĩ.
Khác với đám con trai, không có nhiều con gái trong lớp tỏ ra thích Như Ngọc, và chưa ai kết bạn với cô. Có lẽ điều này cũng không khiến Như Ngọc quá bận tâm, nhưng Mạc Lan vừa cảm thấy mếch lòng thay cho Như Ngọc lại vừa thấy may mắn rằng chính bản thân mình đã được phép làm bạn với cô, dù là ở một mức rất hạn chế.
Một tiếng bùm nữa, bầu trời đêm lại sáng lên. Một giây trước khi máy ảnh kêu “tách”, Bá Dương nhảy vào giữa bức hình, hai tay đặt lên vai của cả hai cô gái để giữ thăng bằng. Trong bức ảnh được in ra, Mạc Lan trong tư thế hướng mặt về phía trước, đúng như chỉ đạo của cậu bé nhiếp ảnh gia, nhưng nét mặt của cô lại thiếu cái quả cảm anh hùng mà trông như đang sửng sốt thì đúng hơn; Như Ngọc thì đang quay sang nhìn kẻ vừa xâm phạm, bức ảnh chỉ bắt được nét mặt cô nhìn nghiêng, đằng sau đó là Bá Dương đang cười đắc chí; phía trên đầu cả ba người là những chùm ánh sáng màu đỏ, cam, tím, và bạc đang bừng nở rực rỡ.
Cuối cùng cậu bé nhiếp ảnh gia, tuy không vừa ý với kiệt tác bị thay đổi đột ngột của mình, cũng sẽ phải miễn cưỡng in ra thành mấy tấm, nhưng đến lúc đó - Tiểu Ái đã bị đầu độc - Mạc Lan sẽ có cảm nhận khác về bức ảnh. Lúc đó, cô sẽ giống như người đang dò dẫm một mình, mờ mịt như đang tìm kiếm một người bạn đồng hành bị lạc trong màn sương mù dày đặc: khi rốt cuộc cô cũng nhìn thấy một hình hài đang đổ bóng, khi cô với tay ra, thì thứ mà cô chạm vào sẽ là một cửa kính bày hàng đang lạnh lùng phản chiếu lại hình ảnh mờ nhạt của cô.
Họ rời buổi lễ ra về lúc gần nửa đêm, rã rời, khát nước, nhưng lại rất sôi nổi, như mọi người trẻ khác khi rời một bữa tiệc để về nhà. Ngồi sau xe Bá Dương, với vẻ phấn khích lạ thường, Như Ngọc nói với hai người bạn của mình rằng đây là lần đầu tiên cô nhìn thấy pháo hoa ở khoảng cách gần như vậy. Ở nhà, các bà dì không tham gia bất kỳ hoạt động lễ lạt nào vào đêm Giao thừa, những chiếc rèm cửa nhà họ luôn được kéo vào trước khi trời tối, tuy nhiên, có một lần, kẻ nào đó đã chĩa bộ tăng áp tám pha về phía cửa sổ nhà họ ở tầng ba chung cư, làm nổ một khung cửa sổ và chiếc màn ở đó bắt cháy.
“Khủng khiếp quá,” Mạc Lan nói. “Rồi các bà dì của cậu có bắt được kẻ làm điều đó không?”
Như Ngọc lắc đầu bảo chuyện ai làm việc đó không quan trọng. Cô vẫn nhớ nỗi sợ thoảng qua trong tâm trí, nhưng các bà dì không hề để mất sự bình tĩnh, ngay cả lúc họ chạy ra dập lửa. Qua ô cửa vỡ, làn không khí lạnh toát của đêm tháng Giêng ùa vào căn hộ. Không ai ra khỏi bữa tiệc để thú nhận việc mình đã làm. Khi giúp các bà dì đóng một tấm bìa lên cửa, Như Ngọc nhìn xuống dưới và thắc mắc không biết những người ở đó có đang cười vào cô và các bà dì không. Cô đoan chắc sự cố kia không đơn thuần là tai nạn vô tình.
