Trong dịp nghỉ hè, tôi được vui chơi một chút tại nhà bác Xubâyru (Soubeyrou), rồi ở Farâyron (Farreyrolles) .
Bác Xubâyru là một người trồng rau trong vùng.
Mỗi tuần ba lần thầy tôi dạy con trai bác làm vườn ấy học, và vì thằng bé ốm yếu, ít đi chơi, người ta mới nhờ tôi thỉnh thoảng tới chơi với nó.
Tôi tìm con đường dài nhất để đến nhà nó.
Thế là tôi được tự do!
Đây không phải là sai tôi đi mua một cái gì, với lệnh phải về ngay tức khắc và không được đánh vỡ; không phải ai kèm, ai coi, ai giục, tôi tuột theo chiếc lan can bằng sắt mà xuống phố.
Không. Tôi có nhiều thì giờ, một buổi chiều, cả một buổi chiều.
“Mày có thích đến nhà bác Xubâyru không? Mẹ tôi hỏi. - Có, mẹ ạ.”
Nhưng là một tiếng có chậm rãi, một tiếng có đi kèm với một cái bĩu môi.
Ấy! Nếu tôi vội nói là tôi thích, rất có thể mẹ tôi sẽ cấm không cho tôi đi nữa.
Nếu là cái gì làm tôi chán, tởm, có thể làm tôi phát khóc, mẹ tôi sẽ bắt tôi làm ngay lập tức.
“Không nên để cho trẻ con có ý muốn riêng; chúng phải làm quen với tất cả mọi thứ. - Chà! Những trẻ được nuông chiều! Bố mẹ mà cứ để mặc con thích gì làm nấy là rất có tội ... “.
Tôi nói: “Có, mẹ ạ”, theo cách để mẹ tôi ngỡ là không, và tôi nhăn nhó để mẹ tôi vừa mặc quần áo cho, vừa mắng mỏ.
Tôi xuống phố.
Tôi không dừng lại ở Máctuarê (Martouret), vì mẹ tôi có thể nhìn thấy tôi qua các cửa sổ nhà tôi, cao ngất nghểu trên kia, ở tầng thượng một tòa nhà cao nhất thành phố.
Tôi làm ra vẻ ngoan ngoãn và vội vã khi qua chợ; nhưng tới phố Poóctơ-Eghie (Porte-Aiguière), tôi núp vào đằng sau một ông to béo đầu tiên đi qua, và tôi bước vào sân quán Ngựa trắng (Cheval-Blanc).
Đứng trong sân đó, tôi nghé nghìn thấy phố, và tôi tha hồ ngắm cửa hàng của bác bán đồ yên cương ngựa, có hàng đống những chiếc roi to mầu xì-gà và những yên ngựa lấp lánh như vàng.
Tôi núp một thời gian cần thiết để xem mẹ tôi có còn ở cửa sổ và theo dõi tôi nữa không; rồi, lúc cảm thấy mình được tự do, tôi rời khỏi sân quán Ngựa - Trắng và đi ngắm các cửa hàng bằng thích.
Có một bác hàng nồi đang đập búa trên lá đồng đỏ đẹp, vết búa để lại trên đồng nom như móng của con ngựa cái lốm đốm, và tiếng đập kêu “choang choang” trên nền gạch; mỗi nhát búa lại làm tôi phải nhăn mặt, chớp mắt.
Rồi đến cửa hiệu của bác Ácnô (Arnaud), bác thợ giầy, có treo một chiếc ủng xanh làm bảng hàng, một chiếc ủng to, cong cong, có đinh thúc ngựa và chùm tua vàng; trong tủ kính bày la liệt những giầy sa tanh xanh biếc, giày màu mận với những chiếc nơ như những bó hoa, và trông chúng như sống vậy.
Bên cạnh là những giầy vải trông giống như giầy Nôen.
Nhưng con trai bác làm vườn đang chờ.
Tôi đành phải dứt ra khỏi những mùi xi và những ánh loang loáng của da đánh bóng.
Tôi đi theo phố Brơi (Breuil)...
Có một bác đánh giầy ai cũng biết, mọi người gọi bác là Hai Ria.(Moustache)
Ước mơ của tôi là một ngày kia được để cho bác Hai Ria đánh giầy, tôi sẽ tới đó như người lớn, chìa chân ra cho bác - không run, nếu có thể - và làm như vốn quen với sự sang trọng đó, lơ đãng móc tiền trong túi ra, nói như những ông vẫn quăng cho bác hai xu:
Để làm tí cay, bác Hai Ria ạ!
Tôi không bao giờ làm nổi vậy; tuy nhiên tôi vẫn tập thử!
Để làm tí cay, bác Hai Ria ạ!
Tôi thử uốn giọng theo đủ các kiểu; tôi nghe tôi nói, tôi lắng tai, tôi tập trước gương, giơ tay làm bộ điệu:
Để làm tí cay...
Không, tôi không thể làm nổi!
Nhưng mỗi lần đi qua mặt bác Hai Ria, tôi dừng lại để nhìn bác; tôi làm quen dần, tôi lượn đi lượn lại xung quanh hộp đánh giầy của bác; có lần bác mời tôi rất to:
Đánh giầy chứ, ông?
