Tôi tặng cuốn sách này cho TẤT CẢ NHỮNG AI đã buồn chán đến chết trong trường học, hoặc đã phải khóc trong gia đình, những ai, trong thời thơ ấu, bị thầy giáo hành hạ, hoặc bị cha mẹ đánh đập.
JUYN VALEX (jules vallès)
*
Có phải mẹ tôi nuôi tôi không? Hay một phụ nữ nông dân đã cho tôi bú sữa? Tôi không biết nữa. Bất kể tôi đã ngậm vào vú của ai, tôi vẫn không nhớ có được một sự vuốt ve trìu mến nào, vào hồi tôi còn nhỏ; tôi không được bế ẵm nâng giấc, hôn hít; tôi đã bị đòn nhiều.
Mẹ tôi bảo không nên nuông chiều trẻ làm hư nó, và sáng nào mẹ tôi cũng đánh đòn tôi; khi nào mẹ tôi không có thì giờ vào buổi sáng thì để đến trưa, ít khi để chậm quá bốn giờ.
Cô Balăngđrô đã cứu tôi.
Cô là một cô gái già tốt bụng, khoảng năm mươi tuổi. Cô ở tầng dưới. Thoạt đầu cô lấy làm hài lòng, chả là cô không có đồng hồ, nhờ đó cô biết được giờ. “Véo! Véo! Đét! Đét! Thằng oắt đã bị đòn; đến giờ mình đi pha cà-phê sữa rồi”.
Nhưng một hôm tôi vén quần lên, vì chỗ bị đòn rát quá, và tôi đang hóng mát ở cửa, thì cô trông thấy tôi; mông đít tôi làm cô thương hại.
Thoạt tiên cô định đưa ra cho mọi người thấy, để hàng xóm láng giềng quanh đó biết chuyện; nhưng cô lại nghĩ đấy không phải là cách cứu đứa bé; và cô đã nghĩ ra cách khác.
Khi nghe tiếng mẹ tôi nói: “Jăc, tao sắp đánh đòn mày!”
- Bà Vanhtrax ơi, bà không cần phải mệt người làm gì, để tôi giúp bà việc ấy.
- Ôi chao! Cô yêu quý, cô tốt quá!
Cô Balăngđrô đem tôi đi; nhưng cô không đét đít tôi, mà chỉ đập hai bàn tay vào nhau; còn tôi thì kêu ầm lên. Buổi tối, mẹ tôi cảm ơn người thay thế mình.
“Có gì đâu”, cô gái phúc đức trả lời, vừa lên dúi cho tôi một chiếc kẹo.
Vậy là kỷ niệm đầu tiên của tôi bắt đầu từ một trận đòn. Kỷ niệm thứ hai của tôi đầy ngạc nhiên và nước mắt.
Khi ấy là bên ngọn lửa củi, trong lò sưởi cũ; mẹ tôi ngồi đan ở một góc nhà, cô em họ tôi làm công việc hầu hạ trong nhà tôi vốn là một gia đình nghèo, đang xếp lên hàng ván một vài chiếc đĩa sứ thô có vẽ những gà trống mào đỏ đuôi xanh.
Thầy tôi cầm dao gọt một miếng gỗ thông; vỏ rơi xuống đất vàng rộm và nuột nà như những dải băng. Thầy tôi lấy những mẩu gỗ tươi làm cho tôi một chiếc xe lăn. Bánh xe cũ đã gọt xong, làm bằng những lát khoai tây cắt khoanh để nguyên cả vòng cỏ nâu giả làm vòng đai sắt… Chiếc xe lăn sắp xong đến nơi; tôi đang đợi, hết sức hồi hộp và mở mắt to thao láo, thì bỗng thầy tôi thét lên một tiếng và giơ bàn tay đẫm máu lên. Thầy tôi đã bập dao vào ngón tay. Tôi tái mét mặt, bước tới gần thầy tôi; một cái đấm mạnh làm tôi dừng lại; chính mẹ tôi đã đánh tôi, mẹ tôi hầm hầm tức giận sùi cả bọt mép, hai bàn tay nắm chặt.