“Ai lại làm thế để làm gì nhỉ?” Mạc Lan hỏi. “Nguy hiểm quá.”
“Con người là lũ ngu ngốc,” Như Ngọc nói. Mạc Lan nhìn Như Ngọc, nét khinh bỉ trên gương mặt cô giống hệt như khi cô nói với cô bé lớp trưởng rằng thỏi son mất vệ sinh. Bá Dương, chưa nhận ra sự lạnh lùng trong những lời nói của cô, nói xen vào rằng nếu có mặt ở đó, anh sẽ đốt một quả pháo nhị thanh rồi nhét vào ống tay áo của kẻ xấu xa kia.
Các gia đình trong khu tập thể đã đi ngủ, nhưng ô cửa sổ ở ba nhà vẫn chong đèn chờ họ về. Khi ba người chuẩn bị chào nhau thì có gì đó động đậy trong bóng tối dưới giàn nho. Mạc Lan đoán là con mèo hoang, nhưng khi Bá Dương lại gần để xem, anh thấy Tiểu Ái ngồi trên một chiếc xô úp ngược, đang nhâm nhi uống một chai rượu khoai mỡ.
“Tất cả đều vui hết cỡ chứ?” Cô hỏi, gằn giọng từng từ, nên nghe càng có vẻ giống người say hơn.
“Chị không sao chứ, chị Tiểu Ái?” Mạc Lan hỏi.
“Các em ăn mừng với đám đông, còn chị ở đây ăn mừng một mình,” Tiểu Ái nói. “Đất nước cần những người trẻ như các em, còn những người đã khuất và những người bị lãng quên, than ôi, lại chỉ có chị.” Cô chấp chới giơ chai rượu lên trời rồi bắt đầu ngâm nga một bài thơ của Lý Bạch.
Có rượu không có bạn,
Một mình chuốc dưới hoa.
Cất chén mời trăng sáng,
Mình với bóng là ba.
Trăng đã không biết uống,
Bóng chỉ quấn theo ta.
Tạm cùng trăng với bóng,
Chơi xuân cho kịp mà!
Ta hát, trăng bồi hồi,
Ta múa, bóng rối loạn.
Lúc tỉnh cùng nhau vui,
Say rồi đều phân tán. 6
Trời đêm ấy không có trăng, và những bông hoa trên sân đã qua thời điểm mãn khai từ lâu. Mạc Lan nhìn xung quanh, sợ rằng Tiểu Ái sẽ làm hàng xóm thức giấc. Nhưng dường như nhà nào cũng vẫn im ắng - hay biết đâu tất cả đều đang nấp sau rèm mà nghe lén? Trong cái say của Tiểu Ái có gì đó như muốn gây rối, thậm chí là cường điệu. Mạc Lan ước mình là người duy nhất nhìn thấy Tiểu Ái trong trạng thái này; cô ước mình có thể phủ một tấm màn lên toàn bộ cảnh tượng này - nhưng là để bảo vệ ai chứ? Tiểu Ái chưa bao giờ cần ai bảo vệ cả, và Mạc Lan không thể không cảm thấy hổ thẹn cho sự nhút nhát của chính mình. Tiểu Ái luôn là người sẵn sàng nói những gì mình nghĩ, làm những điều mình cho là đúng. Mạc Lan lúng túng quay sang các bạn mình, và thấy Như Ngọc, lúc đó đứng cách xa cô và Bá Dương, nhưng vẫn đủ gần để nhìn thấy Tiểu Ái, đứng nhìn với ánh mắt lạnh lùng.
“Ba đứa!” Tiểu Ái nói, mặt hướng về phía Như Ngọc. “Sao không lại đây chơi cùng chị nào?”
