Chú Bé

Lượt đọc: 1401 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
- XV -
dự định trốn

Tôi lên lớp bốn. Giáo sư Tuyếcfanh (Turfin) .

Ông đã thi thạc sĩ đỗ thứ nhì; là cháu một sư đoàn trưởng, ông đeo cổ cồn giả to, mặc áo rơđanhgốt rất dài, môi dưới của ông dày và ướt, mắt xanh biếc, tóc dài và chải ẹp xuống.

Ông khinh đám giám thị, khinh người nghèo, hành hạ những học sinh có học bổng và chế giễu những kẻ ăn mặc tồi tàn.

Ông lấy tôi làm trò cười cho những đứa khác; tôi ngờ ông còn muốn đem cả mẹ tôi ra để làm trò cười nữa.

Tôi căm ghét ông ta...

Người ta ưu đãi tôi với tư cách là con giáo sư.

Tôi là học sinh ngoại trú, nhưng bi phạt như học sinh nội trú. Luôn luôn tôi bị giữ lại sau giờ tan học. Hầu như không bao giờ tôi được về nhà. Người ta đem từ nhà ăn đến cho tôi một mẩu bánh mì không.

“Như vậy là người ta cho nó ăn không mất tiền, tôi lại giúp cho mụ Vanhtrax (Vingtras) khỏi mất một suất ăn cà khổ.”

Chính ông Tuyếcfanh (Turfin)  nói thế với một bạn đồng sự nào đó làm ông này tủm tỉm cười; ông ta nói cách chỗ tôi khá xa, giọng thì thầm, nhưng tôi tin là ông ta muốn để tôi nghe thấy.

Tôi đành thọc hai tay vào túi, và làm ra vẻ như cười! Chính là tôi khóc. Biết bao lần tôi đã phải nuốt nước mắt khi người ta không trông thấy tôi! Tôi chỉ còn là một con vật chép bài phạt! Hết dòng chữ này đến dòng chữ khác!- hết cấm ra chơi lại giữ ở lại, nhốt buồng tối! Tôi thích bị nhốt hơn là bị giữ ở lại.

Tôi được tự do giữa bốn bức tường của lôi, tôi huýt sáo, tôi vẽ ruột bánh mì, tôi vẽ hình người, tôi chơi bi một mình.

Tôi lấy những mẫu gỗ và những mẩu dày dựng giá treo cổ, tôi treo cổ ông Tuyếcfanh vào đó, khoảng chiều tối tôi mới bắt tay vào việc và chép bài phạt.

Tới chín giờ thì người ta thả tôi về.

Buồng tối không làm tôi sợ hãi, thậm chí tôi còn cảm thấy có phần kiêu hãnh khi buổi tối ra về qua những sân trường vắng vẻ, gặp ngang đường một vài học sinh nhìn tôi như một thằng làm loạn

Tôi thường hay chạm trán với Malatexta, ở một buồng giam khác đi ra về. Anh là đầu sỏ bọn quấy ở buồng bọc sinh lớn.

Anh ta sắp vào toán sơ cấp.

Chính anh năm sau sẽ được đưa vào trường Xanh- Xia[35] Anh là tay vô địch ở Xanh-Êchiên, các vàng người ta cũng không đuổi anh.

Anh đội mũ lưỡi trai có lon vàng và anh tập võ khí.

Malatexta gật đầu làm hiệu với tôi lúc đi ngang qua và nói “Chào, Vanhtrax “ Chào, như nói tiếng La-tinh“Vanhtrax “, như nói với một người lớn.

Tôi chán nhất là bị giữ ở lại.

Ở đấy tôi cũng phải xơi bài phạt. - Tôi vụng về quá - Khi thì tôi đánh đổ lọ mực, khi thì đánh rơi quản bút, giấy má bay bừa bãi, bàn học long ván.

“Vanhtrax, chép một trăm dòng!”

Ầm một cái, chồng sách của tôi đồ ầm kinh khủng.

“Thêm một trăm dòng nữa.

