Chú Bé

Lượt đọc: 1405 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
- XVIII -
ra đi

Vui biết mấy được lên đường, đi xa!

Hơn nữa, Năngtơ (Nantes), tức là biển! - Tôi sẽ được thấy những con tàu lớn, những sĩ quan hải quân, chòi canh, những người đứng gác, tôi sẽ có thể được ngắm bão táp!

Tôi đã mường tượng trông thấy ngọn đèn biển, có con mắt đỏ như máu nhấp nháy, và nghe thấy súng đại bác cấp cứu ném ra tiếng thở dài của đồng thau trong những trận đắm tàu tuyệt vọng.

Tôi đã đọc trong cuốn Hải quân Pháp, những chuyện thủy chiến, những chuyện đi bè, săn cá voi, và, do tai họa của Viđanjăng (Vidalja), không thể trở thành thủy thủ được, tôi lao mình vào những cuốn sách trong đó những chim của biển cả bay như lốc cuốn.

Tôi đã làm văn tường thuật nhiều cuộc thảm họa tưởng như tôi là một trong những nhân vật của câu chuyện nào đó và tôi còn ngờ rằng những câu tôi vừa viết đây là nhớ lại trong những sách tôi đã đọc, hoặc những bài văn tôi đã thảo ra trong cảnh im lặng của buồng phạt giam.

Những vụ đắm tàu tuyệt vọng, những tiếng thở dài của đồng thau, cơn lốc chim biển; tôi thấy có lẽ đúng là của Fuyngiăngxơ Gira, nhà văn bão táp ưa thích của tôi. Tôi nhắc lại những chữ đao to búa lớn ấy, như con vẹt xích ở cột buồm cái, nhưng trong thâm tâm tôi, có niềm hy vọng của người tù khổ sai chèo thuyền, nghĩ rằng lần này có thể trốn thoát.

Ở Năngtơ, tôi có thể trốn khi nào tôi muốn.

Trước mặt biển cả! Chỉ việc trườn một cái là ra tới Đại dương.

Tôi không còn là vật sở hữu của thầy tôi nữa; tôi sẽ núp trong hầm tầu để thuốc súng, tôi sẽ chui vào nòng đại bác, và lúc người ta thấy tôi mất tích thì tôi đã ở ngoài khơi rồi.

Viên thuyền trưởng tha hồ mà chửi rủa - nghìn tiếng chửi của thủy thủ! - lúc thấy tôi từ chỗ núp chui ra và xin tập sựnghề, nhưng không thể ném tôi xuống biển được; tôi gia nhập đoàn thủy thủ!

Trong khi chờ đợi cuộc trốn bằng đường nước mặn, chuyến đi hiện tại cũng đã đầy thi vị.

Chúng tôi thoạt đầu đi xe ngựa, - kiểu xe có cả chỗ ngồi trên nóc, - rồi ra ga!

Đầu máy khụt khịt như con lừa, hoặc rống lên như bò, mũi phì ra lửa. Những tiếng còi rúc như xé tâm hồn!

OÓCLÊĂNG (Orléans)

 

Đêm, chúng tôi tới Oóclêăng.

Hòm xiểng để lại ga.

Nhưng có những thứ phải người đâu của đấy, mẹ tôi nói vậy. Và mẹ tôi giữ lấy rất nhiều thứ; người ta chất đống lên tôi, nom tôi như một cửa hàng thúng mủng, và tôi đi rất khó khăn.

Luôn có một cái hộp gì đó rớt xuống rồi người ta nhặt lên dưới ánh trăng.

Người ta không quyết định gì cả: đêm khuya và im lặng bao la đưa người ta vào một trạng thái tĩnh tâm rất mệt đối với tôi vì phải vác tất cả trên lưng.

Ở ngoài ga, rõ ràng có những phu trạm và bồi khách sạn muốn dẫn chúng tôi tới khách sạn Sư tử-Vàng, Ngựa-Trắng, Gà trống táo tợn (Coq-Hardi) . - “Chỉ cách đây mấy bước thôi, ông ạ! - Có xe chở khách của khách sạn đây!”

Vào khách sạn, nhà Ngựa-Trắng (Cheval-Blanc) , Sư tử-Vàng, (Lion-d’Or) nghe vậy tim tôi đập dồn vì xúc động; nhưng thầy mẹ tôi không phải là những kẻ điên rồ, bạ ai cũng nghe và đi theo một người lạ mặt trong một thành phố không quen biết.

Mẹ tôi vốn biết xét đoán người, mẹ tôi muốn tìm một bộ mặt nào trông hợp ý mình, và mẹ tôi chạy quanh, kéo thầy tôi theo như một người mù, mắt nhìn vu vơ và miệng hỏi những lời lạc đi trong bóng tối và tiếng ồn ào.

Mẹ tôi chu đáo đến nỗi, tới một lúc, chỉ còn trơ lại chúng tôi như một lũ mồ côi.

