Chú Bé

Lượt đọc: 1399 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
- XIV -
về thăm quê cũ

Jắc sẽ về quê nghỉ hè.

Chính mẹ tôi báo cái tin đó cho tôi biết.

“Này xem, bố mẹ đã tha thứ cho mày những trò tếu trong năm nay, bố mẹ cho mày về chơi với bác; mày sẽ được đi ngựa, đi câu cá hương, mày sẽ được ăn xúc-xích thôn quê. Đây, cho mày ba phơrăng để làm tiền đi đường.”

Sự thực là ông bác linh mục của tôi sắp bảy mươi tuổi đã tỏ ý định cho tôi làm thừa kế, và đòi tôi đến ở bên ông trong dịp nghỉ hè.

Ông linh mục già, tiết kiệm, có người quản lý văn khế là một người chất phác, đã biên thư cho thầy tôi về việc ấy; bức thư để quên trên bàn và tôi đọc được. Thế là tôi biết chuyện. Ông để cho tôi một số tiền là ... sẽ trao cho tôi khi tôi đến tuổi trưởng thành: đó là ý của tờ di chúc.

Tôi vắt áo choàng ở tay, đội cát-két không vành, và có một bình nước.

“Trông nó như người Ăngle ấy”.

Câu đó làm tôi rất hãnh diện.

Thầy tôi (ông ấy chiều tôi!) dẫn tôi ra tiệm cà-phê để làm một chén tiễn đưa.

“Nào, uống cái này, con sẽ thấy dễ chịu”.

Tôi nốc cốc rượu mạnh một hơi, làm tôi hắt hơi liền năm phút, nước mắt giàn giụa, như thể tôi đã khóc suốt đêm. Lưỡi tôi cháy đến nỗi tôi muốn ngâm nó xuống suối.

“Con phải ngoan với bác”.

Đấy là lời dặn dò cuối cùng của thầy tôi.

“Phải giữ gìn cẩn thận chiếc áo mới đấy”.

Đấy là tiếng kêu tối hậu của mẹ tôi.

Lên đường, ra roi đi, bác xà ích!

Việc tiễn biệt rất giản dị. Tôi phải cấp tốc tới nhà bác tôi.

Không có chuyện tình cảm đưa chân.

Còn tôi, tôi chỉ nhăm nhăm chờ lúc ngựa cất vó chạy...

Suốt đêm tôi tận hưởng niềm vui của mình. Tôi đã uống rượu, đã ngủ, đã mơ mộng, tôi đã uống xia-rô ở quầy hàng, đã kéo cửa xe lên, tôi đã xuống xe khi lên dốc.

Đến sáu giờ sáng thì tôi đã ở giữa thành phố Puy, trước tiệm cà-phê Vận tải.

Tôi để hành lý ở văn phòng, và tôi leo dốc đi về phía nhà cũ, ở đó chắc cô Balăngđrô đang chờ tôi. Người ta đã viết thư báo cho cô biết tin tôi sẽ tới, nhưng không hẹn ngày.

Tôi gõ cửa.

Ôi chao! Tôi không phải đợi lâu! Cô gái già phúc hậu ra đón tôi, tóc rối bù, và cảm động! Và ôm hôn tôi, ôm hôn tôi, - chưa bao giờ mẹ tôi ôm hôn tôi như vậy.

Cô quấn quýt bỏ áo mũ ra cho tôi, và cô sợ tôi mệt, tôi bị lạnh...

“Chắc cháu mệt lắm. Cởi chiếc áo choàng kia ra. Chả có nhẽ, không phải cháu! - Cháu lớn quá rồi! - Cả đêm ngồi trên xe, tội nghiệp thằng bé, - chắc cháu buồn ngủ lắm. Cháu có ngủ được không?

 - Cháu chẳng chợp mắt được lúc nào.”

Tôi nói dối như anh thợ nhổ răng, nhưng như thế cô sẽ hài lòng vì cháu cưng của cô suốt đêm không chợp mắt, mà vẫn tươi thế, khỏe thế. - Hẳn là một thằng con trai lớn có thể thức trắng đêm.

“Cháu có muốn nằm nghỉ không? - Thôi, cháu nằm nghỉ đi. - Cháu không muốn à? - Ít nhất cháu cũng uống một tách cà-phê nhé? - Cháu biết đấy, một tách như hồi trước cô vẫn giấu mẹ cháu cho cháu ấy mà, có pha sữa. - Bao giờ cháu cũng hớt kem ăn, - dạo ấy cháu nói là “cho cháu cái màng”.

Cô Balăngđrô yêu tôi biết mấy!

Chúng tôi cùng pha cà-phê. Cô nom như một mụ phù thủy, tôi thì giống một thằng quỷ con; cô thì, nơ buộc tóc vểnh lên, quay cối xay; tôi thì, chúi đầu vào đống tro, thổi lửa...

Như tất cả các cô gái già - có một món ăn sở thích - cô ưa cà-phê sữa đến độ say mê - và thực tình cà-phê sữa của cô ngon thật! Môi tôi nhắp vào, béo nhờn, má tôi nóng ran. Vẫn là cái bát hồi xưa tôi đã nhúng mõm vào, uống ừng ực vì mẹ tôi bất chợt có thể đến và mẹ tôi thì không muốn ai nuông chiều tôi ngoài mẹ tôi; - vả lại cà-phê sữa, không tốt đối với trẻ con, “dễ sinh đờm”.

“Các bà đến mà xem cháu.”