Sau một lúc yên lặng, Mạc Lan huých Bá Dương, và anh lắc đầu nói đã muộn rồi, họ phải lên giường đi ngủ sớm. Tiểu Ái cười khẩy, miệng lẩm bẩm câu gì đó. Ba người bạn lặng lẽ quay đi, tâm trạng hân hoan của buổi tối biến mất, sự mệt mỏi ùa vây lấy họ như lũ tràn về.
Mẹ Mạc Lan vẫn thức chờ cô. Thấy con về, bà mang cho cô một bát cháo kê hạt dẻ. “Chị Tiểu Ái làm sao vậy ạ?” Mạc Lan hỏi, nhưng mẹ cô chỉ hướng tay về bát cháo và bảo cô ăn kẻo nguội.
Mạc Lan không đói, nhưng cô biết sẽ không bao giờ có thể moi được tin tức gì từ mẹ cô nếu chưa thuyết phục được bà rằng cô đã ăn no. Ngồi ở bàn ăn, mẹ Mạc Lan chăm chú nhìn từng thìa cháo con đưa vào miệng; khi thấy Mạc Lan đã ăn vừa đủ, bà mới cho cô hay rằng Tiểu Ái vừa bị đuổi học. Thông báo đã được gửi đến qua thư cho bố mẹ Tiểu Ái một tuần trước, nhưng có lẽ cô đã giấu nhẹm nó đi. Ngày hôm đó cô tới ký túc xá mang hai túi đồ về rồi mới báo cho bố mẹ biết tin. “Mẹ Tiểu Ái ngất xỉu, va đầu vào cạnh bàn,” mẹ Mạc Lan nói. “May mà không nghiêm trọng lắm. Chiều nay thầy Lý và mẹ có đến chăm cho Dì ấy.”
“Bây giờ Dì sao rồi ạ?”
“Chắc cũng khá hơn rồi. Khi nãy là do xúc động quá thôi,” mẹ Mạc Lan nói. “Con biết mà, Dì ấy đâu phải loại yếu đuối, có tí chuyện đã không chịu nổi. Thế hệ mẹ chẳng ai yếu đuối vậy đâu.”
“Họ sẽ làm gì bây giờ?”
“Ai kia?”
“Dì và Chú.”
“Họ biết làm gì chứ? Tiểu Ái bị đuổi vì lý do chính trị thì đơn vị nào dám tuyển dụng con bé nữa? Mẹ bảo Dì ấy là chẳng gì thì nó cũng chưa đến nỗi bị bắn chết ở Quảng trường. Ít ra nó cũng không bị bắt giam và tống vào nhà tù ở đâu đó. Lúc nào cũng phải nhìn vào mặt tích cực chứ.”
Mạc Lan đặt thìa cháo xuống cạnh cái bát. Mẹ cô thở dài. “Chỉ mẹ với con biết thôi nhé - mà thật đấy, đừng có kể chuyện này cho Dì hay người khác - con có nghĩ rằng Tiểu Ái cũng chịu trách nhiệm phần nào không? Xin rút lui và từ bỏ thì đã làm sao chứ? Một trăm người thì có đến chín mươi chín người sẽ làm như vậy. Bố mẹ con bé cũng thật vô phúc khi có đứa con gái ương ngạnh như thế.”
“Nhưng chẳng phải đó là điều khiến Tiểu Ái trở thành người tốt hơn hầu hết chúng ta hay sao?” Mạc Lan hỏi. Tiểu Ái chắc sẽ nhạo báng cái thỏi son mà người ta đưa cho họ và gọi nó là thứ mất nhân cách; cô cũng sẽ không đời nào chịu mặc bộ váy lụa như Mạc Lan tối đó, để thực hiện mệnh lệnh của chính quyền là phải ăn mặc thật đẹp đẽ.