Người ta tắt đèn. - Chỉ còn lại một ngọn đèn dầu trước cổng lớn, như đèn chong đêm; thế là, chúng tôi đi lang thang, câm lặng và vô hy vọng, trên một quảng trường mà chúng tôi đã lết tới, mẹ tôi trách thầy tôi:“Lỗi tại ông”; thầy tôi đáp:“Thế thì quá lắm; chẳng phải là tại bà à!

- Hà! ra thế!”

Chúng tôi gọi những người đi một mình qua đấy; chúng tôi ngỡ trông thấy cả một chiếc kiệu nữa, nhưng tiếng gọi của chúng tôi mất tăm trong không gian.

Đang tuần trăng tròn - tất cả những đêm đáng ghi nhớ của tôi từ trước đến nay đều có vầng trăng làm chứng.

Ánh trăng ngập sáng quảng trường, và bóng chúng tôi in vệt trong khoảng không. Trông cũng lạ.

Nom tôi lù lù với các thứ chồng chất kỳ quái trên người, và khi thầy tôi hoặc mẹ tôi chạy theo nhặt một bọc đồ rơi, bóng hai người dài ra và va nhau trên mặt đường. - Cái mũi của thầy tôi, kìa!

Tôi không thể cười được; - tôi mà cười là sẽ đánh rơi thêm một thứ gì; - vả lại tôi cũng không có hứng cười lắm.

“Có ai đằng kia kìa!”

Tôi quay lại như một chị nông dân đang xách thúng, như người làm trò tung hứng chờ bắt quả cầu; đầu tôi thụt xuống ngực, hai tay như muốn lìa khỏi vai; trông tôi như một ống kính viễn vọng đóng lại.

“Có ai!

- Một người đàn bà! Đúng là một người đàn bà!

- Bà ta đứng trên cái gì đấy?

- Trên cái gì à?

- Phải trên cái gì! - (giọng mẹ tôi chua, rất chua)

- Bà làm ơi, bà ơi!”

Chẳng thấy gì động đậy ngoài những bọc đồ trên lưng tôi suýt đổ ụp xuống.

.......

“Này, chúng ta lầm tuốt...”

Giọng thầy tôi nói có cái vẻ thành kính, giọng trầm trầm tưởng như ướt nước mắt.

“Lầm tuốt!” thầy tôi nhắc lại, giọng hết sức chân thành hối hận.

“Ở trước mặt ta, không phải là một người đàn ông cũng không phải là một người đàn bà, đó là CÔ TRINH NỮ THÀNH OÓCLÊĂNG”[39]

Thầy tôi ngừng một lát:

“Jắc, đấy là Cô trinh nữ!”

Tôi đã nghe nói về cô trong lớp học: cô trinh nữ ở Đôngrêmy, cô gái chăn cừu ở Vôculơ!

“Cô trinh nữ đấy, Jắc ạ”

Tôi cảm thấy là mình cần phải xúc động, nhưng tôi không thấy xúc động. Với lại tôi phải mang nhiều thúng quá!

Mẹ tôi giữ một vai trò bạc bẽo trong gia đình; mẹ tôi muốn làm một người mẹ gia đình như trong Kinh thánh, nhưng mẹ tôi mới chỉ có thì giờ để roi vọt đứa con và may áo kiểu Ba-lan cho nó, mẹ tôi biết danh tiếng của Jan Đa, nhưng lại không biết cái tên trong trắng mà Lịch sử tặng cho bà.

“Ông còn ăn nói bẩn thỉu với thằng bé đến bao giờ!”

Mẹ tôi rụng rời chân tay khi thấy thầy tôi nói với tôi những lời đáng ra không nên nói, trong lúc tôi đang vác hành lý vào hai giờ đêm, trong một thị xã tỉnh nhỏ không quen biết...

“Đấy là Jan Đa (Jeanne d’Ar) , - người bố bị kết tội nói nhảm trước mặt con ấy nhắc lại, - người con gái đã cứu nước Pháp!...

- Phải, mẹ tôi lơ đãng đáp, và có vẻ hài lòng nói thêm: ta có thể đến ngồi dựa lưng vào đó.”

Chúng tôi đã qua đêm ở đấy, - kể ra cũng hơi cứng nhưng được cái chỗ tựa lưng.

Một viên cảnh sát trông thấy chúng tôi liền bước tới.

Viên cảnh sát ngỡ chúng tôi là một gia đình cuồng tín đi hành hương, tới đây thì kiệt sức - nhưng hành lý sao mà lắm thế, - lả bên chân vị nữ thánh của mình, hắn không gắt gỏng, nhưng bảo chúng tôi phải đi chỗ khác. Hắn sẵn lòng dẫn chúng tôi tới một quán ăn do chính anh rể hắn mở, ở cuối phố gần chợ.

“Mình có đói không? dọc đường thầy tôi hỏi mẹ tôi.

- Việc gì mà tôi đói?”