Cô chạy đi tìm hàng xóm, cô dẫn về mấy bà. Có một cô gái nhỏ đứng ở góc nhà.

“Cháu có nhận ra cô Perinê à?”

Sao, cái đứa bé bao giờ cũng vận quần nhung, tóc xổ tung ấy, tôi vẫn đánh nhau với nó, nó cào tôi - tôi vẫn còn vết sẹo, - dữ như cái ghẻ; chính là cô đứng kia với bím tóc đẹp cài lược đồi mồi, một chiếc nơ xanh ở áo, cổ áo xếp bằng vải tuyn nhỏ xinh quanh cái cổ óng ả, thoáng chút tơ nâu trên má và trên môi?

“Hai cháu hôn nhau đi nào!”

Tôi không dám, cô ta thì đợi. Người ta ẩy tôi, cô tiến lên. Không nhiều!

Tôi đỏ bừng mặt, cô cũng kha khá! Hồi trước, chúng tôi đã chơi vợ chồng với nhau; chơi ăn tiệc với nhau, và vết cào mạnh, nó còn để sẹo lại như đầu sợi chỉ trắng, tôi nhớ hình như là do sau một trận ghen tuông.

Chuyện đó tôi còn nhớ, có lẽ cô cũng chưa quên.

Hòm xiểng của tôi để ở sở vận tải.

Tôi nêu lại việc đó với đôi chút huênh hoang, tuy đã có sự thỏa thuận là tôi sẽ đi lấy hòm với một chú bé hàng xóm.

Cô Balăngđrô bảo: “Cháu mang một mình thì nặng quá”.

Trong hòm có quần áo của tôi, vài chiếc sơ-mi, chiếc áo vét mới, một gói quà cho dì Rôdali, một gói quà cho ông bác già, và một hòn đá cho một ông nào đó.

Ông này là một người đang làm một sưu tập đá sỏi và đã lùng khắp lơi để tìm kiếm một hòn cật.

Tôi đã nghe nói về hòn cật đó sáu tháng liền, lần nào cũng ngạc nhiên như vậy; cuối cùng người ta tìm thấy một vật mầu sắt, thầy tôi gói lại cẩn thận và tôi phải đem tới cho người sưu tập; ông ta có họ với ai đó ở trường Đại học tôi cũng không biết nữa, và bước đường công danh của ông Vanhtrax có thể bấu víu vào hòn cật đó.

Danh từ hòn cật dù sao cũng làm tôi ngượng, và khi một bà có mặt lúc tôi mở hòm hỏi tôi hòn cuội xanh biếc kia là cái gì, tôi không dám nói đúng tên gọi của nó.

Tôi vội vã mang hòn đá tới người nhận, ông ta xoay đi xoay lại hòn đá và nhìn nó như người ta soi trứng. Ông tiễn tôi ra cửa và dúi năm phơrăng vào tay tôi.

“Cho em, ông nói.

- Không phải đưa cho thầy mẹ à” tôi hỏi, bàng hoàng cả người.

- Cho em, để em tiêu trong dịp nghỉ hè”.

Tôi vừa đi vòng quanh thành phố một lượt, tôi đi dọc theo bờ sông, tôi tìm những chỗ vắng, tôi cần ngồi một mình.

Có trong tay cả một tài sản! - Còn trẻ thế, vào tuổi tôi, không cần phải nói lại với bố mẹ, tôi có quyền muốn dùng nó thế nào tùy thích, tiêu pha bừa bãi hoặc để dành, bỏ số tiền đó vào ống hoặc ném nó qua cửa sổ!

Có lẽ còn một tội ác gì đó bên trong chuyện này.

Không, ông Buyzông, người nhận hòn đá là một người lương thiện, mặt mũi ông ta nom tử tế, - có vẻ hơi đần nữa là khác; - tôi nghe nói những tên tội phạm không bao giờ có vẻ đần cả. Ông Buyzông có một địa vị không ai có thể nghi ngờ ông ta được.

Tuy nhiên! - Tôi, tôi không biết có nên giữ số tiền của ông ấy không!...

Ồ! Tôi đã lầm. Tôi là một thằng bé ăn mày.

“Cô Balăngđrô ạ, cô mang trả ông ấy hộ cháu! Cô nói là cháu không biết nên mới cầm tiền...”

Và tôi nằng nặc kéo áo cô dẫn tới tận cửa nhà ông có “hòn cật”.

Tôi núp vào một chỗ nhìn xem cô có vào không.

Lúc đi ra, cô nói: “Xong rồi” và cô hôn tôi, cọ mũi vào tôi nhiều lần.

“Ôkìa, cô khóc à!

- Cháu yêu của cô! Cô nói không che giấu nữa, lấy khăn tay lau mắt. Ông ta rất tốt, không muốn nhận lại đồng tiền. Cô đã bảo ông ta là cần phải nhận. Cô khóc. Cô khóc thật à?... Ấy là vì cháu còn nhỏ mà đã biết làm như thế! Đã biết tự trọng như thế...”

Cô vẫn lấy khăn thấm mũi và lông mi.

Tôi thì lúc ra về, tôi muốn ném hòn đá vào cửa kính nhà đó; thiếu chút nữa, tôi đã ném vỡ kính vì năm phơrăng của ông ta.

Cưỡi ngựa!