- Thưa thầy!

- Cãi à? Năm trang văn phạm Hy-lạp.”

Thêm nữa! Thêm mãi!

Những con người ấy, họ muốn giết tôi bằng chép phạt.

Tôi hầu như không còn được trông thấy ánh mặt trời nữa!

Ngày chủ nhật, cũng như những ngày khác, tôi đến để ngồi phạt, từ hai tới sáu giờ trong gian phòng hôm ấy thực là bi thảm vì cái im lặng nặng nề, một tiếng giày buồn bã đi qua, một cánh cửa đóng sập, một lời hát đơn độc, một tiếng rao hàng xa xa, rất xa!

Chúng tôi khoảng hai chục đứa ngồi đó.

Một ngòi bút sột soạt, có ai ho, thầy giám thị đi vài ba lượt quanh phòng, nhìn trời qua cửa sổ.

“Thưa thầy….. con ra ngoài!”

Thầy gật đầu, và lấy cớ đi ra ngoài ấy, tôi la cà một chút trong những dẫy hành lang dài dằng dặc, tôi nhòm vào những gian buồng trống rỗng, tôi ném một hòn bi qua cửa sổ, tôi vứt một viên bánh mì cho chim sẻ, tôi nhòm trộm cô y tá và tôi kỳ cục đánh cắp ít trái cây ở phòng ăn, rồi tôi nhẩy lò cò trở về lớp.

Tôi lại chúi đầu vào chỗ giấy còn lại, tôi viết nguệch ngoạc bằng chỗ mực còn lại, tôi nghĩ tới những chuyện khác hơn là những cái tôi viết - thành thử một đôi khi trong bài phạt của tôi có những chữ “Tuyếcfanh thô lỗ, Tuyếcfanh ngu ngốc”.

Sáng thứ ba

Hôm ấy thi dịch tiếng La-tinh.

Tôi tra một chữ trong quyển tự vị nhỏ xíu mà thầy tôi đã cho tôi thay cho quyển Kisora.

Ông Tuyếcfanh ngỡ đấy là bài dịch sẵn.

Ông bước tới bảo tôi đưa ông xem quyển sách tôi vừa giấu đi lúc nãy.

Tôi đưa quyển tự vị nhỏ.

“Không phải quyển này.

- Thưa thầy, đúng đấy ạ!

- Mày “cóp” bài.

- Không phải thế ạ!“

Tôi chưa nói hết câu ông đã tát tôi.

Thầy mẹ tôi đánh tôi, nhưng trên đời này chỉ có thầy mẹ tôi có quyền đánh tôi thôi. Tên kia đánh tôi vì hắn ghét những người nghèo.

Hắn đánh tôi để tỏ ra rằng hắn là bạn thân của viên quận trưởng, rằng hắn đã thi thạc sĩ đỗ thứ nhì.

Ôi chao! Giá thầy mẹ tôi cũng như mọi người, như thầy mẹ thằng Đextrêm đã khởi kiện vì có một thầy giáo tát khẽ đứa con trai họ!

Nhưng đảng lẽ phải nổi giận với ông Tuyếcfanh thì thầy tôi lại bực mình với tôi, vì Tuyếcfanh là bạn đồng sự của thầy tôi, vì Tuyếcfanh có thế lực trong trường, vì thầy tôi nghĩ rất có lý rằng thêm hay bớt một vài cái tát cũng không hại gì lắm cho cái sọ tôi. Đúng thế, nhưng những đòn ấy đã để dấu vết lại trong lòng tôi:

Tôi đã ấm ức với thầy tôi.

Tôi không chịu được nữa; tôi phải trốn khỏi nhà và trường học thôi.

Tôi sẽ đi đâu - Đi Tulông.

Tôi sẽ làm chú bé thủy thủ tập sự trên một con tàu và sẽ đi vòng quanh thế giói,

Nếu người ta đá tôi hoặc đánh tôi bằng dây thừng thì đấy là một người xa lạ đánh tôi. Nếu người ta đánh tôi đau quá, tôi sẽ bơi đi, trốn vào một hoang đảo nào đó, ở đấy không còn phải học bài, cũng chẳng còn phải dịch tiếng Hy-lạp nữa.

