Chú Bé

Lượt đọc: 1384 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
- II -
gia đình

Tôi có hai bà dì, dì Rôdadi và dì Mariu. Người ta thường gọi dì Mariu là cô dù dì; tôi không hiểu tại sao, có lẽ vì dịu dàng âu yếm hơn. Lúc nào tôi cũng thấy dì cười cởi mở, để lộ hàm răng trắng và dịu hiền trên bộ mặt nâu: người dì gầy và khá duyên dáng, dì đúng là phụ nữ.

Dì Rôdali là chị, người đồ sộ, hơi gù lưng, có dáng một người hát ở nhà thờ, nom giống lão Jôsa, làm bánh mì rất hay nghêu ngao kinh chiều ngày chủ nhật và khi mọi người đã làm dấu thì lại bắt đầu hát thánh ca. Dì là đàn ông trong gia đình; chồng dì, chú Jăng của tôi không đáng kể: chú chỉ đành gãi cái mụn cóc đóng vai nốt ruồi trang điểm trên bộ mặt rầu rỉa, mệt mỏi, nhăn nhúm. - Từ đấy, tôi đã nhận xét thấy là nhiều nông dân có những bộ mặt như thế, láu cá, già nua, nhọn hoắt; trong người họ có pha cái máu kịch hát hay triều đinh một đêm hội hoặc một đêm hát nào đó đã lạc vào vựa lúa hoặc quán rượu, họ có mùi phường hát, mùi quyền quý hoặc mùi cựu tộc qua mùi chuồng lợn và mùi phân bò; vốn quắt queo do nguồn gốc của họ, họ vẫn quắt queo như thế dưới mặt trời nắng chói.

Còn chồng dì Mariu thì đúng là một người quê mùa! Một bác nông phu đẹp, tóc vàng, cao gần thước bảy, không có râu, nhưng lông lá óng ánh trên cổ tròn lẳn, mập mạp, hồng hào; da chú đỏ ối màu rơm, mắt xanh như hoa mua, và đôi môi đỏ chót như hoa mào gà; sơ-mi chú lúc nào cũng để phanh hở ngực, chú mặc chiếc gi-lê kẻ sọc vàng, và không lúc nào rời chiếc mũ có băng lụa tam tài. Tôi đã trông thấy những vị thần điền dã như thế trong các bức tranh phong cảnh.

Hai cô đàng bố.

Cô Mêli[9] bị câm, - ấy thế mà lại hay chuyện, rôm rả!

Mắt cô, trán, môi, tay chân, gân cốt, bắp thịt, thịt da, mọi thứ ở người cô đều động đậy, bép xép, hỏi chuyện, trả lời; cô dồn anh hàng loạt câu hỏi, cô đòi phải đáp lại; đồng tử mở to, tắt ngấm; má cô phồng lên, hóp lại, mũi nẩy nẩy! Cô sờ vào người anh ở chỗ này, chỗ nọ, thong thả, đột ngột, tư lự, cuồng cuồng, không có cách nào mà dứt ra được câu chuyện. Phải bắt chuyện với cô, phải ra hiệu đáp lại khi cô ra hiệu, dùng cử chỉ trả lời từng cử chỉ, phải có ứng đối, phải hóm hỉnh, lúc nhìn lên trời, lúc nhìn xuống hầm rượu, cố bắt lấy ý nghĩ của cô được chăng hay chớ, đầu hay đuôi cũng được, tóm lại, phải chú mục hoàn toàn chứ không như với những bà hay chuyện nói được, chỉ cần để tai nghe là đủ: không ai ba hoa lắm mồm bằng một người vừa câm vừa điếc.

Tội nghiệp cho cô, chẳng ai muốn lấy! Chắc chắn là như thế, và cô sống chật vật với số tiền kiếm được bằng lao động chân tay; thật ra cô không thiếu thốn cái gì, nhưng cô Amêli lại có tính làm đỏm!

Phải nghe tiếng cô khẽ rủ rỉ, nhìn cử chỉ của cô, theo dõi con mắt cô, lúc cô thử một kiểu tết tóc hoặc chiếc khăn quàng; cô biết cách trang điểm; cô biết cắm một bông hồng bên vành tai và biết chọn màu dải lụa ăn nhất với chiếc áo cánh, buộc gần chỗ quả tim của cô muốn nói thành lời…

Bà cô Anhét.

Người ta gọi bà là “bà mộ đạo”.

Có cả một giới gái già người ta gọi bằng tên đó.