Bác tôi đợi tôi ngày mai. Mấy người trong giáo khu của bác tôi đi chợ tỉnh khi về sẽ cùng đi một đoàn; họ sẽ đưa tôi đi. Vừa hay một người trong bọn họ vừa tậu được con ngựa. Tôi sẽ cưỡi con ngựa ấy và chúng tôi sẽ đi thành đoàn về Sôđâyron.

Nơi hẹn nhau là nhà bác Mácxơlanh.

Bác Mácxơlanh mở quán ăn ở một phố ngoại ô. Quán bác nổi tiếng khắp một vùng đừng kính mười dặm vì rượu vang trắng và thịt lợn nướng.

Lúc vào quán, người ta ngửi mùi âm ấm của phân và mồ hôi súc vật, bốc ra như làn hơi tỏa từ chuồng ngựa. Trong phòng uống rượu, có mùi khé của dấm đun sôi, tưới lên thịt nướng và ngâm vào rau mùi.

Lại có cả phô-mát xanh bốc hơi nồng nặc.

Thật là nhức mũi để thở, đầy mùi nồng, đầy tiếng động, đầy sự sống.

Người ta nói chuyện nhảm bằng tiếng địa phương và rót rượu vang cho nhau đầy cốc.

Tôi nghịch một đôi đinh thúc ngựa cũ để lăn lóc trên bàn, và tôi nhấc thử những chiếc gậy tày quấn da: một vài chiếc gậy có lịch sử được người ta kể. - Ở đầu gậy có dính da mõ tòa.

... Đi thôi.

Tiếng bàn đạp chạm nhau khi người ta mang yên tới, tiếng dây da đen đét, tiếng ngựa gậm hàm thiếc, tôi vẫn còn mang những tiếng đó trong tai, với cái tên Báptítxtơ, anh chàng coi ngựa.

Tôi bé quá: người ta phải bế tôi lên, và buộc ngắn dây bàn đạp lại.

Ngắn nữa, ngắn nữa! Chân tôi ngắn lắm. Tôi đã ngồi yên vị! Người ta trao cương cho tôi cầm.

“Mày sẽ làm thế này này, thế nọ. Mày đã cưỡi ngựa lần nào chưa?

- Chưa.

- Không sao. Đừng sợ!”

Mọi người đã lên ngựa. Kể cả tôi là năm người. Mọi người hầu như không chú ý tới tôi. Người ta thấy tôi đã khá lớn, khá thạo, có thể để mặc tôi một mình. Tôi rất lấy làm hãnh diện!

SÔĐÂYRON (Chaudeyrolles)

Tôi đến nơi mệt nhừ và bị sây xước nhiều, nhưng tôi làm ra vẻ không mệt.

Những phút đầu tiên rất buồn.

Nghĩa trang ở cạnh nhà thờ, và không có trẻ con để chơi với tôi; gió mạnh thổi là là mặt đất hung dữ, vì không có lá cây to cản lại. Tôi chỉ trông thấy những cây thông khẳng khiu, dài như cột buồm, và núi hiện đàng kia, trơ trụi và trọc lốc như lưng một con voi gầy giơ xương.

Thật là trống trải, trống trải, chỉ có những con bò nằm, hoặc những con ngựa đứng sững trên đồng cỏ!

Có những con đường lát đá xám như vỏ trứng diều hâu, và có những con sông đôi bờ đỏ lợt, tựa hồ như có máu; cỏ thì sẫm tối.

Nhưng dần dần, không khí hăng miền núi ấy làm thông máu và da tôi rờn rợn.

Tôi há hốc miệng để uống không khí, tôi phanh áo sơ-mi cho nó phả vào ngực.

Thế có lạ không? Lúc không khí đã đẫm mình, tôi cảm thấy con mắt trong trẻo và đầu óc sáng sủa làm sao!

Ấy là vì tôi vừa ở vùng mỏ than, ra với những nhà máy nhơ nhớp ở chân, những sườn lò ủ rũ, những cuộn khói bụi cáu hầm mỏ, một chân trời phải cắt bằng dao, phải quét bằng chổi...

Ở đây bầu trời trong sáng, và nếu có chút khói bay lên thì đấy là một niềm vui trong không gian, - làn khói bay lên, như khói hương, từ đống củi khô do một người chăn cừu đốt ở đàng kia, hoặc từ mớ cành nho tươi mà chú bé chăn bò thổi trong một túp lều gần cụm thông đó...

Có hồ nuôi cá, bao nhiêu nước trên núi chảy dồn cả vào, ngàu bọt, và lạnh buốt ngón tay. Vài con cá tung tăng trong hồ. Có một mạng lưới nhỏ để ngăn cá khỏi đi. Và tôi đã bỏ ra biết bao thời khắc để nhìn nước sôi sục, nghe nó chạy đến, nhìn nó chạy đi, tỏa ra như chiếc váy trắng trên đá!

Sông đầy cá hương. Một lần tôi lội xuống sông tới ngang đùi; tôi ngỡ chân tôi bị cưa đứt bởi một chiếc chưa băng giá. Bây giờ thì niềm vui của tôi là cảm thấy cái rợn mình đầu tiên ấy. Rồi tôi thọc tay vào tất cả các hốc để mò. Cá hương lọt qua kẽ tay tôi; nhưng cụ Rêgit đứng kia, cụ biết cách bắt cá và ném lên cỏ, ở đó nó giống như lưỡi dao bạc với những chấm vàng và những đốm máu.

Bác tôi nuôi một con bò cái trong chuồng; chính tôi dùng hái cắt cỏ cho bò ăn. Chiếc hài mới rít lên làm sao trong bãi cỏ dày mượt, khi tôi đã mài sắc nó trên hòn đá xanh biếc nhúng vào nước lạnh!

