Một hôm, một lữ khách đã coi tôi như một kỳ quan của địa phương, và từ xa trông thấy tôi, đã phóng ngựa tới. Người đó kinh ngạc tột độ khi nhận thấy tôi còn sống. Ông ta xuống ngựa, và quay sang mẹ tôi, lễ phép nhờ mẹ tôi làm ơn cho tôi biết địa chỉ của người thợ may đã may quần áo cho tôi.
“Chính tôi đấy”, mẹ tôi đáp, đỏ mặt vì hãnh diện.
Người cưỡi ngựa lại lên đường và chúng tôi không còn gặp lại ông ta nữa.
Mẹ tôi hay kể cho tôi nghe về câu chuyện này, về cái ông đang đi phải ngoặt lại để hỏi xem ai may quần áo cho tôi đấy.
Tôi hay mặc đồ đen, “không gì bền bằng đồ đen”, mà lại là mặc kiểu lễ phục, áo đuôi tôm, đội mũ cao hình ống; trông tôi giống như một cái bếp lò.
Tuy nhiên, vì tôi mặc chóng hại quần áo, người ta đã mua cho tôi một thứ vải vàng lờm xờm lông ở nhà quê, đem bọc lấy người tôi. Tôi đóng vai ông đại xứ nước Lapôni (lapon). Người lạ chào tôi; các nhà bác học nhìn tôi.
Nhưng vải may quần của tôi khô lại, cứng nhắc, làm tôi sầy da và chảy máu.
Chao ôi! Tôi không phải là sống nữa, mà là lê lết.
Tất cả các trò chơi của trẻ con, tôi đều bị cấm. Tôi không thể chơi trốn đuổi, chạy, nhẩy, đánh nhau. Tôi bò đi, vô tích sự, thui thủi một mình, bị đứa này chửi, đứa kia thương hại! Và ở ngay giữa thành phố chôn rau cắt rốn, năm mười hai tuổi, bị cô lập trong chiếc quần đó, tôi đã được nếm mùi đau khổ âm thầm của tình trạng sống lưu vong.
Bà Vanhtrax (Vingtras) đôi khi lại còn nghịch tinh.
Trong ngày hội giả trang, tôi được mời tới dự cuộc khiêu vũ của thiếu nhi. Mẹ tôi mặc quần áo cho tôi theo kiểu người làm than. Tới lúc dẫn tôi đi, mẹ tôi có việc phải đi nơi khác; nhưng mẹ tôi đưa tôi tới cổng nhà ông Puytxơga, nơi tổ chức khiêu vũ.
Tôi không thuộc đường và bị lạc trong vườn; tôi gọi ầm lên.
Một cô hầu gái tới bảo tôi:
- “Em Suflu (Choufloux) đấy à, em đến để phụ bếp phải không?”
Tôi không dám nói không, và người ta sai tôi rửa bát đĩa suốt đêm.
Tới sáng, mẹ tôi đến đón tôi khi tôi vừa rửa cốc xong; người ta bảo với mẹ tôi là không ai trông thấy tôi cả; người ta đi tìm khắp mọi chỗ.
Tôi chạy vào buồng để định ôm lấy mẹ tôi: nhưng trông thấy tôi, bọn con gái nhỏ thét lên, có bà bị ngất, sự xuất hiện của tên lùn này, lũn cũn đi qua những bộ quần áo mới tinh, có vẻ kỳ quái trước mắt tất cả mọi người.
Mẹ tôi không muốn nhận tôi nữa; tôi bắt đầu ngỡ mình mồ côi!
Tuy nhiên tôi chỉ cần kéo mẹ tôi ra một xó nhà và vạch cho mẹ tôi thấy một chỗ nào đó chẳng chịt sẹo và tím bầm, là mẹ tôi sẽ phải kêu lên ngay lập tức: “Đúng là con trai tôi!”. Một chút e thẹn còn sót lại đã ngăn tôi không làm thế. Tôi chỉ ra hiệu và đã làm cho mẹ tôi hiểu.
Người ta đem tôi đi như người ta buông màn sau một cảnh quái dị.
Ba ngày nữa sẽ phát phần thưởng.
Thầy tôi, nắm được bí mật của các bề trên, biết là tôi sẽ có phần thưởng, người ta sẽ gọi con mình lên bục, sẽ đặt lên đầu nó một vòng hoa quả to, nó nhấc được ra thì cũng phải xước trán, và nó sẽ được một vị quyền thế nào đó hôn lên hai má.
Bà Vanhtrax biết chuyện đâm nghĩ ngợi lan man…
Bà sẽ ăn mặc cho hạt máu của bà, con trai bà, thằng Jắc của bà như thế nào đây? Phải làm cho nó nổi bật, cho mọi người chú ý đến nó - nhà mình nghèo thì nghèo, nhưng sành ăn sành mặc.
