“Mẹ ơi! Con đau bụng.
- Giun đấy, con ạ!
- Con đau lắm.
- Thôi, đừng làm nũng! Chà! Nếu như mày có mười ngàn phơrăng thực lợi! ... Lúc nào đau bụng, mày cứ làm như ông đẻ ra tao ấy, cứ lộn nhào là khỏi!”
Tiền! - Thực lợi!
Cũng như với tất cả mọi đứa trẻ khác, người ta hứa với tôi những phần thưởng, một đồng xu cái, nếu tôi ngoan, và mỗi lần tôi được xếp thứ nhất thì được thưởng một đồng hào trắng nhỏ. người ta cho tôi ư? Không, mẹ tôi yêu tôi quá nên không làm như vậy.
Tuy nhiên mẹ tôi không cho tôi, không phải là để làm giầu.
Đồng hào không trở về với gia đình - nó chui vào nằm trong một ống tiền, miệng ống cười khảy vào mũi tôi.
“Đây là của mày”, mẹ tôi vừa nói, vừa giơ cho tôi trông thấy đồng tiền trước khi bỏ vào lỗ!
Tôi không bao giờ trông thấy nó nữa!
“Để mua cho mày một người!” mẹ tôi nói thêm.
Chính cái người sẽ đi lính thay tôi náu trong ống tiền ấy đã nuốt tất cả những đồng hào nhỏ, đồng xu cái mà những đứa khác, bạn tôi, thường tiêu ngày chủ nhật và những ngày phiên chợ, để dự các trò vui, mua những điếu xì-gà rơm, súng đại bác bằng đồng.
Bao giờ cũng khôn ngoan, dạy con mà không lên giọng, mẹ tôi đi theo nhịp của thời đại bằng cách đã gây cho tôi mối thù ghét những đội quân thường trực, và làm tôi suy nghĩ về món thuế máu. Đôi lúc tôi phản ứng, tôi kể tên những thằng bạn của tôi có tiền thì tiêu chứ không để dành để mua người.
“Chắc hẳn chúng nó bị tàn tật, mày thấy đấy!”
Thậm chí mẹ tôi lại còn than thở, thương xót cho những đứa trẻ tội nghiệp ấy, chúng tiêu tiền để tự an ủi cũng là phải, những đứa trẻ mà trời đã vặn lệch người hoặc đã làm gù lưng nhưng nom bên ngoài không biết được.
“Và tại sao!” mẹ tôi nói như nói một mình, và đi tới chỗ báng bổ.
“Đấy là một tội ác của thiên nhiên, gần như một sự bất công của Thượng đế. - Mày thì Chúa đã tha cho mày”, mẹ tôi vừa nói vừa vỗ lên lưng tôi, để tôi thấy là không có bướu, và mẹ tôi có thể và phải - đấy là vai trò của người mẹ - tiếp tục nuôi cái người sẽ thay tôi đi lính, trong đáy ống tiền...
Còn tôi, đa nghi, bội bạc, muốn cưỡi ngựa gỗ, tôi cứ tiếc là mình không bị gù, và tôi cầu Chúa hãy làm một sự bất công nào đó mà tôi sẽ che giấu dưới áo sơ-mi, nó sẽ cứu tôi thoát khỏi việc rút thăm tuyển lính, cho tôi có quyền được lấy số tiền đã bỏ ống, và không phải bỏ gì vào cái ống khốn kiếp ấy nữa.
Ít ngày nữa, các ông tổng thanh tra sẽ tới.
Thầy tôi quần học sinh mệt lử và triệu tập những đứa học giỏi đến để chuẩn bị cuộc kiểm tra. Thầy tôi phân vai cho chúng. Thầy tôi sẽ hỏi đứa này đoạn này, đứa kia đoạn kia.
“Tribuia, em đọc chữ “que”[28] - Cayôtanh (Caillotin), Thánh sử. Học thuộc Những vị tiên tri.
- Thưa thầy, Cayôtanh nói, chữ Êdêkien (Ezéchiel ) đọc thế nào ạ?
Mẹ tôi vỗ lên trán y như Ăngđrê Sêniê (André
Chénier) [29] vậy.
“Jắc, nếu mày được xếp trong số ba đứa đứng đầu lớp từ nay tới lúc ông thanhtra đến, tao sẽ cho mày... Đây này! Cho mày, cho mình mày; mày muốn làm gì thì làm.”
Mẹ tôi giơ cho tôi xem một đồng tiền vàng; một đồng hai hào. Ôi! Tại sao lại gây cho tôi sự thèm khát giàu sang? Một người mẹ mà làm như thế có đúng không?
