Trong những năm sống với Amelia, đôi lúc Alex Barr đã xung đột, thường là những chuyện tầm thường hay gặp ở hầu hết các cặp vợ chồng trẻ. Họ đã cãi nhau về tiền, hoặc về không có tiền; về sự tiêu pha phung phí của cả hai bên dù đó là bộ quần áo cho Amelia hay một khẩu súng ngắn hoàn toàn vô bổ cho Alex. Họ đã cãi cọ dữ dội về sự vắng mặt của Alex, khi anh còn là một phóng viên trẻ. Amelia xem mọi chuyến đi công tác của anh, mọi câu chuyện khi về muộn của anh, như một âm mưu, được văn phòng của anh xếp đặt ra một cách cẩn thận, để điều người đàn ông của cô ra khỏi nhà và tạo cho anh ta cơ hội lợi dụng những người phụ nữ khác.
Alex đã phản đối lại một cách yếu ớt rằng thực ra, anh chưa bao giờ chồm ngay lên người đàn bà đầu tiên mà anh thấy ngay phút đầu tiên anh ra khỏi nhà.
“Anh không phải thế mà, em yêu,” anh đã nhắc đi nhắc lại. “Thật sự không phải thế.” Nhưng anh thường được chào đón băng một thái độ sưng sỉa nhiều ngày trước khi đi và bằng sự dò xét kín đáo nhiều ngày sau khi anh về. Anh không gặp rắc rối thật sự với thư từ, vì anh nhận thư tín cá nhân ở văn phòng, nhưng thỉnh thoảng anh lại vô ý để thư của một người bạn nào đó trong ví, và lần sau giơ ra không thấy nó, anh thường cho là mình đã đánh rơi mất. Vài tuần sau, đôi khi là vài tháng sau đó, anh sẽ bất ngờ phải đối chất với một câu hỏi thật nhẹ nhàng nhưng rất nặng nề kiểu như: “Anh vẫn nhận được tin của Pamela Miles đấy chứ?”
Còn Alex, đang bận rộn với bài báo bị gửi trả lại, sẽ nhìn chằm chằm ngây độn và nói: “Ai cơ? Pamela Miles ấy à? Pamela Miles nào nhỉ?”
Tiếp theo là cái nhìn lạnh lùng đầy vẻ căm thù, và cái gì đó đại loại như: “Trời ơi, anh có quá nhiêu bạn gái đến mức không thể nhớ nổi tên họ nữa à? Pamela Miles ở Dayton, Ohio.”
“Ồ”. Một cách yếu ớt. “Chắc chắn rồi. Pamela Miles ấy. Dayton. Chắc chắn rồi. Cô gái xinh xinh làm ở tờ báo ở đó - em còn nhớ không, khi anh đi theo dõi vụ xử án giết người. Môt cô gái dễ mến. Đã cung cấp cho anh vài nét tổng quát về địa phương. Anh đã đưa cô ấy đi ăn tối một lần với mấy phóng viên khác. Làm sao em biết về Pamela Miles?”
Rồi cô sẽ nhìn anh khinh miệt.
“Thật vậy ư, anh yêu. Nếu anh có để thư từ của bạn gái anh trong quần áo, thì em có thể không chịu trách nhiệm vì đã thấy chúng khi em soát túi để gửi quần áo cho thợ giặt. Cô ấy nói như thể anh và cô ấy đã có nhiều điều vui vẻ với nhau”. Thế rồi, như một phát súng, “Anh đã gặp cô ấy nhiều lần phải không?”
Câu trả lời luôn có vẻ phòng thủ, thậm chí có lỗi.
“Không. Không thật sự thế. Chỉ quanh ở phiên tòa thôi. Một miếng sandwich hoặc tách cà phê cùng nhau thôi. Em cũng biết đó là...”
“Vâng.” Giọng cáu gắt. “Chắc chắn em biết đó là gì rồi. Cô ấy đẹp lắm phải không?”
“Không đẹp lắm đâu. Phần nào thôi. Mà em cũng có thể gọi cô ấy là đẹp nếu em thích kiểu người ấy. Cái chính là dịu dàng.”