Phải nói là tối hôm qua, thầy tôi đã bàn là nên ăn tối ở quầy ga Viếczông, sợ rằng nếu không phòng xa sẽ phải ăn rất muộn. Mẹ tôi đã phản đối, và bây giờ mẹ tôi không ưng người ta ra vẻ oán trách quyết định của mình mà hỏi có đói không.

Thầy tôi không hé răng nói gì nữa, - viên cảnh sát đưa mắt kinh hãi nhìn mẹ tôi.

Chúng tôi vào quán ăn.

Quán hàng đang thức dậy; một gã coi ngựa xác đèn lồng đi quanh, người ta đóng xe cho một bác nông dân. Viên cảnh sát đập tay vào vách gọi anh rể.

Một tiếng làu nhàu.

“Sắp ra đây, sắp ra đây!”

Qua kẽ vách thấy có ánh sáng thoáng qua và nghe tiếng người vừa mặc quần áo vừa ngáp, dây đeo quần bật tanh tách, và giầy kéo lê.

“Những người này muốn ngủ trọ, và có gì ăn qua quít”.

Có gì ăn qua quít, hắn quay mặt về phía thầy tôi mà nói. Hắn còn nhớ câu: “Việc gì mà tôi đói?” của mẹ tôi.

Nhưng mẹ tôi can thiệp.

“Chỉ ngủ thôi, mẹ tôi nói; lúc nào dậy chúng tôi sẽ ăn sau.

- Tùy ý bà”, chủ quán nói; bán thức ăn buổi sáng hoặc ban đêm y cũng bất cần, mà y còn ưng hễ khách đi ngủ, thì y cũng sẽ ngủ lại.

Tôi nghe thấy bụng thầy tôi rền như sấm dưới một vòm nhà; bụng tôi cũng réo lên; - một cuộc thi đua sôi bụng, ngay mẹ tôi cũng không ngăn nổi những tiếng ọc ọc và tiếng ngáp; nhưng mẹ tôi đã nói ở ga là không ăn tối và đến mai mới ăn. M-ai m-ới ă-n.

Tuy vậy mẹ tôi cũng bảo thầy tôi:

“Ông muốn ăn, thì cứ ăn!”

Thầy tôi chỉ lắc đầu; thầy tôi há miệng ngáp dài, và lẩm bẩm:

“Không, không, ngày mai.”

Thầy tôi hiểu như thế có nghĩa là gì!

Nghĩa là: tôi không muốn ông ăn một mẩu bánh, gặm một miếng củ cải đỏ, đụng một miếng dồi, ngửi một miếng phó-mát!

Thầy tôi đi nằm; mẹ tôi đi theo. Người ta giải ổ rơm cho tôi trong một xó.

Tôi mệt rũ người và ngủ thiếp ngay; thầy mẹ tôi cũng vậy.

Nhưng cả ba chúng tôi lát lát lại tỉnh dậy, vì tiếng ọc ọc trong bụng.

Mẹ tôi cũng dự vào cuộc hòa tấu như mọi người. - nhưng mẹ tôi nhất định không nhượng bộ. - Mẹ tôi là một người đàn bà rắn đầu. Chà! Quả là tôi kính phục mẹ tôi! Có nghị lực làm sao! Thật khác xa tôi! Tôi mà đói, tôi sẽ bảo là đói, và tôi sẽ chén ngay… nếu có gì để chén.

Tư chất tầm thường, đồ gà rù, đồ đẻ non!

Mày hãy nhìn xem, để muốn trung thành với lời nói, để giữ lời, mẹ mày thắt bụng lại qua đêm, đợi đến sáng mai mới ăn. Mẹ mày sẽ còn làm bộ ăn lấy lệ, chẳng ngon lành gì, rồi mày xem. - Mẹ mày là một người phụ nữ La-mã, Jắc ạ! Mày không phải là nòi giống của mẹ mày, - nhất là ở cái mũi, mũi mày to mà hếch.

Chúng tôi ăn sáng, - mẹ tôi ăn nhỏ nhẻ: nhưng tôi đã trông thấy mẹ tôi ăn ngấu nghiến, trong một xó, một miếng gan bê mà mẹ tôi đã hỏi lấy ở dưới bếp và người ta đã nhét vào bánh cho mẹ tôi; - mẹ tôi ngoạm miếng bánh!

Thầy tôi ăn no đến vỡ bụng, - no tím cả hai tai.

Đêm qua thầy tôi không ho he gì, vì đã bị trói tay: lúc ra đi, thầy tôi đã phạm một dại lớn. Thầy tôi đã giao hết cả tiền cho mẹ tôi.

Mẹ tôi đã nói, vờ như không:

“Túi tôi to hơn túi ông, để tiền chắc hơn; dọc đường tôi sẽ trang trải mọi chi tiêu”.

Thầy tôi không lường được ngay tầm tai họa của mình, mức nghiêm trọng của sai lầm, nhưng ở chặng nghỉ đầu, thầy tôi đã cảm thấy vết thương. Thầy tôi không còn gì nữa, không còn lấy một đồng phơrăng, không còn lấy một đồng hai xu. Thầy tôi đã dốc hết tiền lẻ vào tay những người cần phải cho tiền diêm thuốc, người bốc vác hay phu trạm, thậm chí tiền uống một cối nước dâu cũng không có.