“Thầy mày đứt tay là lỗi tại mày!”
Và mẹ tôi đuổi tôi ra ngoài cầu thang tối om, lại còn dúi đầu tôi đập vào cánh cửa.
Tôi kêu, tôi van lạy xin tha, và tôi lại gọi thầy tôi; với một niềm kinh hoàng của trẻ thơ tôi như nhìn thấy bàn tay thầy tôi bị bầm nát, rũ xuống, mà chính tôi lại là người gây ra chuyện đó! Tại sao không cho tôi vào xem sao? Rồi sau muốn đánh tôi thì đánh, cũng được. Tôi kêu, không trả lời. Tôi nghe thấy tiếng khua đụng chai lọ, mở ngăn kéo; đang băng bó.
“Không sao đâu”, cô em họ tới nói với tôi, miệng nói tay gấp một mụn vải loang lổ đỏ.
Tôi nức nở, tôi nghẹn ngào: mẹ tôi hiện ra và đẩy tôi vào căn phòng nhỏ nơi tôi ngủ, nơi tối nào tôi cũng sợ.
Tôi mới lên năm và đã tưởng tôi là một đứa giết cha.
Mà đâu có phải lỗi tại tôi!
Nào tôi có nài thầy tôi phải làm cho tôi chiếc xe lăn ấy đâu? Chẳng phải là tôi sẵn sàng chịu chảy máu, để thầy tôi không bị đau đớn gì cả đó sao?
- Đúng thế - và tôi tự cào cấu bàn tay mình để cũng được đau đớn như thầy tôi.
- Chẳng qua là mẹ tôi yêu thầy tôi quá! Vì thế mà mẹ tôi đã nổi giận.
Người ta dạy tôi tập đọc trong một quyển sách in chữ rất to, là phải vâng lời cha mẹ: mẹ tôi đánh tôi là rất phải.
Ngôi nhà gia đình tôi ở nằm trong một phố bẩn thỉu, khá dốc, leo được lên cũng mệt, từ đỉnh dốc nhìn được bao trùm cả vùng, nhưng xe cộ không qua lại phố này, chỉ có xe bò đi qua đây, người đánh xe dùng dùi thúc bò. Con bò vươn cổ loạng choạng chân kéo chiếc xe, lưỡi thè lè và da bốc hơi. Bao giờ tôi cũng dừng lại để nhìn, khi bò chở củi và bột mì tới nhà bác làm bánh mì ở lưng chừng dốc; đồng thời tôi cũng nhìn cả những người thợ làm bánh trắng lốp và cái lò to đỏ rực, - người ta dùng những chiếc xẻng lớn để tra bánh vào lò, và nơi đó ngào ngạt mùi cùi bánh và mùi than hồng!
Nhà tù ở đầu phố, và cảnh sát thường áp giải những tù nhân bị xích tay, họ đi không nhìn ngang ngửa, mắt đăm đăm, vẻ ốm yếu.
Các bà cho họ những đồng xu mà họ nắm chặt lấy trong tay, vừa ngả đầu để cảm ơn.
Họ không có vẻ gì là độc ác.
Một hôm người ta đã đưa đi một tù nhân nằm trên cáng, có chiếc khăn trắng phủ kín người; sau khi ăn cắp, anh ta đã cho cổ tay vào một lưỡi cưa; máu chảy nhiều quá đến nỗi người ta tưởng anh ta chết đến nơi.
Ông cai ngục với tư cách hàng xóm láng giềng, là chỗ bạn thân của nhà này; thỉnh thoảng ông đến ăn xúp tại nhà các bà con ở tầng dưới, và con trai ông ta với tôi; hai đứa đánh bạn với nhau. Một đôi khi nó dẫn tôi vào chơi trong nhà tù, vì ở đấy vui hơn. Cây cối nhiều lắm; chúng tôi chơi nghịch, cười đùa, và có một ông cụ rất già, ở tù khổ sai ra, thường làm nhà thờ bằng nút chai và vỏ hạt dẻ.