Thế là, sâu trong tâm trí Amelia, sẽ ghi khắc cái tên Parnela Miles, và không bao giờ được xóa mờ, để là giàu thêm, âm ỉ và sôi lên cùng với thời gian, đến một ngày nào đó mãi về sau, có thể là lúc Alex đang trả lời phỏng vấn, lúc anh đề cập đến phiên tòa xét xử một vụ giết người nào đó, Amelia sẽ xen vào một cách ngọt ngào: “Anh hãy kể cho họ nghe về một vụ đẫm máu ở Dayton, anh yêu ạ. Khi anh lang thang ở đó với cái cô Pamela xinh đẹp họ gì nhỉ - Miles, đúng không?“. Và, với nụ cười dịu dàng và giả dối hướng về phía thính giả: “Alex đã có một thời gian tốt đẹp đến thế khi anh ấy là phóng viên. Đối với anh ấy được ra khỏi nhà thật là dễ chịu và anh ấy luôn gặp được những người dịu dàng như vậy trong những chuyến công tác, cho dù đó là phiên tòa xử vụ giết người.” Và, với nét mặt vui vẻ hoàn toàn giả dối: Anh có kể về nữ biên tập viên, hay cô gái của tờ Time Magazme, cho hội nghị nghe không, anh yêu? Cái người đã gõ cửa phòng anh trong bộ đồ lót ấy mà?”
Sự nghi ngờ càng tăng sau khi Alex tìm được người đại diện và bắt đầu bán được những bài báo đều đặn đến mức anh có thể rời bỏ giấy bút và công việc, hầu hết trong những chuyến công tác, như một sự xả hơi. Giờ đây những chuyến đi đó ngày càng kỳ cục hơn; một chuyến đến Hollywood để viết loạt bài về một số ngôi sao điện ảnh; một tuần ở New York để thảo luận vài ba đề án với nhiều tổng biên tập báo khác nhau, Amelia đã kiếm được công việc trong một cửa hàng, vì thế hiếm khi cô đi được cùng anh. Nhiều khi Alex ở Coast cả tháng trời, và dù anh có gọi điện về cho Amelia tuần đôi ba lần, lại thường xuyên viết thư cho cô, anh chẳng bao giờ có thể bỏ được cái kiểu nói đầy vẻ có lỗi. Anh rụt rè khi thừa nhận rằng mình đang có chuyện gì đó vui vẻ, và cảnh giác để không thốt ra nhiều cái tên, nhất là nếu anh đang phỏng vấn một nữ minh tinh nào đó. Khi anh trở về Amelia sẽ không ngừng hỏi anh, tìm kiếm bất kỳ chi tiết mâu thuẫn nhỏ nào, và đôi khi hằng tháng sau còn nhắc lại: “Nhưng anh chưa bao giờ kể cho em là cô ta đã mời anh đến nhà ở Palm Spring. Anh ở đó lâu lắm phải không?”
Nhiều năm sau đó, bất kỳ cuộc gặp tình cờ nào, với những người quen cũ ngoài tầm mắt của Amelia, nói chung thường tạo ra sự lễ độ lạnh lùng cứng nhắc về phía cô, và cái nhìn lườm nguýt chẳng khác gì lục soát người bạn nghi ngờ. Amelia đã xây nên bức tường ranh giới tàn nhẫn: Bất kỳ người nào mà họ cùng gặp, trong những hoàn cảnh không thể nghi ngờ, đều là ứng cử viên cho một tình bạn. Bất kỳ ai quen với Alex trước khi cô giới thiệu đều lập tức bị nghi ngờ. Nếu người ấy tình cờ lại là một phụ nữ, mà lại quyến rũ nữa, thì có nghĩa Alex đã ăn nằm với cô ta. Nếu đó là đàn ông, thì có nghĩa là anh ta và Alex đã từng cùng nhau tham dự những buổi tiệc tùng hoan lạc; hoặc, đôi khi, người đàn ông đó là kẻ đồng tính và đang theo đuổi Alex.
Theo dòng suy luận ấy Amelia không bao giờ tha thứ cho chồng cái tội đã ra mặt trận. Cô khá bằng lòng khi anh rõ ràng là đang bị đánh tơi bời trên mặt biển hay bị cô lập ở một hòn đảo buồn tẻ nào đó, nhưng khi anh chuyển sang Ban tham mưu và bắt đầu trơ tráo đi lang lang khắp nơi ở những chỗ đầy phụ nữ như Lonđon và Australia, thì thái độ của cô với chủ nghĩa yêu nước cá nhân đột ngột thay đổi. Cô đã chịu đựng với lòng can đảm đáng khâm phục suốt sáu tháng Alex bị báo cáo sai là mất tích trong khi làm nhiệm vụ, và cô không bao giờ tha thứ cho anh vì đã kết thúc chiến tranh ở Sydney và Melbourne. Những vết tích quá khứ của anh từ những ngày ở London và Australia luôn ập vào cuộc sống của họ sau chiến tranh và Amelia nhìn tất cả chúng với cặp mắt nghi ngờ khó chịu, như những âm mưu ám muội trong một đoạn đời bí mật mà cô sẽ không bao giờ được biết, còn Alex thì chỉ miễn cưỡng nhắc đến nó.