Trong người tôi diễn ra một cuộc đấu tranh - cũng không kéo dài lắm.
“Cho mình con ư? Con thích mua gì thì mua ư? Nếu con muốn, con đem cho người nghèo cũng được chứ?”
Đem đồng hai hào cho người nghèo! - mẹ tôi lảo đảo; sự điên rồ của tôi làm mẹ tôi hoảng sợ, nhưng mẹ tôi vẫn đáp trước thanh thiên bạch nhật:
“Ừ, đồng hai hào sẽ là của mày. Tao mong rằng mày không đem cho người nghèo!”
Nếu thế thì đây là một cuộc cách mạng rồi! Cho tới nay, tôi không có lấy một tí gì là của riêng tôi hết, ngay cả cái xác tôi nữa.
Tôi bảo mẹ tôi nhắc lại.
Nửa đêm
Muốn nhất lớp thì phải học thuộc môn sử - và tôi cặm cụi, cặm cụi học!
Ngày thứ bảy đã tới.
Ông hiệu trưởng vào lớp. Học sinh đứng dậy, giáo sư đọc.
“Dịch tiếng Pháp sang tiếng Hy-lạp.
- Nhất: Jắc Vanhtrax.”
“Thế nào? mẹ tôi vừa đến đã hỏi.
- Con nhất.
- Thế à! Tốt lắm. Con thấy không, con mà chăm học là có thể được xếp hàng cao ngay thôi! Mai mẹ sẽ làm một món pasát ngon cho mà ăn.”
Pasát là một thứ bột nhào với khoai tây, một thứ vừa màu vàng không có bơ mà mẹ tôi giới thiệu với tôi như một món ăn sang trọng. Nhưng chẳng phải là chuyện pasát! Tôi muốn có một đồng hai hào kia. Nhưng mẹ tôi không đả động tới. Vấn đề nghiêm trọng đến nỗi tôi không dám nêu ra. Mẹ tôi làm bộ tíu tít về món pasát, phô với tôi một quả trứng lem luốc và nói: “Mẹ mong là lòng đỏ nó to!”
Tất cả những cái đó chỉ là trò hề. Thế còn hai hào của tôi, tôi có được không, có hay không? Người ta có hứa với tôi hay không? Có lẽ tôi phải hỏi mẹ tôi mới được. Tại sao vậy? Hay là mẹ tôi quên?
Tôi thấy rõ là có chút ngượng nghịu trong việc tán tỉnh về quả trứng, trong nụ cười gượng, tôi thấy rõ là mẹ tôi có nhớ. Có lẽ mẹ tôi phải giữ cương vị của mình. Chính đứa con phải nhắc mẹ nó những điều đã hứa hẹn.
“Mẹ ơi, thế đồng hai hào của con đâu?”
Mẹ tôi không trả lời ngay; nhưng bỗng tới gần tôi, giọng khác hẳn cái giọng láu cá dễ thương khi phô quả trứng to lem luốc:
“Jắc, con cho mẹ nợ nhé?...”
Trong giọng nói, có tất cả tư thế của một người thua cuộc chịu chấp nhận trước số phận của mình, nhưng xin người thắng cuộc một ơn huệ. Mẹ tôi không bảo vệ túi tiền của mình, túi tiền đây kia! - Đồng hai hào để trên bàn - nhưng mẹ tôi xin khất.
Vậng, mẹ ạ, con cho mẹ nợ. Ờ! Mẹ cứ giữ lấy, cứ giữ lấy hai hào ấy, hoặc để bù vào một chỗ hổng, hoặc đem nó đặt vào một công việc kinh doanh cho con, - và không nói cho con biết, lại làm ra vẻ xin tha lỗi, mẹ đem gộp vốn của con vào vốn của mẹ, mẹ cho con tham dự vào công việc kinh doanh, cho con trở thành người chung vốn với gia đình! Cảm ơn mẹ!
Thế là mẹ tôi, mẹ tôi rất thạo việc kinh doanh, mẹ tôi biết cách làm cho đồng tiền sinh lợi; vì mẹ tôi đã kể cho tôi nghe nhiều lần là hồi lên bốn tuổi mẹ tôi có thể kiếm sống được rồi.
Bắt đầu mẹ tôi mua một con chim bồ câu với bảy xu người ta đã cho mẹ tôi, vì mẹ tôi chăn ngỗng hộ. Mẹ tôi vỗ con bồ câu thật béo, đem bán lại để mua một con cừu non mới đẻ.
Rồi mẹ tôi bán con cừu non ấy đi, và tậu một con bê cũng chạc tuổi ấy.