Thầy tôi khát chết được.

“Bà đưa tiền cho tôi.

- Ông cần tiền à? …

- Ừ, Jắc nó khát…”

Mẹ tôi quay sang tôi.

“Mày khát à?”

Quả thật tôi rất muốn bênh thầy tôi, khi có thể; nhưng tại sao chính thầy tôi khát, lại đi đổ cho tôi?

Tôi không trả lời câu hỏi, và mẹ tôi đưa con mắt mỉa mai lạnh lùng từ con trai sang chồng.

“Cố nhiên là nó có thể đợi được”, mẹ tôi nói, rồi lại ngồi chúi vào góc của mình, không mảy may bận tâm đến thầy tôi, như thể không có thầy tôi ở đó.

Cái cảnh hỏi lấy tiền và từ chối không xuất ấy kéo dài ba ngày.

Thầy tôi nổi cáu; - đến nỗi đã xảy ra tai tiếng, lần đầu ở ngưỡng cửa một quán ăn, lần nữa trên một toa tầu; và mẹ tôi thắng thế: thầy tôi đã phải van xin.

Ấy là vì mẹ tôi can đảm và thật thà. - Mẹ tôi thường nói: “Tính tôi thật thà như đếm.”

Và, vì thật thà, mẹ tôi mới to tiếng trách móc thầy tôi, trước mặt chủ quán, trước mặt hành khách, là một người tàn nhẫn, một người chồng hư hỏng.

Mẹ tôi đem chuyện thầy tôi ra kể, bô bô gọi tên mọi người.

“Vì phải rời cái con Brinhôlanh mà ông dấm dứt đây - Chà! Chà! - Người ta muốn tọng các thứ vào để quên đi… Có lẽ ông lớn muốn lấy tiền để bỏ vợ bỏ con, trở lại với nhân ngãi của ông chăng”.

Mà thầy tôi chỉ hỏi lấy có năm đồng phơrăng khốn khổ! Chẳng phải bằng số tiền ấy!

Thầy tôi như ngồi trên đống gai, cố ngắt câu, dứt lời phá cái ảnh hưởng; nhưng mẹ tôi thật thà đến thế!

“Ông đừng hòng bịt mồm tôi lại! Ông không cần hích tay tôi, những điều tôi nói là đúng, ông thừa biết đấy… May mà có mọi người; chẳng lẽ ông lại đánh tôi trước mặt mọi người sao?...”

TRÊN TÀU THỦY

 

Xuống tàu thủy chúng tôi được thoát nạn, - mẹ tôi bị ốm, may thay.

Mẹ tôi đã nhịn ăn quá lâu, mẹ tôi nuốt gan bê quá vội, - suốt đêm mẹ tôi không chợp được mắt. - Cuối cùng mẹ tôi bị nhức đầu và ngủ thiếp.

Thầy tôi ở lại bên cạnh mẹ tôi, đủ thời gian tinh thần cần thiết để yên trí là mẹ tôi đã nằm yên, mẹ tôi đã ngủ say, và không còn sức để sấn sổ vào thầy tôi nữa.

Thầy tôi leo lên boong tàu…

NHẬN RA NHAU

 

“Săngle! (Chanlaire)

- Vanhtrax!” (Vingtras )

Săngle (Chanlaire) là một thầy giám thị cũ ở Puy, có một ông bác ở Năngtơ (Nantes), hai bên giận nhau từ hồi ông làm giám thị nhưng đã làm lành với nhau, và bây giờ ông trở về nhà ông bác sau một chuyến đi Pari vì công việc của hãng buôn.

Ông bây giờ sung sướng, kiếm ra tiền.

“Gặp nhau thật là hay quá!

- Chúng mình bù khú với nhau một bữa, - vợ cậu có cùng đi với cậu không?”

Ông hỏi câu ấy, như kiểu người ta ngỏ ý nêu lên một hy vọng, và dường như hơi cụt hứng, khi thầy tôi đáp vẻ buồn rầu:

“Ở dưới kia, - và vui vẻ hơn: ốm.

- Không sao đâu.

- Không sao, - không sao, - không sao.

- Không vì thế mà ta không mở to chai Buốcgônhơ (Bourgogne), trái lại…

Quay sang nhìn tôi:

“Thằng nhãi của cậu lớn rồi đấy? Tóc tai kìa, mắt kìa.

- Bồi”

Có những hạ sĩ quan đi nghỉ phép, và cũng gặp bạn cũ của họ.

Mặt bàn trong ca-bin đầy những chai rượu và bình bia.

Thật là vui, những tiếng cười hồ hởi đến thế, như chưa bao giờ tôi nghe thấy! Họ đánh bài, pha rượu, uống bisốp (bishofs) [40] thoang thoảng có mùi chanh.

Đó, bây giờ họ hát.