Và vì thế, họ bất hòa. Nhưng họ cãi nhau vặt nhiều hơn là xô xát, và chỉ thỉnh thoảng sự tức giận mù quáng của Amelia mới khiến cô ném đĩa vào Alex, hoặc để đổ ra một trận mưa nước mắt trên giường, và cánh cửa thì đóng sầm lại sau lưng.
Nhưng dấu ấn của Amelia vẫn in sâu trong con người Alex, và trong những ngôi nhà cô tạo ra cho anh. Dấu ấn Amelia để lại trên người Alex có lẽ là nguyên nhân của trận cãi cọ lớn đầu tiên giữa anh và Barbara. Nó đã bắt đầu hoàn toàn trong sáng. Alex muốn rẽ qua chỗ nhà cũ để kiếm một tài liệu nghiên cứu nào đó và một bộ quần áo nào đó. Họ đã cẩn thận không làm tình ở căn hộ của Alex cũng như trong tòa nhà trong thành phố có mái vòm bằng đá nâu thon thả, nói một cách nghiêm túc vẫn là tài sản của người chồng diễn viên của cô, trong khi chờ thỏa thuận ly hôn.
“Có muốn xem anh đã sống ở đâu khi còn là người đàn ông có gia đình không?” Một hôm Alex nói khi ăn trưa. “Anh đi về căn hộ và lấy một ít ghi chép với mấy món quần áo. Sẽ không lâu đâu. Anh sẽ mua cho em một ly brandy trong khi anh gói ghém các thứ, và chúng ta có thể đi.”
“Chắc thế rồi, tại sao không?” Đó là một bữa trưa dễ chịu, yên tĩnh, không có nhiều người nghỉ hè còn lại trong thành phố, và phần lớn những kẻ đồng tính luyến ái vẫn còn ở Fire Island. Alex và Barbara no nê và đầy lòng thông cảm khi họ vẫy taxi trực chỉ khu trên tối căn hộ trên tầng mái.
Họ bước ra khỏi thang máy, vào sảnh, và Barbara vào phòng khách. Đó là căn phòng rộng, với lò sưởi đốt bằng gỗ ở cuối phòng, một chiếc gương lớn hình ô van có khung mạ vàng, phía trên có là con chim đại bàng với nét mặt dữ tợn. Chiếc ghế sô pha hình vòng cung rộng đối diện với lò sưởi, và được hoàn chỉnh ở hai bên bởi hai chiếc ghế bành kiêu kỳ phủ da màu vàng với những núm đồng. Chiếc bàn uống cà phê tròn, thấp với mặt bàn rộng mênh mông để tạp chí và chiếc gạt tàn to như cái chậu để giữa lò sưởi và ghế sô pha. Hai tấm da báo thúc khuỷu tay vào nhau dưới chiếc gương Italia hình vuông chiếm giữ phần tốt nhất của toàn bộ bức tường, chiếc tù và bằng sừng trâu đen bóng dựng xiên xiên ở một góc. Một acre[18] thảm trải sàn là đăng ten Ấn Độ màu mơ chín. Trên tường treo rải rác những bức tranh thời Phục Hưng, Haiti và tân Phục Hưng, châu Phi. Barbara liếc thấy chiếc bàn ăn lớn kiểu Sheraton ở phòng bên cạnh, qua ô cửa hình vuông, nó nổi bật lên như hòn đảo giữa một biển những chiếc ghế đắt tiền sóng đôi ngay ngắn.
“Anh có thể tổ chức cả một trận bóng đá ở đây,” Barbara nói. “Em phải nói rằng cô ấy biết sở thích của mình. Cái gương kia là gì vậy?”
“Của một nhà quí tộc xứ Naple, anh nghĩ thế,” Alex nói. “Anh không biết gì về những trò này. Anh để nó cho Amelia.”