“Làm người tốt thì có ý nghĩa gì chứ. Con cứ tin mẹ đi, ở cái đất nước này, làm người tốt đâu có ích gì. Để được an ổn, cách duy nhất là phải đúng, và phải ở đúng phe trong bất kỳ cuộc xung đột nào. Trứng chọi đá đâu có được. Nhớ đừng tới trường kể gì cho các bạn nghe đấy. Giữ mồm giữ miệng thì tốt hơn - con biết vậy mà, phải không?”
Mạc Lan gật đầu. Cô không có tâm trạng để tranh cãi, dẫu cô biết rằng mình không đồng ý với mẹ. Cô đau lòng khi biết Tiểu Ái lại gặp rắc rối nhường ấy; cô cũng đau lòng khi hình dung ra cảnh Chú và Dì phải đau đớn dằn vặt. “Chị Tiểu Ái định làm gì bây giờ?”
“Làm gì? Chẳng có việc gì cho con bé làm sất. Ở nhà lêu lổng. Thất nghiệp. Cũng may mà Dì lại đồng ý cho Như Ngọc đến ở để có thêm ít đồng ra đồng vào.”
“Con tưởng Dì là họ hàng với các bà dì của Như Ngọc.”
“Thì họ hàng, nhưng chẳng nhẽ cứ thế gửi một đứa con gái đến nhà người khác mà không phải mất tiền nong gì hay sao? Làm gì có chuyện ấy. Dù các bà dì của Như Ngọc là ai - đấy, con thấy nhé, mẹ không biết, nên thực ra mẹ không có quyền phê bình họ, nhưng nói giữa mẹ với con ở đây, mẹ không thích họ. Dù sao, họ cũng sẽ được ca ngợi vì đã bỏ tiền ra cho Như Ngọc ở đây.”
Mạc Lan băn khoăn không biết số tiền đó là bao nhiêu. Nếu cô hỏi, chắc mẹ sẽ cho biết, nhưng biết rồi để làm gì chứ? Cô vốn chậm hiểu nhiều điều trong cuộc sống, những điều có lẽ dễ hiểu hơn đối với Như Ngọc.
Mẹ Mạc Lan lắc đầu rồi chuyển sang màn độc thoại tràng giang đại hải quen thuộc về trách nhiệm của bố mẹ và con cái. Bất kỳ mẩu tin tức hay sự kiện nào cũng gợi chuyện cho bà được. “Bố mẹ cho con ăn, chăm con mặc, rồi học hành. Để đền đáp công ơn sinh thành ấy, con cái lúc nào cũng phải nghĩ đến lợi ích của bố mẹ mỗi khi đưa ra quyết định. Nếu học hành bết bát, thì con cái không chỉ không nên người mà còn làm khổ lây cho cả bố mẹ, vì nếu không có công ăn việc làm tử tế thì lấy gì mà đền ơn bố mẹ kia chứ? Lấy nhầm người, thì tức là không chỉ con vô trách nhiệm với chính bản thân mình mà còn khiến bố mẹ phiền lòng. Dù làm bất cứ chuyện gì, hãy nghĩ đến bố mẹ trước tiên. Chỉ mình Tôn Ngộ Không mới sinh ra từ vết nứt khe đá đó thôi.”
