Hồi ấy, Alex Barr được nhiều sinh viên cùng lớp coi là một người đẹp trai, thậm chí “sắc nét”. Khuôn mặt anh đã có đường nét của một người trưởng thành; trên thực tế thì khuôn mặt có hơi dài, nhưng các cô gái nói rằng trông anh giống Leslie Howard, với mái tóc vàng và nét gầy gò khắc khổ. Có một phong thái thanh thoát nào đó trong cái cách anh mặc chiếc quần nhung kẻ và chiếc áo đã mòn xơ; anh ăn nói nhẹ nhàng và chính xác, gần như là nhã nhặn, ở một nơi mà việc tốc ký được thực hiện cả trong lĩnh vực phát âm và tất cả những từ thứ ba là “bạn biết” hoặc “tên gì”. Anh cao gần sáu phít, và rụt rè trong việc trình bày trước lớp những hiểu biết của mình. Sự uyên bác của anh đã trở thành chuyện tiếu lâm cho toàn trường, ngay cả trong các giáo sư, nhất là một số ít người, biết đến sự thiếu giao du của Alex, thỉnh thoảng mời anh về nhà uống cà phê với bánh ngọt hoặc, quan trọng hơn, để ăn một bữa cơm đích thực. Trong những vấn đề đặc biệt nan giải, về kinh tế hoặc triết học, vị giáo sư có thể hỏi một phần ba lớp, rồi nhún vai chán ngán và nói: “Tôi nghĩ chúng ta sẽ phải để anh Barr nói lại cho chúng ta nghe lần nữa. Anh vui lòng giúp chúng tôi chứ, anh Barr?”
Alex sẽ đứng lên và trình bày bài giảng súc tích, ngắn ngọn, rồi vị giáo sư cúi đầu chào trang trọng và nói: “Cảm ơn anh.” Rồi quay sang cả lớp: “Các anh chị thấy đấy, chẳng có điều gì là bất khả!” Một hôm, sau buổi diễn giải đặc biệt tỉ mỉ một thuyết gì đó Kan hoặc Hegel, vị giáo sư đã hướng ra phía cửa.
“Anh Barr,” ông ta nói, “sẽ hướng dẫn lớp trong thời gian còn lại. Tôi bị cúm, và đột nhiên thấy kiệt sức với nỗi sợ hãi rằng bang này có thể sản sinh ra những đứa trẻ có khả năng hiểu những gì người ta bảo nó đọc.”
Alex không phạm sai lầm chiếm lấy chỗ vị giáo sư. Anh nói nhanh: “Tôi cũng bị cúm, vì thế tôi tuyên bố buổi học được hoãn đến mai.” Anh nhanh nhẹn theo chân vị giáo sư ra cửa, và đang sải bước trên lối đi rải sỏi, dưới bóng những cây sồi cổ thụ, thì giọng một cô gái vang lên: “Xin chào giáo sư, đợi em với.”
Đó là một cô gái nhỏ bé và kín đáo, với mái tóc và đôi mắt đen của người da đỏ. Cô mặc chiếc áo bằng vải casơmia màu vàng và chiếc váy xanh bằng vải len xếp nếp. Trên đôi giày cổ thấp và đôi tất len ngắn quen thuộc của một vận động viên, là đôi chân nâu rám để trần. Tất nhiên là Alex đã từng nhìn thấy cô ở đâu đó, nhưng đấy là lần đầu tiên cô xuất hiện trong lớp anh. Anh biết - trong khu trường nhỏ bé này tất cả mọi người đều biết tất cả mọi điều về tất cả mọi người khác - rằng cô là một Pi Phi, cô là sinh viên năm đầu, cô là thành viên tích cực của câu lạc bộ kịch của trường, và cô đang học khoa báo chí.
Nước da nâu mát mẻ kiểu người da đỏ của cô được sức khỏe làm cho ửng đỏ đôi gò má cao, miệng cô còn tươi tắn hơn nhờ được tô một lớp son môi. Đôi gò má nhô quá cao trên khuôn mặt, đem lại vẻ trẻ con hiếu kỳ với cặp mắt đen sáng lấp lánh.
“Chào,” Alex Barr nói. “Điều gì đã đưa cô đến hang ổ của ông Val Gelder già? Tôi nghĩ cô đang học cách trở thành một nữ nhà báo, ở khu khác của trường kia mà.”