“Tôi thì trước nhất, tôi muốn con tôi phải ăn mặc đẹp đẽ.”
Người ta lục trong cái tủ đứng to cất chiếc áo cưới những vỏ bọc ố, các mụn váy còn lại, những mảnh lụa.
Cuối cùng mẹ tôi sứt tay trên một thứ vải lòe loẹt có vằn hổ khi phơi ra nắng; - một thứ vải nó ráp tay như mặt dũa, ra ngoài trời thì sáng loáng như một chiếc xoong! Quả là một thứ vải đẹp của bà tôi ngày trước, giá đắt như vàng. “Phải, con ạ, hồi xưa đắt như vàng đấy”.
“Jắc (Jacques), mẹ sẽ may cho con chiếc áo rơđanhgốt (redingote là một loại áo choàng dài) bằng thứ vải này, mẹ nhường cho con đấy!...” và mẹ tôi khoan khoái liếc nhìn tôi, lắc đầu, cười, nụ cười của những người sung sướng chịu hy sinh.
“Như thế là nuông ông lắm đấy, ông ạ”, và mẹ tôi lại mỉm cười, và lắc lư đầu, và đôi mắt mẹ tôi tràn đầy âu yếm.
“Thế này phí quá! Mặc! Cứ lấy vải này may áo rơđanhgốt cho thằng Jắc.”
Người ta đã thử áo cho tôi, tối hôm qua, và tay tôi chảy máu, móng tay bị xước. Thứ vải ấy chói mắt và cọ vào da mới đau làm sao!
“Lạy Chúa! Hãy giải thoát tôi khỏi chiếc áo này!”
Trời không nghe thấy tiếng tôi kêu! Chiếc áo rơđanhgốt này đã xong.
Không, Jắc ạ, chiếc áo chưa xong. Mẹ mày hãnh diện về mày; mẹ mày yêu mày và muốn tỏ cho mày thấy.
Mày tưởng mẹ mày để yên cho mày chui vào chiếc áo rơđanhgốt, mà không tô điểm thêm một nốt ruồi, một búp len, một cái gì đó trên ve áo, ở sau lưng áo, ở cổ tay áo à! Thế là mày không biết mẹ mày rồi, Jắc ơi!
Mày không thấy mẹ mày, vừa hãnh diện vừa nhũn nhặn, đang đùa nghịch với những cái hột xanh kia ư?
Bà mẹ Jắc lại còn “cù kỳ” vào cổ cậu con trai nữa.
Thằng con không cười. - Những hột kia làm nó sợ quá!...
Những hột ấy là những cúc áo, màu xanh đậm, xanh tươi, hình trái ô-liu, mà người ta sắp sửa - đấy, bà Vanhtrax có tiếc cái gì đâu! - Người ta sắp sửa khâu suốt chiều dài chiếc áo, theo kiểu Ba-Lan! Jắc ạ, theo kiểu Ba-Lan!
Ôi chao! Nếu sau này Jắc có tỏ ra nghiệt ngã với dân Ba-Lan, thì có gì đáng ngạc nhiên! Tên nước ấy, các bạn xưa, đã lưu lại trong đầu đứa bé, gắn liền với một kỷ niệm ghê gớm… Chiếc áo rơđanhgốt của ngày phát phần thưởng, chiếc áo rơđanhgốt đầy hột, những cúc hình bồ dục nom như quả ô-liu và xanh như dưa chuột.
Các bạn hãy thêm vào đó là người ta còn chụp lên đầu tôi chiếc mũ ống mà tôi đã chải ngược tuyết và nó ngất ngưởng trên đầu tôi như để nát người ta.
Có người ngỡ đấy là tóc tôi và phân vân tự hỏi không biết tôi cáu giận gì mà tóc dựng ngược lên thế. “Nó đã trông thấy quỷ”, các bà mộ đạo vừa lẩm bẩm vừa làm dấu…
Một chiếc quần trắng có may cả lót chân!
Những cái lót chân trông như chân giả căng quần đến rách.
Trời hôm ấy mưa, và vì mọi người đi nhanh tới trường, nên tôi bị bùn bắn vào bắp chân, và chiếc quần trắng ướt nhiều chỗ, dán chặt vào đùi.
“CON TRAI TÔI”, mẹ tôi nói giọng đắc chí, lúc tới cổng trường và ẩy tôi lên trước.
Người soát giấy mời ngã ngửa người. Và cúi xuống tìm tôi dưới chiếc mũ ống, ngắm nghía chiếc áo rơđanhgốt và giơ hai tay lên trời.
Tôi bước vào phòng.