Dù cho cổ bị treo lên cột buồm hay bị xích chân ở dưới hầm tàu thì vẫn cứ còn một niềm an ủi, vẫn còn có hy vọng rồi đến lượt mình sẽ trở thành sĩ quan, và sẽ có quyền bạt tai viên thuyền trưởng.

Còn Tuyếcfanh thì hắn tha hồ hành hạ tôi, tôi không thể trả thù được hắn.

Thầy tôi có thể làm cho tôi khóc và chảy máu suốt thời thơ trẻ: tôi vẫn phải phục tùng và kính trọng thầy tôi.

Phép tắc về đời sống gia đình cho thầy tôi có quyền sinh quyền sát đối với tôi.

Chung quy tôi là một phấn tử xấu!

Đáng lẽ học động từ Hy-lạp lại đi nhìn mây trôi hay nhìn ruồi bay thì bị cụng đầu, bị đánh gẫy xương sườn là đáng lắm!

Không ước mơ một bộ áo giáo sư với mũ và lông chồn mà lại muốn trở thành thợ đóng giày sống trong nhựa thông và hồ dán, rút chỉ, đưa dao thì là đồ lười, đồ ngốc.

Cho rằng với bộ áo giáo sư người ta vẫn nghèo, với chiếc tạp-dề da người ta được tự do, thế là hỗn láo với gia đình

Chính tôi sai, thầy tôi đánh tôi là phải.

Tôi làm mất danh giá của thầy tôi với những sở thích tầm thường, những bản năng thơ non, những cung cách thợ thuyền của tôi.

Thầy mẹ tôi đã cho tôi ăn học thế mà tôi lại không muốn!

Tôi thích thú với dân cầy và thợ vá giầy hơn là với những ông thạc sĩ; và tôi vẫn thấy chú Jôdép của tôi không ngu ngốc như ông Bêlibăng!..

“Khỏe như nó, mà lười thế!” họ luôn luôn nói vậy. Thì chính vì khỏe tôi mới buồn chán trong những lớp, những buồng học ấy, nơi người ta giam giữ tôi suốt ngày. Chân tôi ngứa ngáy, cổ tôi nhức mỏi.

Bản chất tôi vốn vui; tôi thích cười đùa và một đôi khi cười tưởng vỡ bụng! Khi có thể thoát khỏi các bài phạt, tránh khỏi bị giam, lánh xa thầy giám thị hoặc thầy giáo, tôi nhẫy cẫng như một con chó xù, tôi có những niềm vui của người da đen.

Làm một người da đen!

Ôi chao! đã từ lâu tôi muốn làm một người da đen đến thế!

Trước hết, đàn bà da đen yêu con cái họ. - Tôi sẽ có một người mẹ yêu con.

San nữa, khi ngày hết, họ làm những chiếc thúng để chơi, đan lát bằng dây leo, trạm trổ sọ dừa, và họ xếp vòng tròn để nhảy.

 Tùng-tùng, bămbula! Nhẩy đi, Canađa!

Chà! thật đấy, tôi rất muốn làm người da đen. Nhưng tôi không phải là người da đen, tôi thật không may! Không được thế, tôi sẽ đi làm thủy thủ.

 Mọi người sẽ được dễ chịu.

“Tôi làm cho họ buồn phiền mà chết?” họ đã chẳng nói với tôi khá nhiều lần như vậy sao.

Họ sẽ sống lại, sẽ hồi sinh.

Tôi sẽ nhường lại họ suất đậu bột, khoanh bánh mì của tôi nhưng họ sẽ phải ăn hết chiếc đùi cừu!

Ăn hết chiếc đùi cừu ư?