“Mẹ ơi, bà mộ đạo nghĩa là gì?”

Mẹ tôi cố tìm một định nghĩa, nhưng tìm không ra; mẹ tôi nói về sự dâng bán cho Thánh Mẫu, những thề nguyện thơ ngây.

“Thơ ngây. Bà cô Anhét tôi tiêu biểu cho thơ ngây? Thơ ngây là thế!”

Bà đến bảy mươi tuổi rồi và chắc tóc bà đã bạc; tôi không biết có phải thế không mà cũng không ai biết được, vì bao giờ bà cũng đội cái mũ đen bịt đầu mỏng như sa, dính chịt vào sọ; chẳng hạn bà có chút râu hoa râm, chỗ này một túm lông, chỗ nọ một cụm tóc nhỏ loăn xoăn, và chỗ nào cũng có những mụn cóc to bằng quả dâu nom như đang được nấu chín trên mặt.

Nói cho đúng hơn, vì cái mũ đen bịt đầu, đầu bà cô tôi ở phía trên trông giống như củ khoai tây nướng cháy, và ở phía dưới giống như củ khoai tây nẩy mầm: sáng hôm nọ, tôi đã thấy bên dưới lò, một củ khoai tây phồng rộp, tím ngắt, trông giống bà cô Anhét tôi như hai giọt nước.

“Những thề nguyện thơ ngây”.

Mẹ tôi giải thích lúng túng quá, đến nỗi tôi sinh ra ngờ rằng mộ đạo là bẩn thỉu, rằng những người đó thiếu một cái gì, hoặc thừa một cái gì.

Mộ đạo?

Có bốn bà “mộ đạo” cùng ở với nhau - không phải tất cả đều có những mụn cóc đỏ rực trên màu da xám tro như bà cô Anhét có tính làm đỏm, nhưng tất cả đều có tí ria mép hoặc chút râu quai nón, một cái bướu thịt lùi xùi, và chiếc mũ bịt đầu không thể thiếu, một thứ cao dán đen xì!

Thỉnh thoảng người ta sai tôi tới chỗ các bà đó.

Các bà ở cuối một phố vắng, có cỏ mọc.

Bà cô Anhét là mẹ đỡ đầu của tôi, và bà rất yêu đứa con đỡ đầu của bà.

Bà muốn lập tôi làm cháu kế thừa, để lại mọi của cải của bà cho tôi - trừ chiếc mũ bịt đầu, tôi mong vậy.

Hình như bà có một ít tiền cổ cất trong một chiếc bít tất cũ, và lúc nghe nói người ta tìm thấy trong nhà một bà hàng xóm một túi tiền vàng để trong đáy hũ bơ, thì bà cô tôi che miệng cười thầm.

Không biết rồi có tìm thấy hũ bơ của bà không, chứ ở nhà bà tôi không lấy gì làm vui lắm.

Gian buồng to ấy, tối om tựa như một kho lúa, rầm xà trông như làm bằng nút chai cũ, vì mọt lỗ chỗ và mốc meo quá thể!

Cửa sổ nhìn xuống một mảnh sân, từ sân bốc lên mùi bùn nung.

Chỉ có những rèm giường là tôi thích - riêng những thứ đó, cũng đủ để tôi vui rồi; trên rèm trông thấy nào những hình người, hình chó, nào cây cối, một con lợn; những hình ấy vẽ bằng màu tím trên vải, chỉ một đề tài lặp đi lặp lại hàng trăm lần. Nhưng tôi thích ngắm nghía nó đủ tứ phía, và nhất là khi tôi cúi đầu xuống để nhìn ngược lên qua hai chân tôi có thể thấy đủ mọi thứ trên rèm của bà cô tôi.

Cuộc đi săn - đấy là đề tài - hiện lên với đủ màu đủ vẻ. Tất nhiên! Máu tôi dồn xuống mặt, đầu tôi nặng như đáy thùng gỗ: đúng là sung huyết rồi! Tôi phải tự nắm tóc kéo đầu lên để đứng thẳng lại, rồi đặt đầu cho ngay ngắn như dốc một cái chai cho hết nước.

Bất cứ lúc nào cũng cầu kinh: Amen! Amen! Trước món củ cải và sau món trứng.

Củ cải là món chính của bữa tối người ta thết tôi khi tôi tới nhà bà cô mộ đạo; người ta cho tôi một củ sống và một củ luộc.