“Một căn phòng đẹp, một căn phòng rất đẹp,” Barbara lẩm bẩm, đi về phía chiếc cửa đôi kiểu Pháp mở ra sân thượng trên đó những đám cây nhỏ đang đơm hoa phía trên thành phố 17 tầng lầu, và những cây hoa vẫn mọc lên trong những chiếc chậu thấp. “Chúa ơi, cái sân thật tuyệt! Nó cao bao nhiêu?”
“Chính xác là 100 yard[19]. Còn mé kia, bên phía quận Madison, thì anh chưa xem. Còn phía sau kia”, anh hất đầu về phía tiền sảnh, “là dành cho người nghèo”.
“Cho em xem chỗ làm việc của anh đi.”
Alex dẫn cô quay lại tiền sảnh, xuống một lối đi hẹp, và bước vào phòng ngủ rộng đã cải tạo, đối diện với sân thượng, có cửa mở ra một sân thượng khác, rộng hơn và ngắn hơn. Ở đây cũng có một lò sưởi cùng kiểu với chiếc trong phòng khách. Những chiếc tủ kệ chiếm một nửa bức tường xếp đầy sách, một số ít bìa còn mới, phần lớn bìa đã mòn xơ vì được dùng nhiều lần. Thảm trải sàn bằng lông màu đen; một bộ da báo nằm ườn đối diện với chiếc ghế đơn giản bằng da màu đen.
Alex bước tới một trong những cái tủ, cúi xuống dưới những quyển sách, và ấn vào một cái nút. Cánh cửa xoay lại, để lộ một tủ rượu, trong đó có cả một hộp đá nhỏ,
“Em muốn gì nào? Brandy? Scotch?”
“Brandy. Với món đó anh không phải vật lộn với cục đá. Em phải nói là anh biết cách sống đấy. Có nhạo không anh?”
“Chắc chắn rồi.” Alex bước lại một cái tủ bên cạnh và ấn một nút khác, để lộ ra bộ máy quay đĩa hát. Cùng rađio và tivi. Anh chọn lấy vài đĩa trong tủ, và bản Mùa thu ở New York lững lờ vang lên trong phòng,
“Con người của những nét đặc biệt, nếu không nói là tinh tế,” Barbara lẩm bẩm và nhấp một ngụm rượu. “Và con quái vật trong góc kia, chiếc bàn đen lớn thô tục kia, là chỗ một người vĩ đại thường ngồi viết những áng văn vĩ đại mỗi khi anh ta ở nhà?”
“Đó là chỗ anh ta ngồi viết đấy. Một cái bàn tốt. Ai đó, anh không nhớ là ai, đã tặng nó cho anh như một món quà. Một nhà điêu khắc nào đó. Anh thấy khi anh dính vào cái máy đó một thời gian dài thì không phải óc anh hay lưng anh bị đau mà là đôi chân khốn khổ của anh.”
“Với một nơi rộng thế này mà em không nhìn thấy phòng ngủ, hoặc bếp, hoặc là em mong thế,” Barbara nói, “với tất cả những tiện nghi mà anh có ở đây, anh còn cần gì cái trang ấp ở New Jersey nữa? Đây là thiên đường rồi.”
Alex đi đi lại lại trước lò sưởi.
“Anh là một đứa trẻ thành phố” anh nói. “Anh có thành phố của anh. Nó đấy. Đây là cuộc sống hưởng lạc - giữa thế kỷ mười bảy, đúng mốt phương Đông, tất cả những cái vô nghĩa đó - nhưng lúc nào anh cũng phải được nhìn thấy một cái cây thực mà không có con cá sấu nào trốn đằng sau. Anh phải được thở hít bầu không khí chưa chứa đầy khí thải ô tô. Anh muốn được thấy những chú vịt vẫy vùng, và những con hươu đi uống nước trong bóng chiều chạng vạng. Chí ít là với một giờ ô tô anh có thể có được tất cả những cái đó ở một nơi có cái tên không mấy dễ thương là Wykcoff, N.J, chỉ ngang tuyến đường từ Suffern.”
“Nếu anh cần những người man rợ thì chúng ta luôn có người của bộ lạc Jackson Whites. Họ được di truyền tất cả những gì họ có ở Tenessee.”
“Nhưng anh không thể dành nhiều thời gian ở đó được, mà việc đi lại thì...”