Một tay quân nhu cất tiếng hát một điệu đồn thú, mọi người hát điệp khúc!

Tôi hát theo, và giọng tôi the thé xen vào giọng trai tráng của họ: phải nói là tôi cũng đã tợp một tí chút vào cốc rượu của thầy tôi, thầy tôi gò má đỏ hồng, mắt long lanh.

Thầy tôi đã thẳng thắn kể với ông Săngle - sau chầu rượu thứ ba, - là thầy tôi ví rỗng.

Bà xã bà ấy nắm cả túi tiền!

“Cậu cầm tạm hai mươi phơrăng nhé, tới Năngtơ cậu sẽ trả tớ, hy vọng rằng sẽ còn gặp lại nhau ở đấy, ta sẽ có những chầu thú vị… À mà nói trước mặt thằng nhóc…

- Không hại gì.”

Không, thầy ạ, không hại đâu. Chà! Thầy tôi trông mới trẻ làm sao! Và tôi chưa bao giờ thấy thầy tôi cười hể hả đến như thế.

Thầy tôi nói với tôi như với một chàng trai lớn tuổi.

“Nào, Jắc, nhấp một tí!”

Rồi thầy tôi chợt có ý kiến:

“Hay ta chén cái gì đi? Những chiếc chân giò kia bảo tớ cái gì đấy, tớ muốn có vài ý kiến với chúng.”

Đấy là một ngôn ngữ táo bạo đối với một giáo sư lớp bảy, nhưng ông hiệu trưởng Xanh-Êchiên đã xa rồi, ông hiệu trưởng ở Năngtơ chưa có đây, mà những chiếc chân giò thì ngon thơm phức.

Ôi chao! Đến nay tôi vẫn còn thấy cái vị nước xốt Xanhtờ-Menêhun (sauce Sainte-Menehoul), với mùi dấm tỏi, nhắm với rượu vang trắng.

Người ta dọn một bộ thìa dĩa cho tôi, như mọi người khác, và để tôi tự lấy thức ăn, tự rót lấy rượu. Đây là lần đầu tiên tôi được thân mật với thầy tôi, và hai bố con cùng chạm cốc như đôi bạn.

Tôi chùi tay vào khăn, - mặc! - tôi kéo ghế ngồi thoải mái, - cũng mặc! - Tôi có những thói xấu, tôi phải được tự nhiên! Không ai nói gì đến khuỷu tay tôi, đến chân tôi, tôi muốn làm gì tùy ý. Thật là một khắc đồng hồ hạnh phúc khôn tả! Tôi chưa từng biết nó bao giờ, tuổi trẻ của tôi thức dậy, mẹ tôi thì ngủ.

… Tuổi trẻ của tôi tắt, mẹ tôi đã dậy!

Mẹ tôi hiện lên như một bóng ma trong ca-bin, - mẹ tôi đang ở ca-bin đàng cuối, chúng tôi ở ca-bin đàng trước, - mẹ tôi đi thẳng tới chỗ chúng tôi và, sắp sửa gây chuyện.

Nhưng quỷ quái! Tiếng ồn ào át tiếng mẹ tôi. - Bồi bàn đi đi lại lại, nhà bếp lướt qua với những đĩa thức ăn, những hạ sĩ quan lượn với những chai rượu ôm vào ngực, một lời bông phèng ném ra, một tiếng hát cất lên ầm ĩ, lộn xộn! Cơn giận dữ của mẹ tôi xịt mất.

“Mỗi mình là đàn bà ở đây”, mẹ tôi biết trước là chắc thua; hơn nữa, mẹ tôi lại trông thấy thầy tôi cầm tiền trong tay đang trả món chân giò.

“Bố con tôi có tiền đấy, thầy tôi nói, nhanh nhảu và ranh mãnh, và thầy tôi gọi to:

- Một chai, thứ vàng kia kìa.

- Tôi không khát.

- Nhưng tôi, tôi khát. - Thằng Jắc cũng khát. Con có khát không?”

Để chọi cho vui câu chuyện hôm qua, thầy tôi có ý định tinh quái nghịch ngợm, nhưng không phải độc ác, rượu vang đã làm thầy tôi trở nên hiền.

“Mời bà!”, thầy tôi vừa nói, vừa giơ một cái cốc và chai rượu ra.

Không thể nào nổi cáu được, mẹ tôi không giây vào đó và cảm thấy mình đuối. Mẹ tôi nói, giọng không đến nỗi bực bội lắm:

“Tôi lên boong. Khi nào xong, ông lên với tôi. Jắc, đi với mẹ.

- Không, nó ở lại đây với chúng tôi! Chúng tôi chơi một ván bài cẩu, để nó làm chân thứ ba.”

Làm chân thứ ba, bên cạnh những hạ sĩ quan, trên cùng một bàn; gạt các chai rượu ra để xếp bài, với những bồi bàn họ xin lỗi tôi khi đi qua chạm phải tôi! Tôi không kìm được hãnh diện, và chính là tôi, thằng bé bị đòn, bị đập, bị roi vọt, tôi đang ngồi đây, dạng hai chân, tháo bỏ ca-vát, cười to thả cửa và làm bẩn tay áo!