Tôi nạo vỏ củ sống, nó như sủi bọt dưới lưỡi dao, để trên lưỡi nó có vị hạch đào và lạnh như tuyết.

Còn củ chín tôi ăn không thú mấy, nó luộc bằng chiếc lồng ấp nhỏ mà bà cô tôi bao giờ cũng để ở giữa hai đùi, và là thức đồ dùng không thể thiếu được của các bà mộ đạo. - Tám đùi mộ đạo: bốn lồng ấp - mùa hè dùng làm hộp đựng kim chỉ, và mùa đông các bà đảo than hồng bằng chiếc chìa khóa.

Thỉnh thoảng có món trứng.

Người ta lấy quả trứng trong một cái túi ra, như rút xổ số, và đem trần nước sôi, tội nghiệp quả trứng ấy! Đúng là một vụ sát sinh, vì bao giờ trong trứng cũng có một chú gà con.

Tôi ăn cái bào thai ấy, vì người ta bảo tôi không phải ai ai cũng được ăn, đây là của hiếm, nhưng tôi ăn không ngon lành lắm, vì tôi không thích ăn bao tử nhúng bánh mì, và gà tơ súc bằng thìa nhỏ.

Mùa đông, các bà mộ đạo làm việc trong ánh quả cầu: họ cắm một cây nến giữa bốn quả cầu đầy nước, làm cho ánh sáng trắng xóa, tia ngắn và chói, với những phản quang vàng.

Mùa hè, các bà đem ghế ra phố kê ở bậc cửa, và thế là các nhóm bắt đầu hoạt động.

Với những dải xanh, những băng hồng, những đinh ghim đầu ngọc trai, những sợi chỉ giống như vệt bạc chảy trên bó hoa, với những áo lót sang trọng, với những con thoi “lắm mồm lắm miệng”, nhóm là cả một thế giới nhỏ bỏ đầy sự sống và niềm vui.

Phải nghe thấy nhóm bi bô trên đầu gối các bà thợ đăng-ten ở những phố của các bà mộ đạo, những ngày nồng nực trên ngưỡng cửa những ngôi nhà im lặng. Chỉ có dăm sáu bà làm việc là đã ồn ào như tổ ong như suối chảy, - thế rồi đến đúng ngọ, im lặng hoàn toàn!

Các ngón tay ngừng lại, các làn môi mấp máy, người ta đọc kinh Giáng sinh ngắn ngủi. Lúc bà đọc kinh đã xong, tất cả rầu rầu đáp lại: Amen! Và các nhóm lại tiếp tục chuyện trò rầm rì…

Chú Jôdép tôi là một nông dân chuyển sang làm thợ. Chú hai mươi nhăm tuổi, khỏe như bò mộng; trông chú giống một nghệ sĩ đại phong cầm; da nâu, mắt to, miệng rộng, hàm răng đẹp; râu đen nhánh, tóc rậm, cổ lính thủy, bàn tay to tướng đầy những mụn cơm - những mụn cơm trứ danh mà chú vẫn gãi trong những lúc cầu kinh.

Chú là thợ bạn dự bị, chú có chiếc gậy đính dải lụa dài và đôi khi chú đưa tôi đến trụ sở của phường thợ mộc. Mọi người uống rượu, hát, làm những trò xiếc đòi hỏi phải có sức khỏe, chú tóm thắt lưng tôi, tung tôi lên cao, hứng đỡ tôi, rồi lại tung lên. Tôi vừa thích vừa sợ! Rồi tôi leo lên đầu gối các chú thợ bạn dự bị; tôi sờ vào thước và côm-pa của họ, tôi nếm thử rượu vang, cay xè, tôi cộc đầu vào kiệt tác[10], tôi làm đổ các ván gỗ, tôi nhói mắt vì đụng vào cổ cồn to tướng của họ, xước da vì móc vào hoa tai của họ. Họ đeo hoa tai.

“Jắc, cháu chơi với các “ông tú ông cử” có thích hơn chơi với các chú không?

- Ồ! Không đâu!”

Các thầy giáo, giáo sư, thầy dạy tiếng La-tinh hoặc dạy vẽ, thỉnh thoảng tới chơi nhà và lúc nào cũng nói chuyện trường lớp, chú gọi là “các ông tú ông cử”; những hôm ấy, người ta trịnh trọng ra lệnh bắt tôi phải ngồi im, cấm không được tì khuỷu tay lên bàn, không được ngó ngoáy chân, và phải ăn mỡ của những ai không thích mỡ! Ngồi với những ông tú, ông cử ấy, tôi rất chán và tôi sung sướng biết mấy với các chú thợ mộc!