Quả tôi là một thằng tồi! Tôi không những chỉ nghĩ tới cái thú thoát khỏi chiếc đùi cừu ấy, mà còn nung nấu một ý muốn trả thù, tôi nhủ thầm như một thằng giả nhân giả nghĩa, rằng chính họ sẽ phải ăn chiếc đùi cừu đó, nào quay, nào hầm lại, nào nấu dấm, nào thái mỏng, nào băm viên - như tôi đã phải ăn.

Tôi còn đi xa hơn thế nữa, đúng tôi là thằng đạo đức giả!

Tôi tự nhủ là phải luyện tập, thử sức, làm cho mình dày dạn, và tôi tìm mọi cớ có thể có được để người ta đánh đòn tôi.

Sau này tôi sẽ gặp những chuyện rất gay go trên tàu.

Tôi phải tự rèn trước hay nói cho đúng hơn, để người ta rèn tay nghề cho, và thế là trong nhiều tuần lễ tôi nói là tôi đã đánh vỡ bát đĩa, đánh mất lọ mực, ăn hết giấy!- Phải nói là tôi luôn luôn ăn giấy, và uống mực, tôi không thể nhịn được điều đó.

Thầy tôi không ngờ gì cả và rơi vào tròng, khốn khổ!...

Trong nửa tháng tôi làm hỏng của thầy tôi ba chiếc thước kẽ và một đôi ủng; thầy tôi quật gẫy thước kẻ trên ngón tay tôi, và thúc ủng vào lưng tôi.

Con người ấy, tôi đã làm cho hao tốn nhiều, tôi làm cho sạt nghiệp!

Tôi nghĩ là sau này thầy tôi sẽ tha thứ cho tôi khi xét đến động cơ của tôi; vả chăng tôi thấy hình như thầy tôi cũng không lấy gì làm buồn phiền cho lắm

Thầy tôi chỉ hơi mệt một chút thôi khi đánh tôi lâu quá, - người nóng lên!

Lúc đó tôi lết ra cửa sổ, đóng cửa sổ lại để thầy tôi khỏi bị gió lùa.

Ban đêm, tôi ngủ trong một cái hầm, - mình vận sơ-mi.

Tôi ngủ vẫn vận áo sơ-mi!

Thượng đế oai linh! hãy độ chì.

Công cuộc thần thánh này đi.

Tôi sẽ đi một mình chăng?

Thế thì rất buồn! Hơn nữa, đi đông người có thể chiếm lấy một con tàu, làm nghề cướp biển, khi cần thiết còn có thể nổi loạn, và khi đã mệt, sẽ khai khẩn một vùng nào đó.

Tôi sẽ rủ ai cùng đi trong cuộc viễn chinh này?

Malatexta lại vừa mới đi hôm qua xong.

Mẹ anh đột nhiên bị ốm, và anh về thăm mẹ.

Anh yêu quý mẹ anh, tuy là một người mẹ “xấu”!

Mẹ anh luôn luôn gửi cho anh dưa hấu, chà là và cam; mẹ anh giấu ông hiệu trưởng dấm dúi tiền cho anh.

“Vậy thì mẹ cậu giàu lắm phải không? - một hôm tôi hỏi anh.

- Không, nhưng mẹ tớ rất tốt!

- Cận yêu mẹ lắm nhỉ?

- Yêu lắm!”

Anh nói với tôi như vậy, với một giọt lệ trong khóe mắt.

Thế mà anh sẽ phải trở thành người lính!

Có một người mẹ xấu như thế và yêu mẹ đến thế! Một người mẹ an ủi anh khi bị phạt, một người mẹ có lẽ bớt ăn bánh đi, để cho con mình có thêm cam!

'“Mẹ cậu làm gì?

- Mẹ tớ bán thịt ở Môđen.”

Và anh không có vẻ xấu hổ gì cả.

Bà hàng thịt! Mọi sự thế là rõ ràng. Đấy là một người đàn bà hạ lưu.

Mẹ tôi sẽ không đời nào chịu làm bà hàng thịt cả! Không đời nào!

Ôi chao! mẹ tôi rất kiêu hãnh, phải công nhận như vậy.