Một đôi khi tôi phạt phải một tổ chim hoặc một ổ rắn nước.

Tôi tự tay đem cỏ tới cho con bò, và nó lắc lư đầu chào tôi khi nghe thấy tiếng chân tôi. Chính tôi chăn nó ra bãi và đánh nó về lúc tối. Những bà con hiền lành trong vùng nói với tôi như với một nhân vật quan trọng, và các chú mục đồng yêu tôi như một người bạn.

Tôi sung sướng!

Hay tôi ở lại, hay tôi làm nông dân?

Tôi ngỏ ý với bác tôi vào một tối bác bảo dọn ăn bên cạnh lò sưởi, và sau khi bác đã uống thứ rượu vang ngâm vỏ hành của bác.

“Để sau này, khi nào bác chết. Cháu có thể tậu một cái ấp, nhưng cháu không muốn làm điền tốt chứ?”

Tôi cũng chẳng biết ra sao nữa.

Khi trời mưa không thể đi câu cũng không thể đi kiếm dâu dại ở dưới chân núi, giữa những hòn đá ghẻ lở, - hoặc khi mặt trời sáng như một tấm tôn nung lửa xanh biếc, và rang cháy cả vùng không có bóng râm, - những hôm ấy, tôi chui vào thư viện của bác tôi và tôi cắm cúi đọc lia lịa. Có quyển tiểu sử các vĩ nhân của thầy tu Đờ Fenle. Tôi đọc ngay vào các đoạn nói về Napôlêông, và tôi mơ giữa ban ngày toàn những giấc mơ về đảo Xanh-Hêlen[30]. Qua cửa sổ tôi nhìn ra cánh đồng vắng, chân trời trống trải, và tôi tìm Hắtxơn Lơuy[31]. Giá mà tôi tóm được hắn!

Bác tôi đợi các linh mục ở quanh vùng đến để họp.

Họ đến. Tôi nghe thấy họ ngồi ở bàn ăn nói xấu ông trợ tế ở Xanh-Pácliê, ông linh mục ở Xôlinhbắc; họ có vẻ chẳng nghĩ quái gì đến Chúa lòng lành cũng như năm tận thế!

Bác tôi ít tham gia chuyện trò. Tuổi già miễn cho bác điều đó; bác lại còn làm ra vẻ già nua quá lên, giả vờ điếc và gần như mù; nhưng rượu vang đã làm cho những người khác đâm lắm lời. Một linh mục to béo, có vẻ nghiện rượu, dứt tung hàng cúc trên chiếc áo cáu bẩn rây nhiều vết rượu, làm xô lệch miếng vải đeo trước ngực vàng ối cà-phê. Một linh mục gầy, đầu như đầu rắn, chỉ uống nước; nhưng ông ta đưa mắt liếc ngang liếc dọc làm tôi phát sợ. Một lần tôi xem kịch ở rạp Xanh-Êchiên, có một vai phản bội bỏ thuốc độc vào các cốc; ông ta có vẻ y hệt vai đó.

Những ông khác thì ăn uống như những kẻ phàm ăn, và lúc nào phải cầu kinh, mồm họ vẫn còn đầy những thức ăn.

Người ta nhìn thấy cả quần lót của họ dưới chiếc áo chùng bẩn thỉu.

Ông linh mục béo, cáu bẩn, quay sang phía tôi.

“Cháu cụ đây à, cụ linh mục? Chàng trai này ăn khỏe đấy; trông nó chắc nịch!”

Và ông ta giơ tay rờ lưng tôi, làm tôi ghê tởm và khó chịu.

“Còn Maclu, cái thằng theo đạo Tin lành ấy, các ông quên nó rồi à? một người hỏi.

- Nó bây giờ ở hồ Xanh-Frông.

- Với cả lũ chúng nó! Chúng làm ổ ở đấy.

- Ổ rắn độc”. Cái đầu rắn rít lên.

Vậy tức là có những người theo đạo Tin lành! Tôi đã đọc những điều người ta nói về họ trong thư viện Sôđâyron, và những người theo đạo Tin lành bị thiêu sống, bị quẳng xuống địa ngục, đối với tôi dừng như là người bị trời đầy đọa.

Một hôm tôi đi một mình tới tận hồ Xanh-Frông. Thật là cả một cuộc hành trình lớn. Suốt dọc đường tôi nghĩ tới đêm Xanh-Báctêlơmy[32], và tôi như trông thấy những cây thập tự đỏ trên nền trời xanh.

Hồ đây rồi, với một vài chiếc thuyền trong lau sậy, những túp lều heo hút giữa những cánh đồng.

Người ta đã dặn tôi là đi đến túp lều bên trái, tới nhà bác Jăng Rôbanéx; tôi chỉ cần nói tôi là cháu cụ linh mục, người ta sẽ mời tôi uống sữa và chỉ cho tôi trông thấy những người theo đạo Tin lành.

Người ta đón tiếp tôi rất tốt; “Còn những người theo đạo tin lành, - bác Jăng nói, - thì vừa hay có một người kia kìa, họ đứng trên luống cầy ấy”.

Nom anh ta có vẻ dữ và buồn, - gầy gò, vàng vọt, cằm nhọn, - người cứng đơ như một thanh kiếm.

