Chú Bé

Lượt đọc: 1403 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
- XVII -
kỷ niệm

Ông quản lý Lôriê (Laurier), đi qua một trường trung học loại nhất ở miền Tây, nghe nói có một ghế còn trống ở Năng-tơ (Nantes). Ghế giáo sư văn phạm chưa có ai. Ông cầy cục vận động cho thầy tôi được chỗ đó.

Lệnh bổ nhiệm đã tới.

Gia đình tôi sắp rời khỏi Xanh-Êchiên (Saint-Étienn). Tôi vừa xếp xong các quyển vở học thi thạc sĩ của thầy tôi: nào vở dịch tiếng Hy-lạp, nào vở dịch tiếng La-tinh; hàng đống.

Thầy mẹ tôi đi chào những người quen.

Thầy mẹ tôi ra phố, tôi thấy hai người xuống phố mà không nói gì với nhau cả.

Theo bản năng, tới gần đường Klêbe (Kléber), thầy mẹ tôi sẽ sang bên trái, để tránh ngôi nhà của bà Brinhôlanh (Brignolin)...

Tôi đưa mắt nhìn dọc theo cái phố ấy, một đàng đi về trường học, một đàng ra quảng trường Marăngô (Marengo); nó gợi cho tôi nhớ lại những niềm vui, những nỗi buồn, những giờ chán nản dài dằng dặc và những phút sung sướng.

Ôi chao! bây giờ tôi đã lớn; tôi không còn là đứa bé hết sức sợ sệt và hết sức giản dị từ tỉnh Puy tới nữa. Dạo ấy tôi mới chỉ đọc có quyển giáo lý và còn tin là có ma; tôi chỉ sợ những cái gì tôi không trông thấy, sợ Chúa, sợ quỷ; nhưng bây giờ tôi lại sợ những cái gì tôi trông thấy; sợ những thầy giáo ác, những bà mẹ ghen tuông, và những ông bố tuyệt vọng. Tôi đã lấy những ngón tay đầy mực mà sờ vào cuộc đời. Tôi đã từng khóc vì những trận đòn bất công và cười những hành động ngu ngốc và những lời nói dối của người lớn.

Tôi không còn ngây thơ như xưa nữa. Tôi nghi ngờ lòng tốt của trời và các giới luật của Nhà thờ. Tôi biết là các bà mẹ thường hay hứa hẹn và không phải bao giờ cũng giữ lời hứa.

Lúc nay, đi tha thẩn trong căn nhà đồ đạc để lủng củng như những cảnh trang trí của một tấn kịch mà người ta đang dỡ xuống, tôi trông thấy những mảnh vỡ của cái ống tiền mà mẹ tôi đã bỏ tiền vào để mua cho tôi một người đi lính thay, vừa rồi mẹ tôi mới đập ra.

Phải chăng sự im lặng, sự tác động của nỗi buồn bao giờ cũng xâm chiếm tâm hồn tôi sau này mỗi khi rời khỏi một nơi tôi đã sống, dù là một xó nhà tù?

Phải chăng vì cái mùi bốc lên từ tất cả những đồ vật chất đống đó? Tôi không rõ, nhưng tất cả những kỷ niệm của tôi ùn ùn kéo tới vào lúc sắp lên đường.

Đây, trong góc này, một mẩu băng xanh.

Đây là dải băng của cô Marian, em họ tôi. Người ta gọi cô từ Farâyron ra, lấy cớ là cô sinh ra đã có vẻ bà lớn, và nếu cô ở ít lâu với gia đình tôi thì thế nào cô cũng sẽ có được cái lớp sơn và cái dáng điệu mà người ta tiếp thu được trong sự giao du với những người có học thức và có ý vị.

Cô em họ Marian (Marianne) tội nghiệp!

Người ta biến cô thành một đứa ở gái, cũng bị hành hạ hệt như tôi, - trừ những trận đòn.

Chúng tôi cùng làm trong bếp - tôi làm cái chủ yếu - đàn ông thì việc gì cũng phải biết làm. Tôi cọ trôn xoong, cô đánh bóng bên trong. Đĩa thì tôi cọ mặt trên, cô lau mặt dưới: đó là mệnh lệnh. Mẹ tôi đã cả quyết rằng chỗ bẩn của xoong nồi là ở mặt dưới; chỗ bẩn của đĩa là ở mặt trên. Vì thế cho nên tôi làm cái chủ yếu.

Người ta còn bắt cô cứ đội nguyên chiếc mũ trùm nhỏ kiểu thôn quê. Cô hãnh diện với chiếc mũ đó ở Farâyron và biết là bọn con trai thường khen cô đội mũ đẹp. Nhưng cô cảm thấy ở Xanh-Ếchiên, cái đó trở thành trò cười. Người ta ngoảnh mặt đi, người ta tò mò nhìn cô.

