Trường học. - Như tất cả mọi trường học, như tất cả mọi nhà tù, trông ra một phố tối tăm, nhưng không xa Máctuarê, quảng trường Máctuarê, quảng trường to của chúng tôi, ở đó có tòa thị chính, chợ hoa quả, là nơi hò hẹn của tất cả đám trẻ con lêu lổng, niềm vui của thành phố. Hơn nữa đầu phố ấy ồn ào, có quán rượu, theo hồi ấy gọi là “nút chai” với một lõi cây, một bó cành dùng làm biển hàng. Từ những nút chai ấy lan ra tiếng cãi nhau, mùi rượu vang bốc lên đầu tôi, kích thích các giác quan, làm tôi thấy vui hơn và khỏe hơn.
Mùi rượu vang ấy! - Mùi thơm của các quầy rượu! - Đến nay mũi tôi vẫn còn phập phồng và ngực căng lên.
Những người uống rượu làm ầm ĩ, họ có vẻ phè phỡn với những dải vải ở roi ngựa và những đồ trang sức đầy áo. - Họ thét to vừa đốp tay nhau vừa rủa việc bán lợn hoặc bán bò.
Lại một nút chai nữa bật nổ, một chuỗi cười vang lên, và những cái chai chạm nhau lanh canh trong tay lão chủ quán! Mặt trời ném ánh vàng vào các cốc, lóa sáng một cúc áo, thiêu cháy một đám ruồi trong góc kia. Quán rượu la thét, tỏa hơi nồng, sặc mùi hôi, bốc khói và xôn xao.
Cách đó chừng hai phút đi bộ, trường học mốc meo, buồn thiu buồn chảy và nồng nặc mùi rượu; người ra, người vào đều tắt ánh mắt, hạ thấp giọng, nhẹ bước, để khỏi làm thương tổn tới kỷ luật, phá rối im lặng, quấy rày buổi học.
Cái mùi già lão làm sao!...
Chính cô Balăngđrô dẫn tôi tới đó. - Mẹ tôi bị ốm. - Người ta sửa soạn làm cho tôi trước khi đi, và tôi sắp phải tự giam hãm trong đó tới tám giờ tối. Tới giờ ấy, cô Balăngđrô tới đón tôi về. Một đôi khi tôi rất buồn, và tôi vừa nức nở vừa kể cô nghe những phiền muộn của tôi.
Thầy tôi coi phòng học thứ nhất[11], phòng của học sinh toán, tu từ học và triết học. Thầy tôi không được mọi người yêu, người ta bảo thầy tôi gấu.
Thầy tôi đã xin ông hiệu trưởng cho phép để tôi ngồi học ở phòng thầy tôi, bên cạnh bục, và tôi ngồi đó, cặm cụi làm bài bên thầy tôi, trong lúc thầy tôi chuẩn bị thi thạc sĩ.
Thầy tôi để tôi ngồi với mình là sai lầm. Đám học sinh lớn không có gì độc ác lắm đối với tôi; họ thấy tôi bẽn lẽn, sợ sệt, chăm chỉ; họ không nói điều gì làm tôi buồn bực, nhưng tôi nghe thấy những câu họ nói về thầy tôi, tên họ đặt cho thầy tôi; họ chế giễu cái mũi to của thầy tôi, chiếc áo choàng cũ kỹ, họ làm thầy tôi thành khôi hài trước mắt tôi, và tôi khổ tâm mà thầy tôi không biết.
Những lúc ấy, đôi khi thầy tôi gắt với tôi: “Mày làm sao vậy? - Trông cái thằng mới ngốc nghếch chứ!”
Chẳng là tôi vừa nghe thấy thầy tôi chửi, và tôi đang cố nhịn một tiếng thở dài, mất một giọt nước mắt.
Thầy tôi hay sai tôi, trong buổi học tối, đi mượn sách, mang thư đến cho một giám thị khác ở cuối sân, tít đằng xa kia… Trời tối đen, gió thổi; đôi khi phải trèo lên các tầng gác, qua một hành lang dài, một cầu thang tối om, thật là cả một hành trình: người ta núp trong các xó xỉnh để dọa tôi. Tôi làm ra vẻ mạnh bạo, nhưng tôi chỉ thật yên trí khi đã quay về phòng học ngột ngạt.
Đôi khi tôi ngồi ở đó một mình, hôm nào cô Balăngđrô đến đón chậm. Học sinh đã đi ăn bữa tối, do thầy tôi dẫn đi.