Ở nhà, mọi người không bao giờ cười; mẹ tôi lúc nào cũng cảu nhảu - Ôi chao! Chơi đùa với ông cụ kia và một anh chàng cao lớn thường gọi là anh săn trộm, trước đã giết một cảnh sát tại hội chợ Vivare, tôi thấy còn thú vị hơn nhiều!
Rồi họ nhận được những bó hoa mà họ ôm hôn và giấu ở ngực. Lúc đi qua phòng tiếp khách, tôi thấy hoa ấy chính là các bà cho họ.
Những tù nhân khác có cam và bánh ngọt do mẹ họ đem tới, như thể họ còn bé bỏng lắm. Tôi thì rõ ràng là còn bé, vậy mà tôi chẳng có được bánh ngọt, cam bao giờ.
Tôi không nhớ có bao giờ trông thấy một bông hoa ở trong nhà. Mẹ tôi bảo hoa hoét vướng víu, và chỉ qua hai ngày là hoa bốc mùi thối rồi. Buổi tối hôm nọ, tôi bị gai hồng đâm vào tay, mẹ tôi la: “Có thế mày mới biết!”
Lúc cầu kinh bao giờ tôi cũng buồn cười. Tôi cố nhịn không được! Tôi cầu Chúa trước khi quỳ xuống, tôi thề với Chúa là không phải tôi cười Chúa, nhưng hễ cứ quỳ xuống là y như tôi lại không nhịn nổi. Ông chú tôi có những mụn cơm làm ngứa ngáy, và ông gãi, rồi cắn vào mụn rơm; tôi phì cười. - May thay mẹ tôi không phải khi nào cũng thấy chuyện đó; nhưng Chúa vốn trông thấy hết, liệu Chúa nghĩ thế nào?
Tuy vậy hôm nọ tôi đã không cười! Mọi người ăn bữa tối trong nhà với dì tôi ở Vuôczăc và các chú tôi ở Farâyron, lúc đang ăn món tuôctơ[8], thình lình trời tối sầm lại, Suốt ngày nóng nực, mọi người ngột ngạt, ai nấy đều cởi áo ngoài. Bỗng sấm động. Mưa trút xuống như thác đổ, những hạt mưa to rơi trong bụi lộp độp. Khí trời mát như trong hầm rượu, và có cả mùi thuốc súng; ngoài phố, nước rãnh sục lên như nước giặt, rồi cửa kính kêu ken két; trời mưa đá.
Các bà dì, ông chú tôi nhìn nhau, và một ông chú đứng dậy, bỏ mũ ra và cầu kinh. Tất cả đều đứng đầu trần, với những vầng trán hoặc trẻ trung hoặc già nua nặng trĩu những buồn phiền. Họ cầu Chúa chớ nên độc ác quá đối với đồng ruộng của họ, và đừng dùng đạn chì trắng mà giết hại mùa màng của họ đang đâm bông.
Một hạt mưa đá lọt qua cửa sổ, lúc mọi người nói A-men, và nẩy vào một cái cốc.
Gia đình tôi vốn ở nhà quê.
- Thầy tôi là con trai một nông dân kiêu hãnh muốn con mình học hành để làm cố đạo nên đã gửi con vào nhà một ông bác là cha xứ để học tiếng La-tinh, rồi cho vào trường dòng.
Thầy tôi - người sau này là thầy tôi - đã không chịu ở đấy, muốn học lấy bằng tú tài, trở nên danh giá, và đã tới trọ một gian buồng nhỏ ở tít cuối một phố tối tăm; ban ngày thầy tôi đi dạy tư nhì nhằng lấy mười xu một giờ, và tối về, lại đi tán tỉnh một cô nông dân sau này sẽ là mẹ tôi, nhưng lúc này đang làm bổn phận một đứa cháu gái tận tụy đối với một bà cô ốm.