Hễ trong một chuồng ngựa, một chuồng bò hay một cũi chó nào, có một con vật tới kỳ sinh nở, là người ta thấy mẹ tôi tức tốc chạy tới chờ đợi, tò mò trước hiện tượng thiên nhiên, với số tiền sẵn sàng để trả ngay, tiền kề tận miệng.
Tôi thì tôi không có tài như mẹ tôi! Nếu có ba xu, tôi sẽ phá tan ngay, tôi sẽ không nghĩ tới chuyện mua thỏ con đang còn ấp vú mẹ để kiếm tiền mua một con bê vừa mới đẻ.
Một lần tôi đã tưởng là tôi sắp có bốn hào mà không phải để cho người sẽ đi lính thay tôi, mà là để cho ngựa gỗ. Vẫn là chuyện phải nhất lớp hai ba lần, trước cuộc vũ hội của ông hiệu trưởng tổ chức.
Một lần nữa tôi lại giật giải.
Lần này tôi ra điều kiện hẳn hoi. Tôi hỏi: “Tiền ấy sẽ là của con chứ? Con sẽ giữ”. Tôi đã chỉ ra rằng tôi không muốn gộp số tiền đó vào số tiền tôi đã có trong việc kinh doanh. Người ta bỏ năm phơrăng vào một việc kinh doanh, không bỏ đến bảy.
- Con sẽ giữ số tiền ấy?
- Con sẽ giữ.
Mẹ tôi đã không quên lời hứa, trao cho tôi bốn hào; tôi cất kỹ tiền ấy vào ví; nhưng khi tôi nói đến chuyện ngựa gỗ, mẹ tôi liền nhắc lại giao kèo:
“Mày đã nói với mẹ là mày giữ số tiền đó kia mà!”
Và mẹ tôi nói thêm là, nếu tôi tính chuyện đổi đồng hào đi, tôi sẽ biết tay mẹ tôi. Thấy tôi phản đối, mẹ tôi bảo:
“Bây giờ mày lại đâm ra nói dối; mày chỉ còn thiếu cái nước ấy thôi, con ạ!”
Tôi không thể cãi được, tôi bị chính tôi đè chết đi. Tôi đã tự sát bằng chính cái lưỡi của tôi.
Tôi đến nước phải đeo đẳng món tiền bốn hào đó như tấm bảng của người mù.
Tối nào mẹ tôi cũng đòi xem tiền.
Một hôm, tôi không thể đưa tiền cho mẹ tôi xem được!...
Tôi đã tới quảng trường Marăngô, vào một hiệu bách hóa bán các thứ hàng giá đồng loạt mười ba xu, cái gì cũng mười ba xu!
Tôi mua một bộ dây đeo quần có móc, mầu hồng dịu!
Vừa phạm lỗi ấy xong, tôi hiểu ra ngay tầm nghiêm trọng của nó. Đồng tiền đã bị sứt mẻ: tôi mua mất mười ba xu. Chỉ còn lại hai mươi bảy xu! Mẹ tôi sẽ nói sao? - Đã chót thì chét, tôi tự nhủ là phải đi tới cùng.
Cứ chơi cho thỏa... - rồi muốn ra sao thì ra!
Thoạt đầu tôi đi sâu vào một lối đi để cởi áo cài dây đeo quần. Sau một vài cố gắng vô ích, luôn luôn bị phá đám, bị nhiều người ngạc nhiên và lườm lườm nhìn tôi vì thấy tôi cởi trần ở ngay ngưỡng cửa nhà họ, tôi nghĩ ra rằng khôn ngoan hơn, tuy có phần kém lịch sự, là tìm một chỗ khuất, chỗ đầu tiên nào tôi thấy.
Tôi còn hai mươi bảy xu, bằng tiền xu, - chưa bao giờ tôi có một món tiền to như vậy trong tay. Số tiền làm phồng và rách cả túi. - Bục một cái, những đồng xu lăn xuống đất, - lăn cả vào những chỗ khác nữa!
Thật là kinh khủng.
Tôi chỉ tìm thấy một phơrăng hai xu. Tôi hốt hoảng...
Tôi đi đến một trong những quầy trò chơi dựng ở quảng trường Marăngô.
“Một xu bắn ba phát! Trúng được một con thỏ.”
Tôi cầm khẩu súng đưa lên vai và bắn... Tôi nhắm mắt lại mà bắn, như một ông chủ nhà băng tự tử.
“Nó được con thỏ rồi!”
Tiếng reo ầm lên, đám đông nhìn tôi, người ta ngỡ tôi là người Thụy-sĩ; có người bảo là ở nước ấy, trẻ con lên ba đã học bắn, và tới mười tuổi, có những đứa bắn vỡ tan hạt dẻ để cách xa hai chục bước.