Thì giờ đối với tôi mới dài làm sao! Thật là trống trải, câm lặng, và nếu có ai đến thì lại chỉ là bác thắp đèn vốn cũng không ưa gì thầy tôi, không hiểu tại sao: một bác già có bướu, đội chiếc cát-két bằng da súc vật và mặc chiếc áo xám như áo tù; người bác sặc mùi dầu, lúc nào bác cũng lảu bảu trong miệng, nhìn tôi với con mắt dữ tợn, giật phắt lấy chiếc ghế tôi đang ngồi, không báo trước cho tôi biết, đặt chiếc đèn dầu lên vở của tôi, vứt chiếc áo choàng của tôi xuống đất, ẩy tôi sang một bên như xua con chó và đi ra không nói một lời. Tôi cũng không nói gì, và khi thầy tôi trở lại, tôi cũng không nói gì. Người ta đã dạy tôi không nên “hớt lẻo”. Tôi không hớt lẻo, tôi sẽ không bao giờ hớt lẻo suốt hồi đi học, vì thế mà tôi sẽ nhiều phen bị các thầy giáo của tôi hành hạ.
Thêm nữa, tôi không muốn rằng, vì người ta đã làm khổ tôi, thì thầy tôi cũng phải khổ, và tôi giấu thầy tôi chuyện người ta ngược đãi tôi, để thấy tôi khỏi phải cãi nhau với họ về tôi. Bé xíu, tôi cảm thấy có một bổn phận phải làm tròn, sự nhạy cảm của tôi đã khiến tôi hiểu ra rằng tôi là con nhà hèn hạ, tệ hơn thế nữa, con nhà cai ngục! Và tôi chịu đựng sự ngược đãi của bác thợ đèn.
Tôi nghe, mà không tỏ vẻ là nghe thấy, những lời chế nhạo thầy tôi; thật là cực đối với một đứa bé mười tuổi.
Có những buổi tối khi người ta chậm đến đón, tôi đói lắm. Nhà ăn tỏa mùi thịt nướng, tôi nghe vọng qua sân tiếng đĩa lách cách.
Tôi nguyền rủa cô Balăngđrô biết chừng nào!
Sau này tôi biết là người ta đã cố ý giữ cô lại; mẹ tôi đã quả quyết với thầy tôi rằng, nếu thầy tôi không phải là đồ hèn, thầy tôi đã có thể cho tôi ăn bữa tối bằng những thức thầy tôi ăn thừa còn lại, hoặc với những thức ăn xin thêm của nhà ăn.
“Phải tay mẹ tôi thì việc này đã làm từ lâu rồi. Thầy tôi chỉ việc gói mọi thức vào một tờ giấy. Mẹ tôi sẽ đưa cho thầy tôi một cái hộp, nếu thầy tôi muốn.”
Thầy tôi nhất định không chịu - con người tội nghiệp. Sợ bị trông thấy! Bị chê cười nếu người ta bắt gặp - xấu hổ! Mẹ tôi thỉnh thoảng lại cố ép thầy tôi, bằng cách để tôi ngồi đói trong phòng trông coi học sinh của thầy tôi vào giờ bữa ăn tối. Thầy tôi không nhượng bộ, thà để tôi chịu khổ một chút còn hơn, và thầy tôi làm thế là đúng.
Tuy nhiên tôi nhớ có một lần thầy tôi lẻn ra khỏi nhà ăn, đem về cho tôi một miếng sườn lợn tẩm bột rán giấu trong một quyển vở làm bài: thầy tôi có vẻ rất bối rối và bỏ đi rất xúc động! Tôi vẫn còn nhìn thấy cái nơi ấy, tôi còn nhớ màu quyển vở, và sau này, tôi đã tha thứ khá nhiều lầm lỗi của thầy tôi, vì nhớ đến miếng sườn rán lấy trộm cho con ấy, một tối, tại trường trung học tỉnh Puy…
Ông hiệu trưởng tên là Henơcanh, - do mất lòng quan trên mà bị đuổi tới cái xó xỉnh Puy này.
Ông đã viết một quyển sách: Nghỉ hè của Ôxca.
Người ta lấy sách đó để phát phần thưởng, và do tôi đã nghe nói và đã đọc về những người là sáng tác gia, tôi mang một niềm tôn kính sâu sắc, một cảm phục thầm lặng đối với tác giả quyển Nghỉ hè của Ôxca, đã hạ cố về làm hiệu trưởng tại thành phố nhỏ bé của chúng tôi, hiệu trưởng của thầy tôi, và thường chào mẹ tôi mỗi lần gặp.