Tôi nắm vào lòng mũ để bỏ mũ ra; mọi người có thể nhận ra tôi, đúng là tôi, không thể nào lầm lẫn được và về sau không bao giờ tôi còn chối được là tôi không có mặt ở đấy.
Nhưng lúc tôi định trèo qua một chiếc ghế dài để tới chỗ lớp tôi ngồi, thì bỗng một bên dải đứt, và ống quần co lên như dây chun; ống chân tôi lòi ra, - lúc này nom tôi như mặc quần đùi, - các bà sượng sùng vì thấy tôi trắng trợn thế, vội lấy quạt che mặt...
Từ trên bục cao, người ta nhận thấy có sự lộn xộn ở cuối phòng.
Các nhà chức trách thầm thì vào tai nhau, viên tướng đứng dậy nhìn: người ta tự hỏi vì sao mà ồn ào.
“Jắc, kéo quần xuống”, vừa lúc ấy mẹ tôi nói, giọng như bắn vào tôi và vang lên như một tiếng nổ trong im lặng.
Tất cả mọi con mắt dồn xuống nhìn tôi.
Dù sao việc lôi thôi này cũng phải chấm dứt. Một võ quan kiên quyết hơn cả ra lệnh:
“Đem thằng bé mang dưa chuột ra ngoài!”
Mệnh lệnh được thi hành kín đáo; tôi đang tuyệt vọng núp dưới gầm ghế, người ta kéo tôi ra, vợ ông tổng giám thị có mặt ở đấy, dẫn tôi với mẹ tôi tới kho quần áo, rồi cởi quần cho tôi.
Mẹ tôi nhìn tôi thương hại tôi nhiều hơn là giận dữ.
“Khốn khổ thân mày, con ạ! Ngữ mày không ăn mặc tử tế được đâu.”
Mẹ tôi nói như tôi bị một cố tật, bà có vẻ một ông thầy thuốc bỏ rơi con bệnh của mình.
Tôi để cho mọi người làm. Người ta nhét tôi vào bộ đồ của một thằng bé, và thằng bé này vẫn còn là lớn quá, vì tôi bơi trong bộ quần áo thùng thình. Lúc tôi trở lại phòng phát thưởng, mọi người lại tưởng rằng đây là một trò lỡm.
Lúc nãy tôi có vẻ một con báo gấm, bây giờ tôi có vẻ một ông cụ già. Ắt có chuyện gì đằng sau.
Tiếng xì xào lan đi trong vài góc phòng, rằng tôi là con trai của tên làm trò ảo thuật vừa tới thành phố, và muốn làm mọi người chú ý bằng một trò mới. Lời giải thích đó lan rộng, may sao người ta biết tôi, biết mẹ tôi; chuyện cũng đến phải rõ rành, tiếng xì xào tự nó tắt đi, và cuối cùng người ta quên tôi.
Tôi im lặng ngồi nghe các diễn từ, vừa lấy ngón tay ngoáy mũi, nhưng rất khó khăn vì tay áo dài quá.
Vì cơn dông, lễ phát phần thưởng phải làm trong một phòng ngủ - người ta đã nhấc giường đem chất đống với các thứ phụ tùng khác tại phòng bên. Người ta nhìn được vào phòng này qua một cửa kính đáng lẽ phải có rèm che nhưng không có; người ta trông thấy hàng chồng “bô”, những “bô” đi tiểu dùng suốt năm, nhưng tới ngày hè người ta kéo từ các gậm giường ra xếp lại, thành một hình kim tự tháp trắng.
Đấy là góc nhà nom vui mắt nhất; một ánh mặt trời ranh mãnh đã chọn đúng bụng một chiếc “bô” để giễu cợt, soi mình làm dáng, nhảy nhót, gã tinh quái, hắn nô giỡn đến hả hê!
Quay lưng vào phòng đó là cái bục với nhân viên của hàng quán, tôi muốn nói của nhà trường: - Đức cha ngồi giữa, ông tỉnh trưởng bên trái, viên tướng bên phải, đeo lon, nhuộm tím, cắm lông ngù trắng, dát vàng như những kỵ sĩ ở rạp xiếc Buto. Khốn nỗi, không có lạc đà.
Tôi ngỡ trông thấy một con voi; đấy là một công chức cao cấp, đầu, ngực, bụng và chân đều mầu da voi, nhưng chức vụ của ông là chánh đoan, hoặc quan ba cảnh sát gì đó, tôi không nhớ. Ông ta to như cái thùng rượu, thở phì phò như con hải cẩu; ông ta rất giống hải cẩu.
Chính ông ta phát cho tôi giải thưởng về môn Thánh sử. Ông bảo: “Tốt, con ạ!” Tôi ngỡ ông sắp xưng “bố” và lại trầm mình vào cái thùng của ông.