Vì chuyện đó ông bác cha xứ giận thầy tôi và thầy tôi phải vĩnh biệt nhà thờ; thầy mẹ tôi yêu nhau, đính hôn với nhau rồi lấy nhau! Thầy tôi cũng lủng củng cả với gia đình, thầy tôi phải dọa dẫm các cụ mới chót lọt được cuộc hôn nhân của cảnh khốn quẫn và bần cùng ấy.
Tôi là đứa con đầu lòng của cuộc kết hôn phúc đức đó. Tôi ra đời trên một chiếc giường gỗ, có cả rệp thôn quê lẫn rận trường dòng.
Ngôi nhà thuộc quyền sở hữu một bà khoảng năm chục tuổi, miệng chỉ còn hai chiếc răng, một chiếc mầu nâu và một chiếc mầu xanh, và lúc nào cũng cười; bà ta rất tốt và được mọi người mến. Chồng bà bị chết ngụp khi làm rượu vang trong một chiếc thùng to; chuyện đó khiến tôi hay ngủ mê và làm tôi hết sức sợ những chiếc thùng to, nhưng lại hết sức thích rượu vang. Chắc rượu phải ngon lắm nên ông Giaciê - tên ông ta - mới uống đến nỗi chết như vậy. Bà Gacniê chủ nhật nào cũng uống thứ rượu vang ấy, có mùi vị người chồng yêu của bà; đôi giầy của người quá cố để trên một tấm ván, trông cũng giống hai cốc vại uống vang rỗng không.
Người ta uống rượu không ít trong ngôi nhà tôi ở.
Ông cố đạo ở cùng tầng với nhà tôi bao giờ ở bàn ăn ra mắt cũng long lên sòng sọc, má bóng nhẫy, tai đỏ bừng bừng. Miệng ông sặc sụa hơi rượu, cái mũi trông như một quả cà chua đã bóc vỏ. Quyển kinh nhật tụng của ông tỏa mùi cá nấu vang.
Ông có một cô đày tớ gái, cô Hăngriét mà ông hay liếc ngang khi ông say. Thỉnh thoảng trong xó xỉnh người ta hay xì xào về cô này và ông cố đạo.
Trên gác ba, là ông Grêlanh. Ông là trung úy lính cứu hỏa, và, ngày lễ Thánh-thể, ông chỉ huy trên quảng trường. Ông Grêlanh là kiến trúc sư, nhưng người ta bảo ông chẳng hiểu quái gì về kiến trúc hết, rằng “chính vì ông mà bãi Brơi lúc nào cũng ứ nước, ông đã làm thành phố tốn mất năm chục ngàn phơrăng, và, nếu không có vợ ông…” Người ta nói về vợ ông những gì tôi không hiểu. Bà ta nom dễ thương, với đôi mắt to đen láy, hàm răng nhỏ trắng muốt, một chút ria phơn phớt trên môi; khi đi bao giờ cũng làm chiếc váy phồng lên và gõ gót giầy cồm cộp.
Bà nói giọng miền Nam và đôi khi chúng tôi nhại tiếng bà ta để làm trò đùa.
Người ta bảo bà lắm “nhân tình”. Tôi không hiểu là cái gì, nhưng tôi biết rõ bà ta đối với tôi rất tốt, mỗi khi đi qua, bà lại tát khẽ vào má tôi, tôi rất thích để bà ôm hôn tôi vì người bà thơm lắm. Mọi người trong nhà có ý lảng tránh bà ta một chút, nhưng không làm lộ liễu quá để bà biết.
- “Vậy ông bảo bà ta thân với ông phó à?
- Phải, phải, thân lắm ấy chứ!
- Chà! Chà! Thế còn cái ông Grêlanh tội nghiệp kia thế nào?”
Thỉnh thoảng tôi lại nghe thấy nói như vậy, và mẹ tôi góp thêm những lời mà tôi không hiểu.