Nếu có Tiểu Ái ở đó, chắc cô đã nhảy vào tranh luận rồi, nhưng Mạc Lan chỉ nhỏ nhẹ đồng ý, cô học thuộc lòng bài diễn thuyết này rồi. Từ lâu Mạc Lan đã chấp nhận rằng cô không phải là người đặc biệt; thực ra, xét ở nhiều phương diện, cô chỉ là một người hết sức bình thường: cô không phải học sinh giỏi hàng đầu ở trường, sự nghiệp của cô sẽ không bao giờ có điều gì quá xuất sắc cả. Cô không sôi nổi hay sắc sảo như Tiểu Ái; vào tuổi cô, Tiểu Ái đã hai lần liên tiếp dẫn dắt đội hùng biện của mình vào vòng tranh giải quán quân. Nếu Mạc Lan là con trai, hẳn cô sẽ có ích hơn cho bố mẹ khi họ cần người sửa mái nhà hay kéo ba trăm kí-lô cải thìa vào nhà - nguồn rau duy nhất của họ cho cả mùa đông - vào đầu tháng Mười một. Cô chỉ có thể bù đắp cho những gì mình vốn đã không làm được theo những cách vừa sức mình: cô là một đứa trẻ gương mẫu, lễ phép với bố mẹ và mọi người lớn xung quanh; cô mỉm cười chào tất cả mọi người, từ hàng xóm láng giềng tới những người xa lạ, không phải vì cô muốn được khen ngợi là tính tình vui vẻ mà bởi cô thực lòng tin rằng từng chút nắng mà cô có thể mang đến cho thế giới này cũng đều sẽ là một niềm an ủi; cô là một người bạn trung thành, một người trông trẻ đáng tin cậy, và là một người tốt. Cô có thể là gì ngoài việc làm người tốt đây? Ấy thế nhưng làm người tốt, rốt cuộc, lại không có ý nghĩa gì nhiều trong thế giới này. Ngồi ở bàn nghe mẹ nói, Mạc Lan cảm thấy như mình là kẻ thất bại, nhưng khi mẹ nói xong, cô vẫn gượng cười. Cô nói mình thật may mắn khi được ăn bát cháo sau một ngày dài mệt mỏi như vậy, và mẹ cô trả lời chỉ có người mẹ mới chăm chút cho con gái với tình yêu như thế.
Trong một ngôi nhà khác, Như Ngọc, một cô gái không có mẹ, giật mình tỉnh giấc giữa đêm vì những cảm giác lạ lùng: một bàn tay đang lén lút sờ soạng bên dưới bộ quần áo ngủ của cô, một chiếc lưỡi ấm và ẩm ướt luồn vào cậy môi cô; một cơ thể lạ đang nằm trên cơ thể cô, trọng lượng của nó không quá lớn nhưng đủ để ghìm cô xuống như người ta có thể bị ghìm bởi một cơn ác mộng, và như trong trường hợp một cơn ác mộng, mãi mãi về sau này người ta sẽ luôn thắc mắc tại sao mình lại không tỉnh dậy kịp thời, tại sao mình không phản kháng.
Như Ngọc mở mắt và thấy cặp mắt Tiểu Ái đang lơ lửng gần mắt mình, quá gần, nhưng sao cô có thể nhìn thấy gì trong bóng tối chứ, có ai nhìn được trong bóng tối đâu? Có lẽ phải có ngọn đèn ở đâu đó - hoặc giả là một ngôi nhà, một thành phố, thế giới này, luôn luôn có ánh sáng, bóng tối hoàn toàn là một sự xa xỉ chỉ dành cho người chết và người mù?
Xin hãy dừng cô ta lại, Như Ngọc nói thầm trong bụng, nhưng là nói với ai? Không ai tới để dừng đôi tay và chiếc lưỡi kia, mà cô cũng không tin rằng ai đó có thể dừng được cái điên rồ đằng sau những bộ phận kém sạch sẽ kia đang bám dính lấy cô: những chiếc đầu gối và khuỷu tay lóng ngóng, những ngón tay trơn trượt, cặp môi tham lam, cái dục vọng không được kiểm soát trở nên bất khả kiềm chế, hả hê làm theo ý mình, đồng thời khiến cho đối tượng của nó bỏ bê chính mình - không phải là một cô gái hay một người phụ nữ mà Như Ngọc vẫn cảm thấy nữa, mà là một thực thể cũng mù quáng như cái thế lực đang thôi thúc kẻ tấn công cô. Cũng độc hại y như vậy.