Cảnh sát không canh gác hắn sao? Có ai nói chuyện với hắn không? Hắn có bị xích quả tạ vào chân không?[33] Tôi nhớ rõ là trong Kinh Thánh người ta trừng phạt tất cả những kẻ tà đạo, và những quyển sách trong thư viện đều gọi họ là bọn vô lại! Đến tối, tôi nói qua về chuyện đó với bác tôi; bác tôi trả lời không được rõ, và tôi bắt đầu tin là những người theo đạo Tin lành khốn kiếp thì cũng như những con vật biết nói trong thơ ngụ ngôn của La Fôngten. Thật là chuyện ba lơn!

Phải về rồi.

Bác tôi phải đi thăm các nơi, vả lại tôi sắp phải về Xanh-Êchiên để tựu trường.

Chúng tôi trở về theo con đường tôi đã đến, nhưng lần này tôi có một con ngựa lành, người ta vận quần chẽn cho tôi, lót bông, và bôi mỡ trước cho tôi. Thêm nữa, một tháng nay tôi cưỡi ngựa luôn nên đã thạo, và tôi cảm thấy một niềm vui mãnh liệt ngồi trên yên ngựa ngoái người lại để vĩnh biệt cảnh vật. Tôi thúc gót cho ngựa phi nước đại một quãng, tôi vuốt ve con vật như một người bạn cũ thân thiết...

Bác tôi từ giã tôi ở Thập tự Truyền giáo hội. Bác tôi nói với tôi những lời rất hiền hậu.

“Cháu hãy chăm học, bác nói.

- Bác viết thư cho thầy cháu để sang năm lại cho cháu về chơi nhé.

- Thầy cháu à! Chẳng phải thầy cháu cấm cháu đâu, nhưng có lẽ mẹ cháu; bác chẳng hợp với mẹ cháu, thế đấy!”

Tôi biết.

Những ngày đầu mới tới, tôi đã nghe thấy chị hầu gái nói trong buồng.

“Con trai bà Vanhtrax đấy à?

- Phải.

- Cái bà đã nói xấu cụ rất nhiều ấy phải không?

- Bây giờ thôi rồi, tôi đã tha thứ cho bà ấy rồi, - và tôi mến thằng bé này.”

Bác tôi, người không đẹp, mắt ti hí, mũi to, lông lá hầu khắp người, nhưng bác tôi hiền từ.

Tôi biết là bác tôi cảm thấy tôi khổ sở trong gia đình và từ giã bác, tôi sẽ mất luôn cả tự do và hạnh phúc. Bác tôi cũng buồn như tôi.

“Vĩnh biệt, bác tôi vừa nói vừa ôm hôn tôi và bắt tay tôi một cái làm tôi thấy còn thú vị hơn là được bác hôn. Bác cho cháu một thứ để trong va-ly ấy, đừng nói gì với mẹ cháu cả.”

Bác tôi lại chìa ra cho tôi bắt những ngón tay già xám, hất đầu một cái rồi quay đi.

Ôi chao! Giá đấy là thầy tôi, người bác có lòng tốt ấy.

Nhưng hình như các thầy tu không thể là cha của ai được cả thì phải: tại sao vậy?

Tôi đã gửi thơ báo cho cô Blăngđrô là tôi về, cô đem khoe bức thư với tất cả mọi người.

“Thằng bé viết mới đẹp chứ! Nhìn những chữ viết hoa này!”

Cô chuẩn bị giường cho tôi trong căn buồng nhỏ ở cạnh buồng cô. Căn buồng như cái hũ, nhưng tôi có quyền đóng cửa, ném mũ cát-két lên giường và vừa treo áo choàng vừa thở phào một cái! Tôi cử động như một chàng trai độc thân, tôi xếp giấy tờ, tôi khe khẽ hát...

Trong va-li của tôi, có cái gì mà bác tôi đã nói đến?

Mười phơrăng!

Của bác tôi cho thì tôi có thể nhận được...

Thế là đùng một cái, tôi giầu.

Trời rất đẹp, và tôi ra phố từ chín giờ sáng, tự do; ngây ngất cả người vì niềm hạnh phúc được tự do, tôi cảm thấy vui, tôi cảm thấy khỏe, tôi vừa đi vừa nện gót giầy xuống đất, vừa háo hức nhìn mọi thứ: đám mây trên trời, người lính đi ngoài phố; tôi đi lang thang qua chợ, tôi đi dọc theo tòa thị chính, tôi nhẩn nha đi dạo ở bãi Brơi, hai tay chắp đít vừa đi vừa lấy mũi giầy đá một hòn sỏi, như ông thu thuế đang đi trước mặt tôi, và tôi bắt trước một chút.

Không phải làm bài, không phải chép phạt, không cha không mẹ, không ai hết, không gì cả!

Có người đánh trống[34] của thành phố dừng lại ở ngã tư, làm mọi người xúm lại; những sĩ quan đeo ngù vai vàng mà tôi chạm phải; tôi có quyền đi tới tất cả các chỗ có đám đông tụ tập.

Sáng nào tôi cũng đến chỗ bác Hai Ria để đánh giầy. Chà! Thôi!

Chỉ cần có một tháng nghỉ hè, đi chăn bò, chạy ngoài đồng, đi dạo một mình, đủ mở mang trí óc và trái tim tôi!