Tôi nằm bên cạnh chú Jôdép, chú không bao giờ ngủ mà không kể chuyện cho tôi nghe - chú biết đủ thứ chuyện - rồi chú vỗ tay lên bụng đánh trống theo hiệu lệnh cho quân lính đi ngủ. Buổi sáng, chú dạy tôi cách đấm, và chú co người lại để giơ bộ ngực đồ sộ cho tôi đánh; tôi cũng học cả đá nữa, và hầu như lần nào tôi cũng bị ngã.

Khi bị đau, tôi không khóc, sợ mẹ tôi đến.

Sáng ra chú đi, tôi lại về.

Tôi mong chú làm sao chứ! Vào lúc chú sắp về, tôi đếm từng giờ từng phút.

Ăn xúp xong, chú bế tôi vào xưởng mộc con của chú ở dưới nhà và cho đến giờ đi ngủ tôi ở đó là nơi tối tối chú làm việc riêng cho chú, vừa hát những bài hát mà tôi rất thích vừa ném tất cả vỏ bào vào mặt tôi; chính tôi gạt bấc nến, và chú để mặt tôi nhúng ngón tay vào thuốc đánh bóng của chú.

Thỉnh thoảng bạn chú tới chơi và đứng nói chuyện với chú, tay thọc túi quần, vai tựa vào cửa. Họ tỏ vẻ thân thiện đối với tôi, và chú tôi rất lấy làm hãnh diện: “Thằng oắt, nó biết ối thứ rồi đấy! - Jắc, đọc bài ngụ ngôn cho các chú nghe nào!”

Một hôm chú Jôdép bỏ đi.

Đây là một câu chuyện đáng buồn!

Bà Gácniê, bà góa của ông chồng say rượu đã chết đuối trong thùng rượu vang, có một cô cháu gái bà đưa từ Boócđô về lúc xảy ra tai họa.

Cô gái cao lớn, tóc nâu, đôi mắt rất to, đen, đen láy, và rực lửa; cô ta đung đưa con mắt như tôi xoay qua xoay lại một mảnh gương vỡ trong giờ học để lóa ánh chớp; đôi mắt cô liếc qua liếc lại, ngước lên trời và chụp cả hồn anh theo.

Hình như tôi đã phải lòng cô ta đến chết mê chết mệt. Tôi nói “hình như” vì tôi chỉ còn nhớ lại có mỗi một cảnh si mê, ghen tuông kinh khủng.

Và ghen với ai kia chứ?

Lại với chính chú Jôdép của tôi, chú đã theo đuổi tán tỉnh cô Xêlina Gácniê, rồi mắc vào đấy thế nào tôi không biết, nhưng cuối cùng đã hỏi cưới cô làm vợ.

Cô có yêu chú tôi không?

Đến bây giờ tôi vẫn không trả lời nổi câu hỏi đó, mặc dầu bây giờ lý trí đã trở lại, thời gian đã rắc tuyết lên những xúc động sâu xa ấy. Nhưng khi đó - lúc cô Xêlina lấy chú tôi, tôi đã mù quáng bởi lòng si mê.

Cô sắp trở thành vợ của một người khác! Tôi, trong trắng như thế, cô đã từ chối tôi. Dạo ấy tôi chưa biết giữa đàn bà và đàn ông khác nhau thế nào, và tôi ngỡ trẻ con đẻ ra từ dưới ruộng bắp cải.

Khi vào vườn rau, có lần tôi đã nhìn; tôi dạo chơi trong đám rau với ý nghĩ là tôi cũng có thể làm bố…

Nhưng dù sao tôi vẫn rùng mình khi cô tôi vuốt má tôi và nói với tôi bằng giọng Boócđô. Khi cô nhìn tôi một cách thế nào đó, tim tôi nôn nao quay cuồng, như hôm ở Brơi, tôi trèo lên chiếc đu hội chợ.

Tôi đã lớn: mười tuổi. Chính tôi đã nói với cô như thế: “Cô đừng lấy chú Jôdép! Ít lâu nữa, tôi sẽ thành người lớn: cô hãy đợi tôi, cô hãy thề là sẽ đợi tôi đi! Đám cưới hôm nay chỉ là trò đùa thôi, phải không?”

Không phải là trò đùa: họ đã lấy nhau thật sự, và cả hai bỏ đi.