“Nếu xử sự khéo léo thì em có thể nói rằng đó là vì em muốn gặp anh,” cô gái nói. “Vì em không biết cách xử sự khéo léo, chủ nhiệm khoa của em nói rằng sẽ không phải là một ý kiến tồi nếu ngồi nghe Van Gelder một lần và thấy cuộc sống thông minh là như thế nào. Vì thế cho nên ông ấy bảo em đến ngồi nghe Merriweather phần lịch sử cổ đại và Maxwell phần khảo cổ học. Em biết tên anh rồi; còn tên em là Fran - Fran Mayfield. Anh có muốn mua cho chúng ta một tách cà phê ở quán Greek không? Chúng ta còn ba phần tư tiếng nữa mới tới giờ học tiếp theo.”
Alex đỏ mặt, bóp chặt hai tay trong túi áo.
“Trời đất, tôi muốn lắm,” anh nói. “Nhưng tôi mới thay quần sáng nay và quên không lấy tiền ở cái quần trước. Đó là tật xấu của tôi.”
“Vậy thì có lẽ em sẽ mua cho anh một tách cà phê?“ Cô mỉm cười, để lộ hàm răng trắng bóng nổi bật trên làn môi đỏ. ”Đó là việc rất thú vị với một cô gái. Nói chung anh phải mang ví đi để để phòng tất cả những cô gái có vẻ lúc nào cũng cần”.
“Tôi sẽ chỉ đồng ý với điều kiện cô để tôi đưa cô đi xem phim tối nay,” Alex nói. “Họ đang chiếu lại bộ phim cũ có Jean Harlow. Cô đã xem chưa?”
“Vấn đề là em chưa xem, và em rất thích,” cô gái nói. “Đi thôi. Sáng nay em dậy muộn và không kịp ăn sáng. Em nghĩ mình có thể xử lý được một chiếc bánh rán phết mứt.”
Họ ngồi trong góc quán ở Greek uống cà phê, và Alex tự hỏi anh sẽ đào đâu ra số tiền cần thiết để mua hai vé xem phim, với số còn lại đủ để mua một cốc sữa trứng khi tan rạp. Không hề gì, anh thầm nhủ, mình sẽ kiếm ra nó. Mình sẽ kiếm ra nó cho dù mình phải giết một ai đó.
“Em quê ở đâu?” Anh hỏi.
“Trên vùng sinh sống của người Injuns[23],” cô đáp. “Waynesville. Em có một nửa dòng máu. Thật ra cũng không hẳn thế, có lẽ là một phần tư dòng máu của người Cherokee. Bà em là người da đỏ. Em có thể nói bà là một công Chúa, và đã có rất nhiều rắc rối trong bộ lạc khi bà bỏ trốn với người ông da trắng của em. Người ta nghĩ bà là người lạc hậu, về mặt xã hội, và có thể là họ đúng. Thế còn anh?”
“Nam Carolina. Sát biên giới. Kingtown. Một thị trấn nghèo buồn tẻ với một nhà máy giấy, vây quanh là những triệu phú và những nữ sinh đại học. Chỉ một lát sau là người ta đã quen với mùi hôi thối khó chịu của nhà máy giấy. Tôi vẫn chưa từng ngửi thấy nhiều triệu phú.”
“Em biết mùi ấy rồi. Chúng em có một nhà máy ở ngoại ô Waynesville. Chúng em cũng có nhiều triệu phú sống rải rác quanh đó, nhưng vấn đề là ở chỗ phần lớn bọn họ đều bị lao. Họ đến đó để thay đổi không khí.”
“Tôi biết. Ông già tôi đã ở Asheville một thời gian,” chàng trai nói. “Hóa ra bệnh đó không nặng lắm. Hay đúng hơn là ông hết tiền.”
Họ ngồi, im lặng, và Alex thầm cảm tạ Chúa vì anh có bao thuốc lá. Việc châm thuốc, hút, và rót đầy lại mấy tách cà phê, đã thay thế cho những đoạn đối thoại vụng về.
“Anh biết không,” cô gái nói, “anh hẳn phải là người thông minh kinh khủng. Nhưng anh không giống như những kẻ thông minh chuyên nghiệp của trường - anh hiểu ý em chứ, những kẻ có mái tóc bóng mượt và đeo kính gọng sừng. Trông anh giống như - ồ, em không biết nữa - một giáo sư trẻ thân thiện dễ chịu. Anh sẽ đi dạy chứ?”
“Lạy Chúa, không,” Alex nói. “Tôi không thể chịu nổi cái ý nghĩ mình sẽ khởi đầu công việc ở một trường trung học vùng xa xôi hẻo lánh nào đó, và đến trường mùa hè trong suốt mười năm tiếp đó để có bằng cao học, rồi hy vọng họ sẽ tuyển trợ giảng thay thế cho những giáo sư thôi việc. Tôi muốn một nghề gì đó nhanh hơn, và có tương lai hơn - một nghề gì đó mà tôi không phải làm kiệt mắt mình bằng những tờ ghi điểm. Vấn đề duy nhất là tôi không biết đó là nghề gì.”