Nếu không phải vì mình thì vì con trai mình, mẹ tôi sẽ không chịu đi bán jăm-bông..

Mẹ tôi thà chịu chết vì túng đói, thà khuyên thầy tôi làm chuyện đê hèn!...

Mẹ tôi thà cam chịu sống một cuộc đời âm thầm, ngu đần và hèn hạ; nhưng mẹ tôi là vợ một công chức, một bà, và đứa con bà một ngày kia sẽ nói “Thầy tôi khi xưa dạy ở Đại học.”

Chà! cái đó mới làm cho tôi ra mẽ, và người ta có vẻ tôn trọng kỳ quái các vi giáo sư Đại học ấy.

Giá mẹ tôi nghe thấy những điều mà tôi, chính tôi nghe thấy, không riêng gì những điều học sinh xì xào-cái đó không đáng kể-nhưng cả những điều mà phụ huynh học sinh nói, mẹ tôi sẽ thấy người ta nghĩ thế nào về các vị giáo sư? Giá mẹ tôi biết họ bị chính ngay cấp trên của họ khinh rẻ thế nào: ông hiệu trưởng, ông thanh tra, ông tổng giám thị, khi có một bà mẹ giàu sang tới phàn nàn, các ông ấy liền đáp:

“Bà đừng ngại, tôi sẽ “vò đầu” cho hắn. Từ căn phòng nhỏ bé mà người ta thường nhốt tôi vào trước khi dẫn tôi đến chỗ giam, tôi có thể nghe rõ những điều người ta nói trong phòng khách của ông hiệu trưởng và tôi cũng không quên áp tai vào tường, mỗi lần có thể làm như vậy được.

Một hôm, một thầy giáo tới phàn nàn là có một tên lao công đã chửi thầy. Ông hiệu trựởng không chần chừ một giây; ông gọi ngay thầy giám thị Xuia là thư ký riêng của ông tới: “Thầy Xuia, thầy Pisông phàn nàn là thằng Jăng nói hỗn với thầy trước mặt học sinh; - một trong hai người đó phải đi khỏi đây. Tôi thấy cần thằng Jăng: hắn quét dọn trường lớp rất chu đáo. Thầy Pisông là một người ngu không có quan thầy che chở, ông ấy bỏ một trăm phơrăng ra mua sách đề soạn cuốn ngữ- nguyên-học, nhưng lại vận những bộ quần áo làm chúng ta phải nhục lây.

“Thầy hãy viết vào bên lề hồ sơ của ông ấy:

“PISÔNG. Cãi nhau với lao công-ăn ở bẩn -thạo văn học cổ điển. Sẽ giúp ích được nhiều ở một địa phương khác”

Chà! Mẹ kiếp! những người bán thịt muôn năm! Và cả những người thợ giầy nữa! Những người bán thực phẩm và những người chăn bò muôn năm!

Dân da đen muôn năm!...

Tôi thì tôi không làm giáo sư, thà tôi làm nghề khác, bất cứ nghề gì!...

Như vậy là không thể trông cậy gì vào Malatexta (Malatesta) được nữa, hiện nay anh ta ở cửa hàng thịt tại Môđen (Modèn), và anh còn để lại trong ngăn bàn một hộp mứt quả nguyên vẹn, chúng tôi đem ra chia nhau ăn khi bị giữ lại ở lớp.

Tôi tìm kiếm khắp ngả những đồng lõa khác! tôi nhìn đám bạn đồng đảo bằng con mắt ráo hoảnh của người chỉ huy. Tôi ngỏ ý với nhiều đứa: chúng do dự. Đứa này bảo chúng ở nhà không có gì đáng chán, trái lại chúng thấy rất vui, bố chúng chơi đùa với chúng, mẹ chúng cũng có những tật xấu như mẹ Malatexta.

“Vậy người ta không đánh đập mày à?