Ván bài cẩu đã xong.

“Jắc, lên nói với mẹ mày là chúng tao sắp lên.”

Bố con tôi đã quên khuấy mẹ tôi, một khi cái hăng của mối xúc động đầu tiên đưa đi, tôi liền cảm thấy hối hận.

Mẹ tôi chờ đón tôi bằng con mắt hằn học và một lời đe dọa; niềm hối hận của tôi bay mất. Tôi tưởng đáng lẽ mẹ tôi phải đoán được rằng lúc này tôi đang nghĩ tới mẹ tôi, rằng một tình cảm trìu mến vẫn lởn vởn trên niềm vui bồng bột của tôi, và tôi oán giận thái độ đón tiếp của mẹ tôi.

“Khi nào đến nơi, tao sẽ hỏi tội mày.”

Tội gì? Một giây lát hạnh phúc ư? Thì tôi đã làm điều gì sai trái? Tôi đã nhúng môi vào những cốc sủi bọt, trong đó tôi thấy mặt trời nhảy múa. Phải đền tội đó! - Ôi chao! Đền bao nhiêu cũng không quá đắt, và khi nào tới nơi, mẹ cứ việc đánh tôi…

Hôm này là ngày may mắn của tôi.

Một bà tới ngồi cạnh chúng tôi và bắt chuyện với mẹ tôi. Bà Vanhtrax bao giờ cũng hể hả khi có một bà ăn vận sang trọng hạ cố tới nói chuyện với mình.

Hai người nói chuyện, và những đứa trẻ thỉnh thoảng lại đến cười với mẹ chúng, rủ tôi cùng chơi với chúng.

“Jắc, ngồi nguyên đấy.

- Cứ để cho chúng chơi với nhau, bà lịch sự nói, vẻ phúc hậu.

- Bà không sợ chúng chết đuối à?”

Mẹ tôi chỉ biết nói vậy thôi, nhưng mẹ tôi hãnh diện thấy con mình được cùng chơi với con nhà giàu, và nhỡ tôi có chết đuối thì cũng mặc!

Tôi tin thật sự là mẹ tôi sợ tôi chết đuối! Mỗi lần tới gần lửa lại sợ tôi bị bỏng. Một hôm người ta thả khí cầu bay lên từ sân trường, mẹ tôi kêu: “Khéo nó lôi mày đi theo!”

Vậy ra mẹ tôi không biết rằng mỗi lần mẹ tôi thổi hoặc đập vào trí tò mò của tôi, thì những ước muốn của tôi lại phồng lên, như da tôi phồng lên dưới roi vọt.

Thật là không sao cưỡng nổi. Tôi tự nhủ là mình không được nhát gan hơn những đứa trẻ khác, và tôi tìm mọi cơ hội để đùa nghịch như các bạn tôi đùa nghịch; chúng nó không chết đuối, không bị bỏng, khí cầu không lôi chúng đi theo. Và tôi không bao giờ bỏ lỡ một dịp chuồn học, mỗi khi có cơ hội là tôi lập tức bỏ học để chuồn xuống tàu trên sông Furăng, hoặc để vào nhà máy lớn, đến chỗ lò rèn mà bố thằng Teraxông làm đốc công.

Tôi trèo lên cái cây cổ thụ ở Vườn Pêlixiê, và tôi leo ra tận đầu cành to.

Tôi nhớ lại tất cả mọi chuyện đó trong lúc này; đầu óc tôi bốc hơi. Tôi tưởng như mình đang cầm một cái cân. Nếu người ta cấm tôi không được ra bờ sông, tới gần lò gạch hoặc khí cầu, tôi sẽ không nói gì, - tôi không muốn làm mẹ tôi sợ; - nhưng hễ có dịp là tôi sẽ kéo lại, tôi sẽ xuống sông ra tới ngang thắt lưng, và tôi sẽ đặt chân lên trênnhững dòng sắt chảy.

Nhất quyết là như thế rồi. Trong khi chờ đợi, tối nay, vì mẹ tôi thả cho tôi được tự do, tôi sẽ cố hết sức để không bị chết đuối.

Nếu mẹ tôi đã cấm tôi chơi, tôi sẽ không thể nhịn mà không cúi người xuống guồng nước, tìm cách hớt bọt nước vào lòng bàn tay…

Chúng tôi chạy từ đầu tàu tới cuối tàu, chúng tôi gọi người thợ máy, chúng tôi trêu người cầm lái, chúng tôi sờ vào dây thuyền, mân mê cái máy tời, thử nhấc cái neo lên…

Ngày trôi qua, trời đã tối.

Chúng tôi để cho nỗi buồn u ám của hoàng hôn xâm nhập như người lớn; má lạnh, với một cái gan rợn ở cổ, những làn tóc dày bị gió hất tung, chúng tôi nhìn vệt nước mà con tàu rạch đi, chúng tôi ngắm những ánh sao đầu run rẩy trên bầu trời và theo dõi những vệt trăng sáng trên dòng nước óng ánh.