“Như chúng tôi, những người phụ nữ đứng đắn, chúng tôi chết đói. Còn như họ, người ta nhét địa vị cho chồng họ, tặng áo tặng quần họ những ngày sinh nhật!”
Bà Grêlanh không đứng đắn ư? Bà ta làm gì? Có chuyện gì vậy? Ông Grêlanh tội nghiệp!
Nhưng ông Grêlanh vẫn vui vẻ như thường. Vợ chồng ông luôn vuốt ve con cái và cho chúng đồ chơi; còn tôi, người ta chỉ cho tôi ăn tát, chỉ dọa nạt tôi về chuyện địa ngục, lúc nào cũng bảo tôi la thét om sòm nhiều quá.
Tôi sẽ sướng hơn nhiều, nếu tôi là con ông bà Grêlanh; nhưng thế đấy! Ông phó sẽ tới nhà tôi khi nào mẹ tôi ở nhà một mình… Đối với tôi thì chuyện đó tôi mặc kệ!
Bà Tuliê ở trên gác ba: đúng là một bà đứng đắn!
Bà mang đồ đan tới chơi nhà tôi, và mẹ tôi với bà ta trò chuyện về những bà con ở tầng dưới, những bà con ở tầng trên, và cả những bà con ở Raphaen và Expayi. Bà Tuliê nghiện hít thuốc, tai mọc đầy lông, chân cộm chai; bà đứng đắn hơn bà Grêlanh. Bà cũng xuẩn hơn và xấu hơn.
Tôi còn những kỷ niệm gì nữa về hồi thơ ấu? Tôi nhớ là trước cửa sổ, mùa đông, chim chóc tới tìm ăn trong tuyết; mùa hè, tôi lê la làm bẩn đũng quần trong một mảnh sân hôi hám; ở dưới hầm để rượu, một người thuê nhà vỗ béo gà tây. Người ta để tôi ve cám ướt thành những viên tròn để nhồi cho gà, làm chúng phát nghẹn. Niềm vui lớn của tôi là trông thấy gà ngạt thở, tái xanh đi. Có lẽ là tôi thích màu tái xanh!
Mẹ tôi luôn xuất hiện để béo tai và tát tôi, lúc gãi những bướu sưng trên đầu, tôi đã không cầu phước cho mẹ tôi, và chỉ cầu kinh xong hoàn toàn, tôi mới xin Chúa phù hộ cho mẹ tôi khỏe mạnh, để mẹ tôi trông nom và tiếp tục săn sóc tôi.
Tôi đã lớn, tôi đi học.
Ôi chao! Ngôi trường nhỏ bé xinh xắn! Ôi chao! Đường phố đẹp! Và sinh động làm sao vào những ngày phiên chợ!
Ngựa hí; những con lợn ủn ỉn lết đi, một chiếc thừng buộc ở chân; những con gà giò chiếp chiếp trong lồng; những chị nông dân vận tạp-dề xanh, váy đỏ chói; phó-mát xanh biếc, cà chua tươi, những thúng quả; củ cải hồng, bắp cải xanh!...
Gần trường có một quán ăn, người ta thường đổ cỏ khô ở đấy.
Cỏ khô, bọn tôi vùi người vào cỏ khô sâu ngập mắt rồi chui ra đầu tóc bù xù và nhễ nhại mồ hôi, với những cọng cỏ vương lại ở cổ, ở lưng, ở đùi, đâm nhói tựa kim châm!...
Bạn tôi đánh mất sách trong đống cỏ, mất chiếc làn con, mất dây thắt lưng, mất một chiếc guốc… Tất cả những niềm vui như mở hội, tất cả những hồi hộp trước một tai nạn… Những giây phút ấy thú vị làm sao!
Mỗi khi thấy một xe cỏ khô đi qua, tôi ngã mũ, và đi theo đằng sau.
Chú thích:
[8] Một thứ bánh bao nhân thịt hoặc cá ( Tourteau)