- Có chứ, một đôi khi, nhưng hôm ấy tớ rất hài lòng; tớ biết chắc là buổi tối thế nào tớ cũng sẽ lại được đi xem hát hoặc được một hào. Thầy tớ rất bực mình, và thầy mẹ tớ đâm ra cãi nhau.-Nguyên do là tại ông.-Tại bà thì có. - Ông không đánh nó đau quá đấy nhỉ!-Tôi đánh kể cũng hơi nặng tay, tôi thật là vũ phu!”

Còn mẹ tôi thì lại bảo: “ông cứ đánh nó cho đau vào”. trái ngược với những bậc cha mẹ ngu ngốc kia. “Tôi mong là lần này nó đã thấm đòn!”

Và phải thừa nhận là mẹ tôi lôgích lắm. Đánh con, chính là vì lợi ích của chúng, để khi chúng sắp làm điều gì sai trái, chúng phải nhớ là chúng sẽbị dứt tóc, bị beo tai chảy máu, tóm lại, chúng sẽ bị đau. Mẹ tôi có cả một phương pháp và đem ra thực hành.

Mẹ tôi có lý hơn cha mẹ thằng bé kia đã đem cho nó một hào sau khi bợp tại nó; đã đánh nó mà không hiểu tại sao, và đánh rồi lại hối hận là mình đã làm con đau.

Tôi không hiểu làm sao thằng bạn tôi lại yêu thầy mẹ nó đến thế, những bậc cha mẹ ngu ngốc như vậy và kém nghị lực như vậy.

Tôi nhằm phải một người mẹ có lương tri, có phương pháp.

Vậy là tôi không tìm được đứa nào muốn bỏ nhà đi trốn cùng với tôi!

Rica (Ricard ) chăng?

Nhà ấy có chín đứa con.

Người ta đánh đập chúng quá quắt-Thật là may!

Tôi nắn thử Rica; nói nắn là nói theo nghĩa bóng: vì nó cấm tôi không được sờ vào người nó (nó bị đánh ở mạng sườn đau lắm) - nó bẩn như lợn; nó giải thích rằng vì chúng bẩn nên mẹ chúng đánh; nhưng chính bà ta cũng bẩn gớm chết!

Bà ấy còn đánh chúng vì chúng hay nói tục; chúng chửi bậy như bọn đánh xe bò; có đứa bé lên năm mà lúc nào cũng gào: “Mày ăn cứt!”

Trong gia đình ấy, chỉ có một đứa ngoan và không chửi bậy, là đứa cùng học một lớp với tôi.

Dù vậy, người ta vẫn đánh nó. Tại sao?

Vì trong các gia đình không nên đối xử tây vị, cái đó bao giờ cũng gây ra những kết quả xấu. Những đứa khác có thể phàn nàn.

Hơn nữa, “nó cứ đứng đực ra thế kia kìa”

Nó cứ đứng đực ra đấy. - Vì thế cho nên người ta đánh nó.

Người ta đét những đứa khác vì chúng làm ồn, vì chúng chửi bậy và nói tục: còn nó, người ta đét nó vì nó chẳng nói gì cả, ngồi im.

“Nó cứ đứng đực ra đấy... “

Nó còn có một nhược điểm nữa - (ai mà chẳng có nhược điểm!) - nó có tật đái dầm.

Đó là điều bí mật về nỗi đau khổ của nó, lý do tại sao nó buồn, tại sao mẹ nó lúc nào cũng hét ầm lên là sẽ lột da nó thế này, lột da nó thế nọ!.

 Và thầy mẹ nó có vẻ tin rằng đấy là chuyện đùa nghịch, vì nó thích thế, nó làm vậy để làm nũng hoặc trêu ngươi; là một trò chơi hoặc một sự dọa dẫm, một ngông cuồng của con nhà sang, một hành động của kẻ vô công rồi nghề. Tuy nhiên, thằng bé khốn khổ đã cố gắng hết sức nó, - nhưng chẳng ăn thua gì cả. - Nó thức dậy trong tội lỗi, và sáng nào cũng phải phơi khăn trải giường của nó ra cửa sổ.