Mẹ cô liền nói:

“Ấy vì tôi yêu nó như con trai tôi đẻ, các bà ạ! Tôi đối xử không phân biệt giữa hai đứa”. Và mẹ tôi nói thêm: “Thằng Jắc có thể phải ghen tức nữa kia.”

Phải, tôi tức mình, và tôi muốn phải có phân biệt, người ta làm khổ tôi là quá đủ rồi, đừng làm khổ cả cô ta nữa.

Chính ông Lôriê cũng nhận xét rằng ở tỉnh đội mũ như thế không hợp. Mẹ tôi đáp:

“Thế ông ngỡ tôi xấu hổ về nguồn gốc của tôi à? Ông muốn tôi phải hổ thẹn về các em gái tôi và không dám ra phố với cháu gái vì nó đội chiếc mũ quê mùa à?... A ha! Ông không biết tính tôi đấy, ông Lôriê ạ!”

Tuy nhiên, một hôm, mẹ tôi nghĩ là đã khuất phục được đứa cháu gái rồi, và cũng đã chứng minh khá rõ là mình không hổ thẹn về nguồn gốc của mình; mẹ tôi bèn bỏ chiếc mũ kia đi; nhưng mẹ tôi ấn định một chiếc mũ khác, và tự tay may một chiếc áo.

“Cháu không bao giờ ăn vận như thế này để ra phố đâu, - cô Marian nói, hôm người ta thử mũ áo cho cô.

- Mày nói vậy có nghĩa là bảo bác mày không sành, bác mày là một con vật, không biết cách ăn mặc thế nào, mó vào cái gì là làm nhớp cái ấy. À! Tao mà làm nhớp à?...

- Thưa bác, cháu có nói thế đâu.

- Lại còn giả dối nữa chứ! Được, mày cứ đi lu loa khắp nơi là tao làm nhớp áo các cháu gái. Có lẽ mày còn bảo là tao để cho chúng mày chết đói nữa đấy!”

Nghỉ một lát.

Đột nhiên quay sang phía tôi, giọng đúng là giọng của máu mủ ruột tịt, không còn là của bà bác nữa, mà là của người mẹ.

“Jắc, - mẹ tôi nói, - con trai của mẹ, tới hôn mẹ đi...”

Biết bao yêu thương, trìu mến tràn ra, đột ngột với trái tim kia bồng bột trong lòng đã từng ôm ấp tôi, tất cả những cái đó làm tôi rất bối rối và tôi bước tới như đi trên keo.

“Mày không đến hôn mẹ mày à!”- mẹ tôi kêu lên, bực mình vì sự chậm trễ, hai tay giơ lên trời.

Tôi bước vội tới, - mẹ tôi nắm tóc tôi kéo lại gần, và hôn tôi một cái hôn có lò xo, làm tôi bật vào tường, sọ đập vào một chiếc đinh!

Ôi chao! Những người mẹ ấy! Khi họ nổi cơn âu yếm! Không sao, cái đinh chỉ làm tôi bị một vết tím bầm.

Những bà mẹ mà người ta tưởng là ác ấy, đột nhiên cảm thấy cần hôn con!

Chao cái đòn! Dù sao tôi cũng thấy đau! Và tôi lấy tay xoa óc.

“Jắc, muốn sống đừng có gãi như thế nữa! Chà! Mày biết không, tao đã xem trôn chiếc nồi to; mày gọi thế là cọ nồi à con, mày lầm rồi! Tao đánh cuộc là hai hôm nay chưa ai mó đến nó!

- Mới sáng nay thôi, mẹ!

- Sáng nay! Mày dám nói thế!...

- Đúng thế mẹ ạ,

- Thôi được, thế là tao sai, là mẹ mày đặt điều nói điêu cho mày.

- Không, mẹ ạ.

- Lại đây tao cho mày cái tát!”

Marian yêu quý, từ hôm ấy, cô rất khổ. Cô viết thư cho người mẹ rất yêu cô, xin với mẹ cho cô trở về làng ngay.

Nhưng nhận được bức thư từ Farâyron tới, mẹ tôi trả lời:

“Dì cho con gái của dì là phải, tôi sai à? Dì cho người chị của dì là đứa nói điêu à? Dì có tin như lời nó nói, là tôi làm nhớp! Dì có tin không?... - Nếu dì tin, - thì thôi được!”

Chính tôi đã đánh các dấu phẩy và chữa chính tả.