Buổi tối chúng tôi ra tiệm cà-phê; bọn tôi có khoảng ba bốn thằng bạn cũ; người ta đánh bài đặt cược nửa tách, một ly con, người ta đốt rượu mạnh! Khói ấy, mùa rượu ấy, tiếng bi-a, tiếng nút chai nổ, những tiếng cười ha hả, tất cả mọi cái đó kích mạnh giác quan tôi, và tôi tưởng như mình đã mọc kia và có thể nhấc bổng cả bàn bi-a lên!

Ở tiệm cà-phê ra, chúng tôi đi vòng một tua qua quán Móng Ngựa, - như những người sống bằng thực lợi! - Chúng tôi dừng lại đứng thành vòng tròn vào những lúc thú vị, đôi lúc tôi lại đi giật lùi trước cả bọn.

Nhưng rồi tuổi trẻ lại trỗi dậy.

“Mày sợ ấy! Mày có dám chụm chân nhẩy qua cái ghế dài này không nào? Mày có thể dang thẳng tay nhấc hòn đá này lên không?

- Tao đánh cuộc là tao vật ngã được thằng Mitsơlông.”

Tôi không biết tôi có khỏe nhất bọn không, nhưng mọi đứa tin cậy, vì tôi dốc hết ý chí vào đấy! Thà tôi hộc máu mồm còn hơn là buông rơi hòn đá hoặc xin thua thằng Mitsơlông.

Tôi làm chủ tôi; tôi muốn làm gì thì làm, thậm chí tôi lại còn là thằng cầm đầu cả bọn nữa, là thằng được mọi đứa nghe theo, và là thằng hôm nọ, khi một tên mất dạy ném đá vào bọn tôi, đã nói: “Các cậu cứ đứng im!” - Tôi đã tóm thằng mất dạy, vừa nắm thắt lưng vừa bợp tai nó dẫn tới trước mặt cả bọn. - “Xin lỗi đi!” Thằng ấy lớn hơn tôi.

Bọn tôi đã đi chơi thuyền; không đứa nào biết chèo, và chúng tôi tam tứ phen suýt chết đuối. Ôi chao! Chúng tôi chơi đã hả!

Mọi đứa muốn bầu tôi làm thuyền trưởng.

“Đừng giỡn! Bầu Mitsơlông ấy; tao, tao đi nằm đây”.

Và tôi nằm dài trong thuyền, nhìn vầng mặt trời làm tôi hấp háy mắt, và nhúng hai tay xuống làn nước biếc...

Một ông chú không biết họ về ngành nào đuổi theo tôi ở phố Mácturê, và chỉ kịp báo cho cô Balăngđrô biết là đánh xe ngựa dẫn tôi về thăm gia đình chú; đến ngày kia chú sẽ trả tôi về.

“Ta đi thôi, cháu. Đi! con Xám”

Chính tôi cầm cương ngựa khi đi qua ngoại ô. Lát lát tôi lại quất roi chơi một cái, và tôi lấy cán roi đánh ngựa làm như rủa: “Chà! con nghẽo!”

Chúng tôi dừng lại ở quán Ngựa-trắng để cho con Xám ăn. Tôi nhẩy từ trên xe xuống như thằng hề trong rạp xiếc và tôi quất roi đen đét trong không khí như một gã lái ngựa.

Ông chú không biết họ về ngành nào và rất lấy làm hãnh diện.

“Cháu tôi đấy!” chú nói với tất cả mọi người trong khách sạn.

Chúng tôi ăn, khuỷu tay tì lên bàn, chú tôi kể (trong khi ăn trứng nấu vang, rồi trứng rán mỡ, cuối cùng là rau trộn với trứng luộc), chú tôi kể cho tôi nghe lai lịch ngành họ của chú. Chú đã lấy ai, chú là anh em con cô con cậu thế nào với ai, v.v...

“Cháu sẽ gặp các em gái họ của cháu, chúng nó rất xinh.”

Đúng thế, các cô em họ ấy xinh thật, và có vẻ lanh lợi, tinh quái làm sao!

Chính tôi mới là con gái, tôi đâm ra vụng về ngượng nghịu, tôi tự cảm thấy mình đần độn. Đối với con gái nông thôn thì họ nói tiếng Pháp rất giỏi. Họ đã được đi học ở thị trấn bên cạnh.

“Một cốc vang nhé! họ bảo tôi.

- Ừ, một cốc vang.”

Tôi chỉ nhận uống rượu vang trong các tiệm rượu hoặc quán ăn cốt đề chạm cốc, vì các cốc chạm nhau nghe vui tai cũng như tôi chỉ uống cô-nhắc pha đường: những ánh lửa xanh biếc trông thật đẹp. Nhưng thú thực tôi đột nhiên thấy mình thua kém các cô em họ có vẻ táo bạo, giọng nói lanh lảnh này, và tôi sắp uống- uống cả rượu lẫn can đảm.

“Chúc sức khỏe!” Họ nói sau khi rót một giọt, một giọt nhỏ xíu vào cốc của họ.

Họ rót vào cốc của tôi đầy tràn.

Tôi tưởng mình hơi say. -Coi chừng đấy! Các cô em họ.

Thật vậy, lúc này tôi táo tợn, liều lĩnh như quỷ sử!

Các cô em họ muốn dẫn tôi đi xem vườn quả. Ừ thì xem vườn quả!, và tôi chụm hai chân nhảy qua hàng rào vào vườn.

Đấy, tôi là như thế đấy!

Các cô em họ sững sờ nhìn tôi, tôi vừa cười vừa quay lại để giơ tay giúp các cô trèo qua rào. Một cô, hai cô, nào!