Người ta rêu rao cho nó xấu hồ. - Ai ai cũng biết tật xấu của nó, như người ta biết là nhà vua sống ở điện Tuylơri, khi cờ bay phất phới trên nóc lâu đài!..

Thằng bé tội nghiệp ấy, nó khóc vì đau khổ, vì nó cố tình nhịn đủ mọi thứ trong bữa ăn tối, và uống nước bằng cọng rơm.

Nó hết cầu Chúa, lại cầu Đức mẹ nhưng đều vô ích, nó tìm xem có vị thánh nào đặc trách về loại tội lỗi đó không; nhưng rồi thất vọng, nó vẫn ăn đòn của mẹ nó, bà ta có một cách nói rất ngộ để báo trước là trận đòn bắt đầu. Bà ta vừa nói ồm ồm, vừa giơ roi lên:

“Nào! cho con thỏ vãi đái” Chắc hẳn là ám chỉ (mỉa mai và độc ác) tật xấu của đứa con, và ám chỉ động tác của người đi săn đối với con thỏ bị trúng đạn[36].

Tôi thuyết phục nó. Nó sẽ tự mắc võng lấy ở trên tàu, và sẽ chẳng ai biết là con thỏ đã vãi đái!

Hay tôi nói cả với Viđanjăng (Vidaljan) nữa?

Nó là con trai của một viên chức phòng thuế gián thu; nó cũng như tôi, thường bị những trận đòn thừa sống thiếu chết.

Thêm một thằng nữa muốn làm một nghề mà bố nó không muốn: nó muốn trở thành một nhà ảo thuật.

Có một nhà ảo thuật đã tới trường. Học sinh mua vé mất hai hào. Viđanjăng bất hạnh bị chọn lên bục để cầm cỗ bài; nó đã trông thấy người ta cắt cổ con chim cu, đốt mù-soa; nó đã được chạm vào người Đômanhgô, thằng cha làm trò ảo thuật.

“Xin lỗi anh bạn, trong túi anh bạn có gì vậy?”

Và người ta rút trong túi nó ra một bộ tóc giả.

“Thế ra anh để dành tiền trên mái tóc à?

Và người ta dớ được trên đầu nó một đồng năm phơrăng ( francs (Tiền quan Pháp trước khi đổi qua đồng euros).

“Bây giờ, xin cảm ơn anh bạn.”

Nó trở về chỗ trước mặt học sinh cả trường, nhiều đứa thèm được như nó, cả lớp ghen tị với nó đến nổ ruột.

Tại sao người ta lấy nó lên! Ai làm cho nó được chọn?

“Số nó may”, thằng Rica lớn nói, nó đang nghĩ là đêm mai…

Từ buổi tối được đóng vai trò ấy, được tất cả các ngọn nến của nhà phù thủy chiếu sáng, được đám đông chú mục, được lớp lớn cũng như lớp giữa nhìn chằm chằm, từ hôm ấy, Viđanjăng đã dứt khoát, chí hướng của nó đã định: nó sẽ bắt tay vào việc ngay lập tức. Xưa nay nó vẫn có khiếu xoáy vặt!

Nó là thằng ăn cắp vặt giỏi nhất trường; nó vốn đã thích lục lọi các ngăn bàn, và nó biết cách rút ruột chiếc bút chì giắt mang tai một thằng bạn mà thằng này không hay gì cả. Nó biết cách cắt quả cam làm tám và giấu một đồng tiền trong góc mù-soa.

Nó đã xoáy cù, xoáy bi và ngòi bút hình đầu lâu. Nó có một bộ sưu tập những tranh vẽ nhỏ thu lượm được nhờ những chìa khóa giả mở hộp của các bạn học.

Không phải vì nó yêu nghệ thuật, nhưng nó thích làm chìa khóa giả và thích thò tay vào những kẽ hở. Nó đánh cắp những vở phạt và bản danh sách xếp hạng học sinh trong túi thầy giáo. Một lần nó nẫng nhẹ chiếc ví của một giáo sư và những bí mật của ông Bôcanh bị bọn nhóc đồn ầm lên trong tám ngày trời.