Tôi đã ngốn quyển Nghỉ hè của Ôxca.
Bây giờ tôi còn như trông thấy quyển sách bìa xanh, một màu xanh vân cẩm thạch trắng ra ngón tay nhơm nhớp, gáy da trắng, mở trang rất khó, in trên giấy nến. Ấy thế mà từ những trang sách ấy, từ quyển sách khốn khổ ấy, đã giội vào ký ức tôi một cảm giác tươi mát mỗi lần tôi nghĩ đến nó!
Trong sách có một chuyện đi câu mà tôi không hề quên.
Một chiếc lưới to lấp lánh dưới mặt trời, những giọt nước lăn như những hòn ngọc, những con cá quẫy trong mắt lưới, hai người thuyền chài lội dưới nước tới thắt lưng, ấy là sự gợn mình của con sông.
Ông Henơcanh ấy, ông hiệu trưởng bị giáng chức, người ca ngợi chú bé Ôxca ấy, ông đã biết kéo chiếc lưới to đó suốt một trang sách, và cho con sông nọ chảy vào một góc chương…
Giáo sư triết học - ông Bêlibăng - người nhỏ bé, mảnh dẻ, đầu chỉ bằng quả đấm với ba sợi tóc, và chút dấm chua trong giọng nói.
Ông thích chứng minh là có Thượng đế, nhưng nếu ai đưa ra một lý lẽ, dù là tán thành ông, ông cũng kêu là quấy rầy ông, ông cần phải có tất cả cái mặt bàn, như để bói bài vậy.
Ông chứng minh có Thượng đế, bằng những mẩu gỗ nhỏ, những hạt đậu.
“Ta đặt ở chỗ này một hạt đậu, đó! - Chỗ kia, một que diêm. - Bà Vanhtrax, xin bà một que diêm! - Và bây giờ sau khi tôi đã xếp những thói xấu của con nguồi và chỗ này, những đức tốt vào chỗ kia, giờ tôi đến mục những tính năng của linh hồn”.
Những ai không hiểu chuyện nhìn ra cửa xem có ai vào nhà, hoặc nhìn vào túi ông ta xem có gì trong đó sắp tòi ra không. Những tính năng của linh hồn, đây là cái món cao siêu, thượng hạng đây! Mẹ tôi rất khoái trá.
“Những tính năng đó, đây này!”
Người ta không đừng được, vẫn lại quay ra, để chào các bà ấy, nhưng ông Bêlibăng nắm lấy cúc áo choàng của anh kéo lại và nóng nẩy vỗ lên mặt bàn. Ông cần phải có sự chú ý của người. Quái thật! Có muốn để ông chứng minh là có Thượng đế không nào, có hay không!
“Tôi thì chuyện này tôi dửng dưng, còn ông thế nào?”, chú Jôdép nói với người ngồi cạnh, người này suỵt bảo im, và nghển cổ để nhìn cho rõ hơn.
Chú tôi uể oải thọc tay vào túi và nhìn ruồi bay.
Nhưng vị giáo sư của Chúa lòng lành nhất định muốn chú tôi đứng về phía ông ta và kéo chú tôi trở về vấn đề, níu lấy chú tôi bằng cách đánh vào tự ái và bám vào nghề nghiệp của chú.
“Sađơna, ông vốn là thợ mộc, ông biết rằng với chiếc com-pa…”
Đành là phải đi tới cùng: cuối cùng con người nhỏ bé ấy đẩy lui ghế ra, giơ tay chỉ vào một góc bàn nói: “THƯỢNG ĐẾ Ở KIA”.
Người ta lại nhìn, mọi người cuống lên để nhìn: tất cả các hạt đậu đã dồn vào cùng một góc với các que diêm, nút chai và vài thức bẩn thỉu khác, đã dùng vào việc chứng minh Thượng đế tối cao.
Hình như các đức tốt, tật xấu, tính năng của linh hồn tất thảy rốt cuộc đều dồn cả vào cái đống kia không-sao-tránh-nổi. Tất cả mọi hạt đậu đều nằm trong đó. Vậy là có Thượng đế. Chính đó là điều cần chứng minh.
Chú thích:
[11] Đây là buổi tự học của học sinh ở ký túc xá