Tôi thấy họ biến mất.

Lòng ghen tuông của tôi thức tỉnh. Tôi nghe thấy tiếng chìa khóa quay.

Nó xoáy vào tim tôi, chiếc chìa khóa ấy! Tôi nghe ngóng, rình mò. Không thấy gì cả! Không thấy gì cả! Tôi cảm thấy thôi thế là hết. Tôi quay về buồng tiệc, và tôi uống rượu để quên.

Từ hồi ấy, tôi không dám nhìn thẳng vào mặt chú Jôdép nữa. Tuy nhiên lúc chú tới nhà chơi, trước hôm đi Boócđô, chú không hề động bóng gió gì tới sự đối địch giữa chú và tôi, và đã vĩnh biệt tôi với niềm âu yếm của người chú chứ không phải thái độ hằn học của người chồng!

Lại còn cô em họ Apôlôni của tôi nữa: người ta gọi cô là cái Pôlôni.

Đấy, nông dân đặt tên cho con gái của họ như thế đấy!

Cô em họ yêu quý! Cao lớn và chậm chạp, với đôi mắt màu lam xẫm, áng tóc nâu dài, đôi vai trắng như tuyết; cổ cô mơn mởn nổi bật một dải nhung màu đen bóng, cây thập ác vàng; nụ cười dịu dàng và giọng nói ngân dài, cô ửng hồng lên khi cười, và đỏ mặt khi bị người khác nhìn chòng chọc. Tôi nhìn cô hau háu lúc cô mặc quần áo - tôi không hiểu tại sao - tôi đờ cả người lúc nhìn cô lấy răng giữ và kéo lên qua làn vai tròn chiếc sơ-mi đang rớt xuống, những hôm cô ngủ trong căn phòng nhỏ của chúng tôi để mai ra chợ thật sớm, với những tảng bơ rắn và trắng như những u thịt trên ngực cô. Người ta tranh nhau mua bơ của cô Pôlôni.

Thỉnh thoảng cô lấy những ngón tay dài cù vào cổ tôi, dọa cù vào sườn tôi. Cô cười, vuốt ve và ôm hôn tôi; tôi vừa rẫy vừa ghì lấy cô, và một lần tôi đã cắn cô; tôi không muốn cắn cô, nhưng tôi không thể dừng được, da thịt cô thơm như mùi dâu chín… Cô đã thét lên: Thằng nhãi ác! Vừa phát vào má tôi, hơi mạnh một chút; tôi ngỡ mình sắp ngất; và tôi vừa thở dài vừa trả lời cô; tôi cảm thấy ngực tôi thắt lại và con mắt dịu dàng hơn.

Cô rời tôi ra để nhảy vào giường ngủ của cô, nói với tôi là cô bị lạnh. Trông đằng sau, cô giống con ngựa non lông trắng của thằng con ông quận trưởng cưỡi.

Tôi toàn nghĩ đến cô suốt trong lúc làm bài.

Có lần rất lâu tôi không gặp cô, cô trông nhà ở làng rồi đùng một cái cô đến, một buổi sáng, như một làn gió ùa tới.

“Tôi đây, cô nói, tôi đến để dẫn anh về nhà chơi! Nếu anh muốn về!”

Cô ôm hôn tôi! Tôi lấy môi cọ cọ vào đôi má hồng của cô, rồi sục vào cái cổ trắng ngần và trên ngực cô nổi gân xanh!

Vẫn cái mùi dâu chín ấy.

Cô đẩy tôi ra và tôi chạy đi thu nhặt ít quần áo tã và thay sơ-mi.

Tôi thắt ca-vát xanh và tôi ăn cắp kem xoa mặt của mẹ tôi để cả tôi cũng được thơm tho, và để cô áp đầu vào tóc tôi!

Gói hành lý xong, tôi đã bôi tóc và thắt ca-vát, nhưng tôi soi gương thấy mình xấu xí quá, tôi liền vò đầu cho tóc lại rối bung! Tôi nhét ca-vát vào đáy túi, và cổ áo phanh ra, mũ cát-két chúc xuống, tôi chạy ra để cô hôn tôi lần nữa. Tôi thấy buồn buồn nhưng tôi không nói cho cô biết.

Chú bé coi chuồng ngựa đã vỗ vào mông con ngựa, một con ngựa vàng, có những túm lông ở gần mông; con ngựa này là của dì Mariu, người ta thường cưỡi nó khi phải mang nhiều bơ, hoặc nhiều phó-mát xanh đi bán. Con vật chạy nước kiệu cứng đơ đơ, nhong nhong, nhong nhong! Nom như cổ nó sắp gẫy, lông bờm màu rêu lòa xòa trên mắt to như hai quả tim cừu.