Tiếng máy chạy pùm pùm!

Bây giờ chuông trên tàu cất tiếng, chúng tôi lại gần boong tàu.

Chúng tôi đã tới Tua: tàu ghé bến nơi đây.

Ông Săngle biết một khách sạn không đắt tiền. Chúng tôi sẽ đến cả đó, nếu muốn. Mọi người đồng ý. Và mười phút sau khi xuống tàu, chúng tôi tới khách sạn Con Hươu to.

Chúng tôi ăn bữa tối ở bàn khách.

Có những người đi chào hàng, một bà Ăng-lê, một ông linh mục: mọi người đều thưởng thức món ăn thơm phức và một thứ “mù-tạc”[41] Đijông gì đó rất được hoan nghênh làm lợi cho hầm rượu. Vị cay của nó làm người ta khát.

Tôi mở mắt thao láo, phồng mũi và vểnh tai. Sang trọng làm sao! Bao nhiêu là bình hâm bằng bạc! Mười món ăn! Người ta tán chuyện, người ta ăn ngấu nghiến.

“Đưa tôi món Xivê. - Ông có dùng món cá hồi không?”

Tôi tưởng như mình đang dự một bữa ăn trong Nghìn lẻ một đêm.

Tôi hết sức ngạc nhiên thấy mọi người đều đạp chân lên các quy tắc mà mẹ tôi đã dạy tôi về phép xã giao. Chính ông linh mục cũng tì cả hai khuỷu tay lên khăn bàn và xích ghế lại sát bàn y như tôi sáng nay, trong ca-bin, trước món chân giò nướng và rượu vang vàng.

Mẹ tôi ngồi bên cạnh cái bà người Pari, bà xếp đám con trai của bà và tôi ngồi ở bên phải.

Tôi hầu như được tự do, tôi lăn xả vào các món. Mẹ tôi không mắng tôi về việc đó, thậm chí có một lúc mẹ tôi còn cáu lên vì tôi từ chối một món gì đó.

“Nó cứ làm như người ta bắt nó phải buộc mồm buộc miệng không bằng! Đúng là giá nhất định phải không ông? Mẹ tôi hỏi ông Săngle.

- Vâng, hai phơrăng một đầu người.

- Jắc, - lập tức mẹ tôi gọi tôi, - con cứ ăn tất cả mọi thức đi!”

Câu ấy tung ra như tiếng thét của thập tự quân, như một phương châm chiến đấu: “Ăn tất cả mọi thức!”

Câu đó nghe rất rõ, át cả tiếng cùi dìa, fuốc-sét, và làm cả một góc bàn phải phì cười.

Mẹ tôi không thể nào không để ý đến tôi, từ chỗ mẹ tôi ngồi, và luôn luôn săn sóc tới đứa con.

“Jắc, không ai phết “mù-tạc” lên bánh mì bao giờ. - Jắc, con đã biết rõ là mẹ không muốn con mút ngón tay kia mà. - Jắc, sao lại xì mũi to như thế, có thôi đi không nào!, - Jắc, con không biết ăn phao câu à!”

Lúc ấy tôi thấy mẹ tôi lén nhặt và nhét vào túi những thức ăn còn thừa. Người ta để ý thấy. Tôi thẹn đỏ cả mặt.

“Jắc, mày đừng có đỏ mặt lên như thế nữa!”

Chà! Mẹ tôi đã làm tôi mất thú… Tôi thấy rõ là những người ngồi cạnh đang chế giễu mẹ tôi và những người hầu bàn đang lườm nguýt mẹ tôi. Hơn nữa, tôi rất muốn làm ra vẻ người lớn, hỏi bồi bản lấy thêm: “Đưa tôi cái món ấy!” lấy khăn ăn lau miệng, vừa lau vừa ngả người về đàng sau, và ăn xong sẽ nói: “Thế là thêm một thứ bọn Phổ không lấy được nữa.”[42]

Ông Săngle đứng dậy:

“Thưa các bà, các ông và các chú nhóc, tôi xin thết mọi người sâm-banh.

- Jắc, con sẽ uống cốc của mẹ, mẹ tôi nói, giọng như bảo: “Đừng hòng cướp con trai của tôi đi”.

- Không, nó sẽ uống cốc của nó, và nó sẽ được uống mở hàng chai này, - ông Săngle vừa nói, vừa bật nút chai bắn vọt lên như đạn nổ; trẻ con ưu tiên!”

Ông rót rượu vào cốc tôi đầy tràn, và nói:

“Cạn cốc đi!”

Mẹ tôi nhìn tôi một cách dữ tợn, và gõ gõ lên bàn, có nghĩa là: nhìn vào tao đây này!

Tôi không dám nhìn mẹ tôi và cũng không dám uống.

“Kìa, sao mày ngồi đực ra như phỗng thế!”