Khi trông chờ vào sự giúp đỡ, con người ta trở nên nhỏ bé đi, và càng trở nên nhỏ bé hơn nữa khi không có sự giúp đỡ nào xuất hiện cả. Chỉ đến lúc đó người ta mới hiểu rằng khoảnh khắc này luôn luôn hiện hữu, chờ đợi, rình rập con mồi trong lớp ngụy trang, hay thậm chí là trong sự trâng tráo ngạo mạn. Làm sao mà bấy lâu nay cô có thể hiểu nhầm cuộc sống với sự ngờ nghệch như thế chứ?
Nhưng đó vẫn chưa phải là điều tồi tệ nhất. Điều tồi tệ nhất không phải là một khoảnh khắc bị cướp đi khỏi cuộc đời của người, mà là thứ còn lại thế chỗ cho nó: một vực thẳm nơi tất cả mọi khoảnh khắc khác đều có thể dễ dàng trôi tuột xuống. Sau cơn ác mộng, người ta không thể không bị ám ảnh.
Mồ hôi nhây nhớp, chân tay lạnh toát, Như Ngọc lại thiếp đi lúc nào không hay, nhưng khi thình lình thức giấc lần nữa, cô nhận ra rằng mình vừa lơ mơ ngủ. Tiểu Ái vẫn đang nằm cạnh cô; vẫn ư? Như Ngọc chán nản nghĩ, nhưng mà, sao lại không chứ? Không có nơi nào khác cho một trong hai người họ đi cả, lúc ấy, hay mãi mãi về sau.
“Nếu em chờ nghe chị giải thích,” Tiểu Ái nói, “thì em đang hy vọng hão huyền đấy.”
Như Ngọc tự hỏi, không biết có phải Tiểu Ái đang chờ cô thức giấc rồi nài nỉ xin một lời giải thích mà chỉ mình Tiểu Ái mới có quyền từ chối hay không. “Chị cũng sẽ không xin lỗi đâu,” cô nói tiếp.
Có phải đấy là điều mà người ta vẫn làm sau mọi sự cố bất bình thường không - nói chuyện nhảm, để tất cả, sau một lúc, sẽ lại trở về bình thường? Thời gian, ương bướng không chịu trở thành ký ức, đòi hỏi người ta phải chú ý tới nó bằng cái gọng kìm ngột ngạt của mình, nhưng người ta không thể làm gì với thời gian được cả, mà người ta cũng không thể thủ tiêu thời gian.
“Một ngày nào đó em sẽ thấy biết ơn chị,” Tiểu Ái nói. “Chị biết, có thể bây giờ em chưa tin chị. Nếu giận, em cứ giận tới chừng nào không thể giận được nữa thì thôi, nhưng có điều này chị nghĩ em nên biết: em có một bộ não, và trách nhiệm của em là phải lấp đầy nó bằng những suy nghĩ có ý nghĩa; em có cả một cuộc đời ở phía trước, cuộc đời mà em phải sống vì chính bản thân em. Các bà dì không dạy em phải suy nghĩ hay thắc mắc. Thật là! Thậm chí họ còn không dạy em phải có những cảm xúc của con người. Vì họ chưa làm điều đó cho em, nên phải có người khác đứng ra làm.”
Kẻ sát nhân có trông chờ lòng biết ơn của những linh hồn bị sát hại vì đã giải thoát cho họ khỏi những gánh nặng nơi trần thế? Nếu bây giờ Như Ngọc đi vào phòng Ông, liệu cô có thể nhẹ nhàng đặt hai tay lên cái cổ yếu ớt ấy rồi giải phóng cho ông khỏi nỗi nhục nhã của một kẻ sống dở chết dở?
“Em là đứa con gái bướng bỉnh nhất chị từng gặp,” Tiểu Ái nói, đột ngột bừng bừng giận dữ vì lẽ gì Như Ngọc không hiểu nổi. “Sao em lại nghĩ mình có quyền được như thế chứ?”
“Em không hiểu chị hỏi gì,” Như Ngọc nói. “Em không hiểu tại sao việc em là loại người gì lại có liên quan đến chuyện đã xảy ra.”