Dì tôi hoặc cô em họ tôi cưỡi ngựa như đàn ông; bắp chân dì tôi gầy như những con thoi đen, bắp chân của cô em họ nom béo mịn trong bít tất len trắng.

Nào! Nào! Hò hò!

Chính cậu Jăng kéo cương và bắt con ngựa quay lại; con ngựa đã được ăn suất lúa mạch của nó và nó nhếch môi hí, để lộ bộ răng vàng khè.

Ngựa đã thắng yên.

“Đưa anh Jắc lên đây cho tôi”, Pôlôni nói, cô đã kéo được chiếc váy bông pha lơ trùm lên đầu gối và ngồi phệt lên chiếc yên da bóng loáng. Cô giúp tôi ngồi trên mông ngựa.

Tôi đã yên vị!

Nhưng người ta nhận thấy là tôi bỏ quên gói quần áo bọc trong miếng giẻ, để trên bàn quán hàng đầy những vết rượu tròn, ruồi bâu kín xung quanh.

Người ta đem gói quần áo ra.

“Cậu Jăng, buộc gói quần áo vào. Anh bé Jắc này, vòng tay ôm lấy người tôi, ôm thật chặt vào”.

Con ngựa tội nghiệp có bước băm rất sóc và xương nó rất cứng; nhưng lúc đó, tôi nhận thấy những điều nói trong truyện ngụ ngôn mà người ta bắt chúng tôi học thuộc lòng, là đúng.

Chúa làm cái gì tốt cái nấy!

Mẹ tôi, khi quất tôi, đã làm da tôi dầy như da thuộc.

“Ghì chặt vào, kia! Ghì mạnh nữa!”

Và tôi ghì chặt lấy cô em họ dưới chiếc khăn quàng màu, lấm tấm những bông hoa nhỏ như những con cánh cam vàng, tôi cảm thấy hơi ấm của làn da cô, tôi ôm vào chỗ thịt mềm mại. Tôi như thấy chỗ thịt ấy chắc lại dưới ngón tay tôi ấn vào, và lát sau, lúc cô quay lại nhìn tôi, môi he hé và cổ ngửa ra thì máu dồn lên đầu tôi, tóc tôi như bốc cháy.

Qua phố Xanh-Jăng tôi hơi lỏng tay ra một chút. Người ta thường lùa súc vật đi qua phố này, và chúng tôi cho ngựa đi bước một. Tôi rất hãnh diện. Tôi tưởng tượng là mọi người nhìn tôi, và tôi làm ra bộ một người biết cưỡi ngựa; tôi tì tay lên mông ngựa quay người lại, tôi thúc gót chân vào đùi ngựa và tôi kêu “đi đi”, như một anh lái ngựa.

Chúng tôi đã qua ngoại ô, qua hàng bán yên cương cuối cùng.

Chúng tôi đã đến Expayi!

Không còn nhà cửa nữa! Trừ một vài nhà trên cánh đồng! Hoa leo trên các bức tường, như những nụ hồng trên tà áo trắng; một ngọn đồi nho, và con sông bên dưới - trải dài như rắn dưới các bụi cây, có viền một dải cát, mịn hơn kem, và lỗ chỗ những hòn sỏi óng ánh tựa kim cương.

Phía chân trời là núi. Sườn núi đen, xanh rì rì lá thông, in hình lên nền trời xanh biếc có mây bay lờ lững như những dải lụa; một con chim, có lẽ là một con diều hâu, vỗ cánh rất mạnh rồi lơ lững trên không như một cục sắt treo ở đầu sợi dây.

Tôi sẽ nhớ mãi những khu rừng tối om ấy, con suối run rẩy, không khí ấm áp và con diều hâu to…

Tôi đã quên mất mình đang tựa quả tim hồi hộp vào lưng cô Pôlôni. Chính cô, cô em họ tôi, cũng có vẻ không nghĩ tới gì cả, và tôi chỉ nghe thấy mỗi tiếng vó ngựa và tiếng rống của một con bò cái…

Chú thích:

[9] Gọi tắt tên Amêli ( Amélie)

[10] Thợ dự bị, theo lệ, phải có kiệt tác, mới được công nhận là thợ chính thức.

« Lùi
Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của jules vallès