Ông Bôcanh tội nghiệp, do đó, sểnh mất một cuộc hôn nhân và suýt mất việc.

Viđanjăng cũng đã đem lại nhiều cải tiến trong chiếc ngòi bút dùng để viết bài phạt: nó buộc được bốn ngòi bút vào với nhau, là một điều chưa hề thấy, như chính thằng Graviê, đã trọ học tại Pari ba tháng, cũng phải thừa nhận, và nó viết bốn câu thơ Viếcgin cùng một lúc.

Vốn đã có khuynh hướng trộm cắp, nó điên đầu vì trò ảo thuật.

Nó mua quyển Những bí mật của chú bé Anbe (Secrets du petit Albert.). Chúng tôi thấy nó lúi húi với những chén sắt tây để làm quỷ thuật và những quả nhục đậu khấu, với những con cóc phơi khô và vỏ trứng rỗng.

Nó chế tạo cả thuốc nổ.

Chính cái đó đã khiến tôi quyết định ngỏ ý với nó, - mặc dù những thói của nó có gây ra cho tôi một sự ngờ vực.

Hai hôm trước, nó suýt bị ông đẻ ra nó đánh chết, vì ông được biết nó không làm bài học mà lại đi làm máy móc; và khi lật giường của nó lên, bà mẹ đã thấy những da rắn và những con rệp bằng đồng xen lẫn vào đám rệp nhà.

Tôi mời nó làm phụ tá của tôi.

Nó nhận. - Cả Rica cũng vậy.

Nhưng tới ngày đã định, cờ lại bay phất phới ở cửa sổ thằng Rica, và nó ném qua cửa sổ đó cho tôi một mảnh giấy hơi ấm, báo cho tôi biết những chi tiết thật đau lòng. Nó đã phạm tội nặng hơn thường lệ và đã bị đòn đau hơn bao giờ hết; nó không lê đi được nữa.

Còn Viđanjăng? - Nó không tới chỗ hẹn. Học trò lần lượt đến trường, chuông đánh, mọi người đã vào lớp mà vẫn không thấy nó. Có chuyện gì xảy ra vậy?

Tôi lén lút đi về phía nhà nó, tôi gặp mấy mụ kể lại rằng suýt nữa khu phố nổ tan tành, và cả thằng con trai nhà Viđanjăng cũng tan xác. Nó đã đánh rơi một que diêm vào chiếc bát to trong đó nó làm thuốc nổ. Chính một thằng nhóc con mất dậy đã xúi nó, con cái mụ hay mặc cả ấy, các bà cũng biết đấy, cái mụ có chiếc khăn quàng dính sát lưng trông như con thờn bơn ấy: thằng Vanhtru, Vanhtrax gì đó… Chắc người ta đang lùng bắt nó. Tôi mong người ta sẽ tống cổ nó vào tù.

“- Nhưng nó kia kìa, tôi nhận được mặt nó”, một mụ kêu lên, mụ ta thình lình trông thấy tôi trong một xó, nơi tôi đang cúi lom khom và đang tìm cách chuồn.

Người ta tóm lấy tôi. - Người ta dẫn tôi về nhà.

Mẹ tôi cho tôi một trận nên thân!

Mẹ tôi chỉ ngừng đánh sau khi tôi đã hứa trên đầu tất cả các vị thánh trên thiên đường là sẽ không đi trốn nữa.

Còn Viđanjăng? - Nó đã khỏi và không làm thuốc nổ nữa.

Còn Rica lớn? - Nói sợ hãi khi nghe tin thằng Viđanjăng bị tai nạn, đã làm nó chấn động và không đái dầm nữa.

Bao giờ thì cũng thế.

Chú thích:

[34] Để thông báo tin tức, mệnh lệnh của thành phố.

[35] Trường võ bị đào tạo sĩ quan Pháp.

[36] Làm cho con thỏ vãi đái trước khi cho vào bị.

« Lùi
Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của jules vallès