“Thế ngành luật thì sao? Em cuộc là anh sẽ thành một luật sư tuyệt vời.”
“Nó tốn thời gian, và tốn tiền, mà tôi thì chẳng có một xu. Tôi đã xoay xở dành dụm cho bốn năm qua, và đến kỳ nghỉ hè này tôi sẽ phải kiếm việc làm - một công việc thực sự, một công việc đem lại những đồng tiền thực sự, cho dù đó là việc cuốc đất ở đâu đó. Tôi mệt mỏi vì phải cố học với một nửa bộ óc còn nửa kia thì nghĩ cách kiếm sống. Và đó mới chỉ là một nửa cuộc sống trong trường đại học.”
“Anh sẽ tìm thấy điều gì đó,” cô gái nói. Cô nhìn đồng hồ. “Em phải chạy đây. Em có tiết vào lúc mười một giờ. Lớp báo chí Bốn. Anh sẽ đi đâu?”
“Chẳng đâu cả, ngoại trừ quay về nhà. Anh có tiết học lúc mười hai giờ, và đừng cười. Đó là tiết học về Âm nhạc thường thức. Một nơi rất dễ chịu để ngủ thiếp đi, và không phải thi. Năm ngoái anh đã học hai tăng, và anh có nhiều tín chỉ hơn mức cần thiết, và mùa xuân này anh có thể chơi rông.”
“Ồ, vậy thì,” cô gái có tên Fran nói với vẻ chân thật khiến người ta nguôi giận, “sao anh không thử một chút trong lĩnh vực báo chí để làm tăng thêm số chứng chỉ của anh. Chúng ta có thể gặp nhau để uống cà phê” gò má cô càng đỏ hơn - “chúng ta có thể gặp nhau để uống cà phê và nói chuyện trong giờ in và sau đó anh có thể dễ dàng thắng em ở khoa Báo chí và em cuộc là anh sẽ mến giáo sư Henry. Ông ấy gọi tất cả mọi người bằng tên và thường chửi rủa ầm ĩ trong lớp.”
“Anh không thấy có lý do nào để phản đối,” Alex Barr nói. “Trừ việc anh phải thú thật với em, Fran. Sẽ có những buổi sáng mà em phải mua cà phê cho anh. Anh là kẻ cùng quẫn.”
“Em biết anh là kẻ cùng quẫn. Em thấy anh đỏ mặt và em biết anh nói dối là đã để quên ví. Và do đâu mà anh nghĩ là anh sẽ có tiền để đi xem phim tối nay?”
“Anh có một kho dự trữ bí mật dành cho những tình huống khẩn cấp,” Alex mỉm cười đáp. “Đừng lo. Anh sẽ ra mắt với mái tóc chải mượt, cà vạt trên cổ và tiền trong một bộ đồ tươm tất.”
“Vâng,” Fran nói. “Nếu nó không chất thêm gánh nặng lên bộ đồ tươm tất của anh, chúng ta sẽ có vũ hội trà thứ ba ở khu nhà Pi Phi, mà em thì chưa mời ai cả. Em muốn mời anh đến đó?”
“Anh rất vui,” Alex Barr nói. “Anh không giao du nhiều vì...” anh nhún vai. “Em biết đấy.”
“Em biết,” Fran Mayfield nói, và thân mật nắm lấy tay anh khi họ đi về phía tòa nhà của khoa báo chí. “Em biết. Và em không chê trách anh đâu. Đi nào, em sẽ giới thiệu anh với giáo sư. Khi anh quen với ông ấy hơn anh hãy gọi ông ấy là Skipper, nhưng đừng gọi thế trước khi ông ấy chửi anh vài lần.”
“Hãy cho anh biết một điều, ” Alex nói khi họ bước lên những bậc đá màu xám rộng đầy rêu phong của tòa nhà khoa báo chí, “Em biết khá rõ anh là kẻ vô danh tiểu tốt, và anh chỉ còn vài tháng nữa là ra trường, trong khi em còn học ở đây vài năm nữa. Tại sao đột nhiên em lại quan tâm đến anh?”
“Trực giác phụ nữ bảo em rằng anh có tương lai,” Fran Mayfield nói. “Mà anh không thể nói liệu em có được tính đến trong cái tương lai đó hay không.”
Có thể lưu ý rằng ở thời điểm đó, năm 1933, ở tuổi hai mươi mốt, Alex Barr vẫn còn trong trắng, không biết gì về thế giới đàn bà, dù tốt hay xấu. Lần thứ hai trong buổi sáng đó anh đỏ mặt.
[23] Injuns: Người da đỏ Bắc Mỹ.