Họ kêu chí chóe, và ngã vào vòng tay tôi lúc đặt chân xuống đất; họ dựa, họ bíu vào tôi, thế là cả bọn ngă lăn quay! Quả thật chúng tôi ngã, tất cả bọn đều thăng bằng, và ngã lên bãi cỏ. Các cô ấy đeo nịt tất xanh.

Trời đẹp làm sao! Mặt trời vàng rực! Những giọt mồ hôi to từ thái dương tôi rớt xuống, và họ cũng có những hạt ngọc trai lăn tăn trên đôi má hồng. Tiếng ong vo ve quanh các tổ ong, đằng sau những cây phúc bồn tử kia, làm thành một bản nhạc đơn điệu vẳng trong không khí.

“Chúng mày làm gì ở ngoài ấy thế?” một tiếng gọi cất lên từ ngưỡng cửa nhà.

Chúng tôi làm gì à?. Chúng tôi sung sướng, sung sướng như chưa bao giờ tôi được sung sướng như thế, như không bao giờ tôi còn được như thế nữa. Tôi ngập chân vào hoa tới mắt cá, và tôi vừa mới hôn đôi má thơm mùi dâu tươi.

Phải về thôi, người ta đang gọi chúng tôi! Chúng tôi về như những đứa trẻ ngoan ngoãn, và các cô ấy, mỗi cô khoác một bên tay tôi; các cô khoanh tay lại, hơi dựa người vào tôi một chút và mỗi lần muốn bảo tôi cái gì, hoặc hỏi tôi điều gì lại lắc khuỷu lay tôi.

Họ đã la tôi rồi đấy, các bạn hãy lưu ý! Họ cho là tôi không trả lời, hoặc trả lời sai. “Người ta sẽ chẳng nói gì với tôi nữa, nếu tôi cứ làm lơ như thế… Muốn không! “

Họ phát vào người tôi, họ trách móc tôi.

Là vì tôi đã áp dụng một phương pháp để được thoải mái: tôi cứ ôm hôn họ, khi nào họ hỏi một điều mà tôi thấy khó quá.

Chà! tôi uống rượu vang chí là phải!

Các cô ấy muốn xoay tôi.

“Anh biết địa lý đấy chứ?”

Không nhiều lắm.

Chắc anh biết Thủ phủ của... là gì chứ”

Tôi hoàn toàn không biết, và để chạy làng, tôi cứ ôm hôn, ôm hôn; tôi chột dạ, mặc dù đã uống cốc vang nặng, và nếu các cô ấy không làm gái giấu mặt đi, các cô sẽ trông thấy tôi thẹn đỏ dừ mặt.

Chúng tôi ngồi vào bàn ăn. Đúng ngọ. Tiếng guốc của các điền tốt khua trong sân báo hiệu giờ ăn, và tất cả mọi người kéo về, cả những con gà mái cũng tới đợi thóc, chen chúc nhau ở cửa. Một con gà con què vội lê chân tới; quanh nhà trống trải, tôi nhìn thấy những chiếc cày ngừng lại trên ruộng, và những người thợ cầy ngồi ăn xúp do cô ở gái vận tạp-dề xanh vừa đem đến.

Đúng là cái tĩnh mịch và im phắc buổi trưa.

Ở bàn ăn chúng tôi (người ta dọn mâm riêng cho cậu cháu), có chiếc khăn bàn trắng, những trái cây xếp trong đĩa, và một cành tường vi run rẩy trong nước, tươi như một chùm tua xanh với lục lạc đỏ.

Mùi hương mộc ở đâu thoảng đến không biết. - ôi chao! lòng tôi lâng lâng, mùi hương mộc mới dịu làm sao!

Sau. bữa ăn trưa. .

“Cho chúng con lấy xe ngựa đi chơi với anh Jắc một vòng nhé?

“Con Xám mệt quá rồi, ông bố nói

Đúng thế. Thế thì chúng mình đi đâu bây giờ?”

Tôi đề nghị nên đi về phía cỏ cây hương mộc, thế là một lát sau, chúng tôi tíu tít rút bấc những cành hương mộc đó, làm những chiếc còi sáng bóng như những sáo bằng đồng; cô em họ Mácgơrít bị đứt tay và máu nhỏ những giọt to lên mầu lá trắng.

Chúng tôi bứt cỏ để bịt vào vết thương, và lánh xa đám cây tệ hại đã làm cô em họ đứt tay.

Chúng tôi đi về phía ao cỏ đàn vịt lội, tới kho thóc. Những đòn đập lúa ngừng ca lại lúc các cô em và cậu anh họ bước vào!. Rồi những đòn đó lại hoạt động, khoa lên thành vòng tròn lớn và nhịp nhàng đập các bó lúa trên sàn gỗ âm vang. Tôi cầm một chiếc đòn để đập thử, tôi cảm thấy cái bàn đập quay tít vút ra như ná bắn, rồi lộn trở lại như búa tạ, nó cuốn hút không khí thành gió... Nó trúng vào đầu ai, nó đập vỡ tan như kính.

Ở cuối vườn, có một hố đầy những nước và cành cây mục, với những con ếch con xanh bóng loáng dưới ánh mặt trời; tôi lấy một chiếc gậy nhặt được dưới đất, một mẩu dây tìm thấy trong túi, và một chiếc đinh ghim của Mácgơrít đưa cho, làm một cái cần câu. Cô em Mácgơrit đưa tôi một mẩu băng đỏ, và cuộc câu nhái bắt đầu.