“Dĩ nhiên với em thì nó chẳng có gì liên quan cả, nhưng đó chính là điều mà chị đang muốn nói đến. Hãy sống như một con người thực sự đi em. Hãy nhảy khỏi các tầng mây đi. Hãy mở to mắt ra.”
Có gì để mà nhìn đâu kia chứ, Như Ngọc nghĩ bụng, nhưng biết đâu cô lại sai? Giả dụ như là sự xấu xí cũng đáng để nhìn thì sao?
“Nghe chị nói này: chị không muốn em phải nghĩ quá nhiều về những gì đã diễn ra. Thực ra, giữa chị và em chưa xảy ra chuyện gì cả đâu. Sẽ đến ngày em thậm chí còn phì cười mà phẩy tay vào nó,” Tiểu Ái nói, và sau một lát yên lặng, cô nói thêm vẻ chua chát, “Nếu không tin chị, em có thể đi hỏi Dạ Ngưng. Cô ấy có thể cho em biết thêm.”
Như Ngọc tự hỏi không biết có phải Tiểu Ái nói vậy vì muốn tự mâu thuẫn không. Có lẽ Tiểu Ái muốn dò xét xem cô đã để lại dấu ấn lâu dài chừng nào trong cuộc đời Như Ngọc vì cô đã không thể biến Dạ Ngưng trở thành vật sở hữu của mình. Như Ngọc dịch người, cảm thấy chiếc màn quét qua mặt mình. Ngày hôm đó, Dì nói cả nhà sẽ chăng màn cho tới cuối tuần sau và hồ hởi cam đoan rằng sang tuần thứ hai của tháng Mười, lũ muỗi sẽ biến mất. Một nỗi khó chịu vặt vãnh trong cuộc đời con người, Như Ngọc nghĩ bụng, cảm thấy hốc mắt tê tê. Có phải đó là cảm giác khi người ta muốn khóc không? Như Ngọc không thể nhớ lần cuối mình khóc là khi nào.
“Sao em không nói gì cả?” Tiểu Ái hỏi.
“Chị có làm thế với Mạc Lan không? Chị có muốn cũng làm thế với cô ấy không?”
Tiểu Ái có vẻ sửng sốt. “Dĩ nhiên là không rồi.”
“Tại sao lại là dĩ nhiên? Tại sao không?” Như Ngọc hỏi, dù cô đã biết câu trả lời. Dục vọng của Tiểu Ái sẽ không bao giờ dẫn lối cô đến với Mạc Lan cả, bởi vì Mạc Lan, vốn đã thần tượng hóa Tiểu Ái, không có ý nghĩa gì đối với Tiểu Ái cả, cũng như chính Như Ngọc đây, và các bà dì của cô nữa, không có ý nghĩa gì đối với Chúa cả. Những điều tồi tệ xảy ra - chiến tranh, dịch bệnh, bố mẹ bỏ rơi con cái, những kẻ nhẫn tâm hể hả rỉa xác những người có tâm - và không thế lực nào, dù là con người hay thánh thần, can thiệp cả.
Tiểu Ái có vẻ bối rối. Giây lát sau, cô mới nói, “Mạc Lan, nó chỉ là một đứa trẻ con.”
Tối đó Mạc Lan cũng trằn trọc khó ngủ, có lẽ vì những sự háo hức trong ngày. Khi tỉnh giấc lúc trời tảng sáng, không thể nằm tiếp, cô dậy khỏi giường và lặng lẽ đi rửa mặt; nhìn qua cửa sổ cô thấy Tiểu Ái cũng đã dậy từ lúc nào, đang loanh quanh ở dưới giàn nho. Tiểu Ái ở bên ngoài cả đêm sao? Mạc Lan băn khoăn; nhưng vì không biết an ủi Tiểu Ái ra sao nên Mạc Lan lưỡng lự không muốn ra sân như mọi sáng khác.