“Phải trả nó con thỏ!”
Quả là lão chủ có vẻ lần chần thật, nhưng đông người kéo tới, xấn vào và định đem lão ta ra hầm rượu vang nếu lão không trả tôi con thỏ hiện đang gậm cỏ ở kia.
Tôi được con thỏ, được con thỏ! Tôi xách tai nó đem đi.
Người xúm lại mới đông chứ! Con thỏ rãy rụa kinh khủng. Không khéo tôi đánh tuột nó mất.
Cũng như trong mọi cuộc đấu tranh, bên nào cũng có người ủng hộ mình. Người thì đứng về phe con thỏ, người thì bênh thằng bé Thụy-sĩ - thằng bé Thụy-sĩ là tôi - và tôi cảm thấy tất cả trách nhiệm đè nặng trên đầu. Thỉnh thoảng con vật lại rẫy một cái làm những người về phe tôi hoảng sợ. Tôi muốn đổi tay, thỉnh thoảng lại xách nó đàng đuôi. Nhưng trước đám đông đó, tôi không dám làm thế.
Tôi không có can đảm để quay đầu lại, nhưng tôi đoán là số người nhập bọn đã tăng lên.
Mọi người đi đều bước.
Tôi đi đầu, cách đoàn người vài bước, lừng lững một mình như một nhà tiên tri, hay một kẻ đầu tiên...
Dọc đường, người ta hỏi nhau bọn tôi muốn gì, có phải một tư tưởng tôn giáo hay một tư tưởng xã hội nào thúc đẩy tôi không.
Nếu tư tưởng đó thiết thực thì để xem sao; - nhưng tôi hãy quẳng con thỏ đấy! - Có phải đó là một lá cờ không? Nếu thế thì phải nói ra chứ.
Các ngón tay tôi xiết chặt, tai thỏ cơ hồ sắp đứt nằm lại trong tay tôi. Con thỏ vận hết sức rẫy...
Nó tuột khỏi tay tôi! Nhưng nó loạng choạng rơi vào trong quần tôi - một chiếc quần của thầy tôi, sửa lại một cách vụng về, rộng đũng, hẹp ống - Con thỏ nằm trong đó.
Người ta lo lắng, người ta hỏi...
Quần chúng không thích ai lỡm họ. Không thể giấu biến lá cờ của mình đi như thế được!
- Bỏ-thỏ-ra! Bỏ-thỏ-ra! - họ cứ nhịp ba kêu lên.
Nhiều người thò đầu ra cửa sổ; những kẻ tò mò kéo đến.
Con thỏ vẫn nằm giữa thịt và vải, tôi cảm thấy.
Ôi chao! Giá tôi trốn được! Tôi sẽ thử xem sao. Kia có một cái ngõ - tôi chuồn theo lối đó...
Người ta tìm tôi, nhưng tôi thông thạo các ngóc ngách.
Đi đâu bây giờ? - Bất đồ tôi gặp ông quản lý Lôriê. Trước kia tôi đã giúp ông vài việc vặt, tôi đã đưa thư của ông cho một bà. Tôi biết chuyện bí mật của ông. Tôi sẵn sàng đem chuyện đó ra dọa ông. - Bắt buộc ông ta phải cứu tôi! Tôi kể lại hết với ông.
“Đây, bốn hào của mày đây. Tao sẽ dẫn mày về và nói rằng chính tao đã giữ mày lại, và đưa con thỏ đây cho tao!”
Mẹ tôi tin ở lời nói dối ấy.
“Vâng, vâng, ông Lôriê ạ, cháu nó ở đàng ông thì còn ngại gì. - Ông có biết tối nay, có chuyện gì ở ngoài phố không? Người ta đồn là thợ mỏ định nổi loạn và đã phóng hỏa đốt một tu viện.”
Hôm sau.
“Ăn đi Jắc, ăn đi chứ! Bây giờ mày không thích thịt thỏ nữa à?”
Sáng nay, mẹ tôi mua được một con thỏ giá rẻ vì nó gần chết bẹp, và người ta thấy trong răng nó những mảnh áo sơ-mi.
Không biết da thỏ đâu?...
Tôi xuống bếp.
Đúng là nó!...
Chú thích:
[28) Que (tiếng Pháp): mà (đại từ).
[29] Nhà thơ Pháp (1762 - 1794). Câu này ám chỉ đến cử chỉ của Sêniê khi bị đưa đến pháp trường xử tử, Sêniê đã vỗ lên trán mà nói rằng: “Ta tuy vậy vẫn có một cái gì trong này!”