Lúc con nhái đầu tiên cắn câu, tiếng thét mới gớm chứ! Nhưng phải gỡ nó ở lưỡi câu ra, không ai dám gỡ, con ếch thoát ra được và các cô gái bỏ chay.

Tôi dượt theo các cô! Chúng tôi sống một ngày thú vị, đi lang thang trên cánh đồng, lội sông tới đâu gối! tôi nhảy trên các hòn đá mà dòng nước đã mài nhẵn để chạy theo các cô.

Tới một lúc tôi trượt chân lăn tùm xuống nước.

Tôi lội dưới nước lên ướt sườn sượt, quần dính chặt vào da và nặng chịch, tôi ra một chỗ nằm phơi nắng. Người tôi bốc hơi như xúp nóng.

“Hay chúng mình vắt khô cho anh ấy!“ một cô em họ nói, tay làm điệu vắt quần áo.

Các cô đi về một phía, tới sau một hòn đá che không kín, cởi bít tất ra; chân các cô nói vậy cũng bị ướt... và trắng làm sao!

Cuối cùng chúng tôi lại khô ráo, và lại vui vẻ đi chơi.

Mắt chúng tôi trong trẻo, nước da bóng loáng. Chúng tôi đi theo những con đường hai bên trồng dâu, và chi chít những quả mận nhỏ tím, chua như dấm; chúng tôi ăn hàng bốc - tôi nuốt cả hột để làm ra vẻ người lớn.

Chúng tôi giận nhau, chúng tôi lạc nhau! nhưng bao giờ cũng lại tìm thấy nhau, khoác tay nhau, làm lành và tò mò hỏi chuyện nhau: tôi thì kể ở Xanh-Echiên tôi làm gì, những trò tinh nghịch ở trường; các cô thì nói những chuyện vui ở ký túc xá, chuyện này, chuyện nọ, và cuối cùng kêu lên:

“Trong hai chúng em, anh yêu đứa nào hơn?

- Đàng ấy yêu đứa nào hơn?”. Mácgơrít (Marguerite) hỏi thẳng thừng, gạt phắt tiếng anh và đứng sững trước mặt tôi. Không biết trả lời ra sao, tôi hôn cả hai cô.

Họ lấy một cành hoa quất vào mặt tôi và chạy ra xa để lấy mận tím ném tôi túi bụi.

Tối đến chúng tôi hơi mệt, và ngồi trò chuyện trên hòn đá nhẵn trước nhà, như những ông cụ già trước cửa một quán rượu.

Chà! nhất định là tôi thích Mácgơrít hơn rồi! Bao giờ nói xong một câu, cô cũng cầm lấy tay tôi, vừa lấy ngón tay làm bù tóc tôi vừa nói “. Anh hất tóc về đằng sau, chứ để thế này chẳng đẹp!”

Hai cô dẫn tôi về buồng của tôi ở gần kho lúa-cái kho mà mùa đông vừa qua, người ta đã treo nho, xếp khoai tây với những bó hồi hương, và những túm cỏ oải-hương khô. Bây giờ kho vẫn còn mùi, và tôi đề ngỏ cửa cho mùi đó bay vào buồng tôi- lại thêm một buồng tôi để qua một đêm. Tôi ra ngồi bên cửa sổ và nhìn về các thôn xóm xa xa đang tắt dần đèn lửa. Một con họa mi sột soạt trong một đống củi và cất tiếng hót. Có con tu hú kêu hú-hú trông cây khu rừng lớn, và ếch nhái à uôm trong cỏ đầm lầy. Tôi lắng nghe và cuối cùng không nghe thấy.

Con gà trống làm tôi giật mình thức dậy. Tôi đã ngủ gục đầu vào tay và tôi rùng mình cởi quần áo để ngủ một giấc không mộng mị, ngây ngất hương thơm, ngợp mình trong hạnh phúc.

Hai ngày sống như thế, -- với những cuộc hờn giận và làm lành bên bụi cây, giữa hoa, trong cỏ khô; trò chơi đập lúa, tiếng sông reo êm đềm và mùi hương mộc!

Phải về rồi!

“Anh viết thư cho em nhé, Mácgơrít (Marguerite) thở dài khi vĩnh biệt tôi. Đây, anh cầm lấy bó hoa nhỏ này làm kỷ niệm. Chào anh

Cô đưa trán để tôi hôn, chỉ đưa trán thôi. Hai hôm nay cô để cho tôi hôn lên môi; nom cô ra vẻ nghiêm trang, và tôi đi xa rồi vẫn nhìn thấy cô đứng, tay vẫy mù-soa như những bà chúa lâu đài ở trong sách thường làm, khi vị hôn phu ra đi; tôi sờ vào bó hoa cô nhét vào ngực tôi và tôi bị gai đâm vào ngón tay. Tôi đã mút ngón tay ấy.

Bó hoa đỏ, rồi ta sẽ lại thấy nó, với những giọt lệ giữa những bông hoa héo…

Chú thích:

[30] Một hòn đảo ở Đại-tây-dương, nơi Napôlêông bị đi đày rồi chết (từ 1815 đến 1821).

[31] Viên tướng Anh, canh gác Napôlêông ở đảo Xanh-Hêleu.

[32] Tức là đêm 23-8-1572, thái hậu Pháp Catơrin đơ Mêđixi ra lệnh tàn sát những người theo đạo tin lành.

[33] Ở Pháp, các tù khổ sai bị xích một quả tạ nặng ở chân.

« Lùi
Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của jules vallès