Phỗng? Ông Săngle nói câu đó rõ to, tôi tan nát cả cõi lòng, tay run run và tôi đánh đổ nửa cốc sâm-banh lên áo một bà bên cạnh.

“Đồ ngu!” Bà bị ướt nói…

Phỗng! Ngu! Chính mẹ tôi là nguyên nhân khiến tôi ngốc nghếch thế.

Sau đó mẹ tôi lại còn mắng thêm, còn tố lên hơn người khác.

Tôi đi ngủ, uất ức và thiểu não.

“Buồng của cậu ở đàng này”, anh bồi nói.

Đang lúc tôi đứng ở cuối hành lang, từ biệt bà người Pari và đám con trai bà ấy, họ tỏ ra thân thiện với tôi suốt buổi tối hôm ấy, thì mẹ tôi gọi:

“Jắc, NHÀ XÍ Ở TẦNG DƯỚI ẤY!”

Giọng nói như ra lệnh - có cả sự ân cần - mẹ tôi phòng xa đứa con, sợ với tuổi thơ dại, nó không nghĩ tới.

Các bạn tôi mỉm cười, mẹ chúng đỏ mặt, mẹ tôi chào họ.

Đến mãi bây giờ, trong giấc mơ, đôi khi trong buồng khách, giữa đám phụ nữ vận áo hở cổ, ngồi ở bàn ăn, trong buổi vũ hội, tôi vẫn còn nghe thấy, như Jan Đa, một tiếng nói: “Jắc! Nhà xí ở tầng dưới ấy!”

Sáng hôm sau chúng tôi lại xuống tàu.

Bà người Pari vẫn đến với mẹ tôi, và tôi chơi với đám con trai của bà.

Chúng hiếu động hơn tôi và không chịu đứng lại giữa boong tàu, môi hé mở, mũi phập phồng, để thở và uống làn gió nhẹ thoảng qua: làn gió hây hẩy buổi sáng lay động những chiếc lá trên ngọn cây và đăng-ten trên cổ các bà đi tàu. Bầu trời trong sáng, các ngôi nhà trắng xóa, dòng sông xanh biếc; trên bờ, có những vườn hồng đầy hoa nở, và tôi trông thấy mạn cuối thành phố như đang vui vẻ lao tới!

Ở đàng kia là một chiếc cầu, trên cầu có các bà nông dân bước đi lon ton cười cười nói nói, và một cụ già đi thong thả, đầu đội mũ to vành và tóc hoa râm, không có râu, áo rơđanhgốt như áo nhà tu, dáng điệu cũng có vẻ giáo sĩ.

“Ông ấy đấy, chính ông ấy đấy!”

Có ai đã gọi tên ông già ấy và người ta nhận ra ông.

“Jắc, đấy là nhà thơ của những người đói rách, ông Bêrăngiê (Béranger) [43] đấy.”

Thầy tôi nói vậy với tôi, như đã nói: đấy là cô Trinh nữ!

Tôi nhớ hình như thầy tôi đã ngả mũ, và làm bộ trang nghiêm như lúc cầu kinh. Thầy tôi hết sức kính trọng các bậc danh nhân và thầy tôi có thể chịu cảm lạnh để chào các vị ấy. Thầy tôi chưa gây được cho tôi lòng sùng bái đó, và trong lúc người ta nhìn Bêrăngiê đi trên cầu, thì tôi lại nhìn ra xa, nhìn một cánh đồng, có đàn chim đang lượn tròn xung quanh cây cổ thụ, rồi sà xuống và nhào vào đám lá liễu hoàn diệp ánh bạc và rặng liễu mềm màu vàng.

Trong sách địa dư, tôi đã thấy người ta gọi vùng này là vườn hoa của nước Pháp.

Vườn hoa của nước Pháp! Phải, và tôi, một thằng nhóc, tôi cũng sẽ gọi vùng này như vậy! Đúng là ấn tượng tôi còn giữ lại được, - những mùi hương ấy, cảnh yên tĩnh ấy, những bờ sông ấy lác đác những mái nhà tươi tắn, những bờ sông viền lục và hồng cho dải băng xanh biếc của dòng sông Loa!...

Dải băng đó lốm đốm đen; thình lình nó ngả sang màu lam pha lục, và dường như nó cuốn theo cát bẩn hoặc bùn. Đó là gần tới biển và nước thủy triều tràn vào; sông Loa (Loire)  sắp hết, và Đại dương bắt đầu.

Chúng tôi đã tới nơi, đây cánh đồng cỏ Môvơ! -Suốt cả ngày tôi vẫn còn giữ cái ấn tượng yên tĩnh của buổi sáng. Tôi ít chơi với đám bạn nhỏ của tôi, chúng ngạc nhiên thấy tôi im lặng.

Không gian bao la bao giờ cũng vẫn làm tôi im lặng.

Chúng tôi tới gần chiếc cầu treo, tôi đọc thấy: Khách sạn Hoa ở xa xa. - Đến Năngtơ rồi.

« Lùi
Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của jules vallès