Người ta không dám kéo Marian về ngay, và cô còn phải ở lại một tháng nữa.

Trong tháng ấy cô rất khổ, nhưng tôi, tôi mới vui sướng làm sao!

Cô có bộ tóc vàng, đôi mắt to xanh biếc lúc nào cũng ướt, hơi lành lạnh, như thể tắm trong nước. Tóc cô gần như màu sợi gai, và má lấm tấm tàn nhang; nhưng da cổ trắng mềm và mịn như sữa đông.

Lâu lắm về sau tôi mới gặp lại cô, ở tít trong một tu viện, qua một hàng chấn song sắt: cô đã đi tu.

“Nếu tôi ở Xanh-Êchiên lâu hơn nữa, - cô nói thì thào, mắt nhìn xuống, - có lẽ tôi sẽ không bao giờ đến đây.

- Cô có thấy tiếc không?”

Cô rời xa ô cửa nhỏ bộ mặt xanh xao đóng khung trong chiếc mũ trắng to của các bà xơ Từ thiện và không trả lời, nhưng tôi ngỡ như thoáng thấy hai giọt lệ từ đôi mắt trong trẻo của cô rơi xuống và hình như tôi nhận thấy một cử chỉ hối tiếc và âu yếm...

Cô biến mất trong cái im ắng của đường hành lang câm lặng có treo tượng Đức Chúa bằng ngà vấy máu.

Đây là cái bàn học đen tôi thường ngồi, nó mới cao làm sao; tôi phải kê sách lên ghế.

Ở đây tôi đã qua những buổi tối chủ nhật buồn bã và ảm đạm biết mấy và những buổi sáng chủ nhật thảm hại biết mấy, khi người ta bắt tôi phải làm mười câu thơ hoặc học ba trang trước khi được vận sơ-mi trắng và quần áo đẹp!

Thầy tôi thường cộc đầu tôi vào góc bàn, những khi tôi nhìn trời qua cửa sổ chứ không nhìn vào sách. Tôi không nghe thấy thầy tôi đến, vì tôi đắm mình trong mơ mộng, và thầy tôi vừa mắng tôi “đồ lười”, vừa cọ mũi tôi vào bàn.

Cái mũi nhạy cảm thật! Người ta không biết nó nhạy cảm đến mức nào.

Một hôm, tôi vạch dao vào mặt bàn học. Vì thế tôi còn giữ một vết sẹo trên mặt, do chiếc thước kẻ thầy tôi vụt để trừng phạt tôi.

Kia là chiếc thúng rách đựng đầy bát đĩa cũ!

Con Miếcza nằm ngủ trong cái đó, nó là con chó cái nhỏ mà ông tổng giám thị cũ đã bị phạt đổi đi nơi khác đã cho gia đình tôi để nuôi. Ông ta không có tiền để đem chó đi theo; hơn nữa ông không biết trong cái hố người ta định chôn vùi ông, liệu ông có kiếm đủ bánh để nuôi vợ con không.

Miếcza đẻ thì chết, và người ta gọi tôi là thằng ngu, thằng gà tồ, lúc tôi khóc nức nở trước con vật nhỏ đã chết, mà không dám sờ vào xác nó đã lạnh và đưa thúng xuống nhà dưới như một chiếc áo quan!

Tôi đã xin để cho đến tối sẽ đem nó đi chôn. Một thằng bạn đã hứa cho tôi chôn ở góc vườn nhà nó.

Tôi đã phải cầm lấy xác nó đem đi trước mặt mẹ tôi đang cười nhạo tôi. Bị thầy tôi đẩy, tôi suýt ngã lăn xuống cầu thang, với con chó. Xuống tới nhà dưới, tôi quay mặt đi để đổ chiếc thúng lên đống rác trước cửa ngôi nhà khốn kiếp ấy. Tôi nghe thấy xác con chó rơi bịch một cái, và tôi vừa bỏ chạy vừa kêu lên:

“Có thể đem chôn nó được kia mà!” Đấy là một ý nghỉ trẻ thơ; muốn con chó không bị nhát xẻng của người phu hót rác chặt vào đầu, hoặc bị lòi ruột dưới xe cam-nhông! Mãi về sau, tôi vẫn cứ trông thấy nó như thế, bị chặt đầu và lòi ruột, mà không có một chỗ con con dưới đất, ở đó tôi sẽ biết rằng có một sinh mạng đã yêu tôi, đã liếm tay tôi, khi bị sưng vù và tím bầm, và bằng con mắt tưởng như ứa lệ nó nhìn cậu chủ nhỏ của nó đang lau nước mắt của mình.

« Lùi
Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của jules vallès