“Anh dành nhiều thời gian hơn em nghĩ đấy. Anh cần không gian mỗi khi bị bế tắc trong cuốn sách. Anh có thể nhóm lửa trong khúc gỗ bulô cũng như trong xuồng, nhìn qua cái hồ nhỏ bé của mình qua tấm kính, và làm mình trẻ lại trong giây lát. Anh cảm thấy dễ chịu; anh nhìn những cái đầu chiến lợi phẩm trên tường; con hổ trên lò sưởi, và cái gì đó bị mất đi trong anh, không biết. Khi làm việc ở New York anh luôn thấy mình muốn kết thúc. Còn làm việc ở Jersey anh thật sự tiếc khi sự mệt mỏi khiến anh phải rời bỏ công việc.”
“Thế Amelia có thường ở đó lâu không?” Câu hỏi vang lên môt cách nhịp nhàng, thận trọng và đột nhiên Alex nhớ lại cách Amelia đột ngột nói: “Thế Marilyn Thomson là ai vậy?”
“Không nhiều. Cô ấy gọi đấy là tu viện của anh. Cô ấy thích thành phố. Anh dành phần lớn thời gian - ý anh là thời gian làm việc - ở đó một mình. Đó là ngôi nhà chính. Anh giữ phần lớn của quí ở đó, và phần tốt nhất của thư viện.“ Anh khoát tay về phía dãy sách xếp ngay ngắn. ”Phần lớn số này là bản sao, chỉ là để thuận tiện thôi. Em biết có bao nhiêu người có hai bộ Bách khoa toàn thư nước Anh?'
“Tại sao Amelia không thích nó? Nó dường như rất đáng yêu mà.”
Alex gãi cằm.
“Anh không biết, có lẽ vì nó không dính líu nhiều đến cô ấy. Có lẽ vì nó là của anh, như túp lều săn, như ngôi nhà trên cây, như cái hang của bọn trẻ trai. Anh sợ anh là người khá cổ hủ, em yêu ạ. Hãy tặng cho anh lửa và nước và anh sẽ không đòi của bố thí của bất kỳ ai nữa. Hôm nào em có thích đến đó xem ngôi nhà của anh không?”
Barbara nói rất khẽ, “Không. Em không nghĩ thế. Em nghĩ có lẽ em bắt đầu hiểu Amelia chút ít. Anh hãy lấy đồ dùng, rồi chúng ta đi thôi. Không hiểu sao em thấy không thoải mái trong nhà của một phụ nữ khác - không, ít nhất là khi cô ấy vắng nhà.”
“Được rồi. Anh sẽ xong ngay đây. Em uống một chút brandy nữa nhé?”
“Không. Nhưng em muốn đi vệ sinh.”
Alex chỉ về phía cửa. “Phòng lớn. Rẽ phải, rồi rẽ phải lần nữa.”
Barbara cầm lấy chiếc xắc và rẽ phải, rồi rẽ theo hướng được chỉ. Thế rồi, cô nghĩ, đây chính là nơi họ ngủ - đã ngủ. Căn phòng tối, và cô bật đèn. Cái đầu tiên thu hút cặp mắt cô là chiếc giường - một cấu trúc khổng lồ với khăn trải màu đỏ sẫm. Rồi cái nhìn của cô dán vào chiếc bàn trang điểm - và tới bức ảnh phóng to của Alex Barr đã được lồng khung và treo sau ngọn đèn trang trí. Alex mỉm cười không cân xứng - nụ cười càng méo mó hơn bởi tấm kính che trước bức ảnh bị vỡ ở chính giữa, và khuôn mặt bị đánh bởi một cái gì đó giống như gót giày nhọn.
Barbara bỏ chạy vào phòng tắm, và khi cô ra thì Alex vẫn đang bận rộn với đống giấy tờ của anh.
“Em vừa chợt nhớ ra,” Barbara nói. “Em có hẹn - một cuộc hẹn quan trọng với ông bầu. Anh cứ làm việc của mình đi, anh yêu, em không muốn quấy rầy anh, em sẽ gặp anh ở khách sạn lúc sáu giờ. Được không anh?”
“Được ạ, thưa bà Riley,” Alex đang chúi đầu vào một tập hồ sơ buộc dây lơ đãng nói, “Người gác cửa sẽ gọi taxi cho em. Có vài việc anh cần làm ở đây; anh đã quên mất một số thứ. Giờ thì hãy là cô gái ngoan của anh nhé.”
“Em sẽ là cô gái ngoan của anh,” Barbara nói khẽ. “Em sẽ là cô gái rất ngoan của anh.”
[18] Acre: 1 mẫu Anh = 0,4ha.
[19] Yard: 1 thước Anh = 0,91m.