Tôi suýt ngất.
Tôi không có hai xu - mãi sau đến ở một thành phố khác, tôi mới gom góp được số tiền ấy - và tôi đành phải lắc đầu, làm hiệu trả lời, với cái cười nhạt như của một người phụ nữ muốn nói: “người ta cấm em yêu!”
Cuối Brơi là xưởng thuộc da với những nắm than bùn, những bộ da phơi, và cái mùi chua loét của nó.
Tôi rất thích cái mùi ấy, lưng lửng, cay như tương cải, xanh ngắt - nếu có thể nói được là xanh, - như những bộ da đang thối inh ỉnh trong chỗ ẩm thấp hoặc đang phơi ráo mồ hôi ngoài nắng.
Sau này, khi trở lại thành phố Puy, từ rất xa, tôi đã đoán ra và ngửi thấy mùi của xưởng thuộc da ở Brơi. Mỗi lần gặp một xưởng thuộc da trên đường tôi đi, từ cách xa hai dặm tôi đã đánh hơi thấy, và tôi cảm kích hướng mũi về phía đó.
Tôi không còn nhớ con đường, tôi không biết tôi đã qua những đâu, và thành phố chấm dứt như thế nào.
Tôi chỉ còn nhớ là tôi men theo một cái hào hôi thối, và tôi băng qua một đám cây cỏ không thơm tho gì.
Tôi tới xứ sở của những bác làm vườn. Xấu xí làm sao, xứ sở của các bác trồng rau!
Tôi yêu những bãi cỏ xanh, dòng nước chảy, mầu xanh tươi của các bờ rào bao nhiêu, tôi càng kinh tởm bấy nhiêu cái vùng quê này, cây thì thấp lè tè, cỏ thì nhợt nhạt mọc như râu ông già, trên đất cát hoặc đất bùn, ở rìa thành phố.
Vài chiếc lá vàng úa, khô, lở láy, rũ xuống với mầu sắc của vành tai người ho lao.
Người ta đã làm ô uế tất cả mọi chỗ, và chốc chốc người ta lại khua lên từng đám sâu bọ đang đánh chén một con chó chết.
Không có bóng mát!
Những quả dưa nom như những viên đạn trái phá nung trắng; những bắp cải đỏ, tím, - tưởng chừng như bị sung huyết, - mùi tỏi tây và mùi hành!
Tôi tới nhà ông Xubâyru.
Tôi chơi với thằng bé ốm, trong nhà kính trồng rau. Trông nó xanh xao, nụ cười cởi mở và răng dài nghêu, lòng trắng mắt lấm tấm vàng: nó phô với tôi một đống sách mà người ta mua cho nó đọc đỡ buồn.
Một quyển Êdốp[13] với những tranh khắc tô mầu.
Tôi có nhớ một bức tranh vẽ thần gió bấc Bôrê, Mặt trời và một du khách.
Người du khách đổ mồ hôi mầu sôcôla ròng ròng trên trán và mặc áo choàng rộng thùng thình mầu cặn rượu vang.
“Mày có muốn giúp tao tưới bắp cải cho vui không?” bác Xubâyru hỏi tôi, hai tay cầm hai bình tưới, quần sắn cao, chân đi đất suốt từ sáng.
Bắp chân bác lắm lông và cháy nắng, trông giống chiếc móng giò thui; áo sơ-mi bác mặc ướt đẫm và những giọt nước lắn trên lông ngực bác.
Không, tôi không muốn giúp bác tưới bắp cải cho vui!
Nếu bác thấy vui thì kệ bác!
Tôi không muốn làm bác Xubâyru cụt hứng, tôi liền trả lời bác bằng một câu nói dối.
“Cháu ngã hôm qua, bị đau lưng...”
Tôi thích bắp cải, nhưng là bắp cải nấu kia.
Không phải tôi trốn cái thùng giặt, đống bát đũa ở nhà mình, để đi kéo nước ở nhà người khác.
Suốt cả tuần tôi kéo đã khá nhiều nước, và người tôi cũng đã sặc mùi hành rồi.
Không, ông Xubâyru ạ, tôi sẽ không theo ông tới cái giếng ở đàng kia: tôi sẽ không quay cái tay quay, không kéo thùng lên, tôi sẽ không làm cái công việc trồng vườn lương thiện đâu.
Tôi hư hỏng mất rồi, biết làm thế nào!
Nhưng tôi không muốn kéo nước!
TRƯỚC TIỆM CÀ-PHÊ VẬN TẢI
Lúc về, tôi đi vòng thật xa và đi qua trước tiệm cà-phê Vận tải.
Biển hàng viết theo kiểu mỗi chữ thành một hình, hình một người đàn bà, một nông dân, một người lính, một thầy tu, một con khỉ.
Chữ sơn mầu nước thuốc lá, trên nền xám, và là cả một câu chuyện tiếp diễn bắt đầu bằng chữ C của Cà-phê tới chữ I cuối cùng của Vận tải.
Tôi chưa khi nào có thì giờ để hiểu.
Tôi phải về.
Mà trong lúc tôi nhìn biển hàng, trong lúc trí tò mò của tôi nhận xét từ chiếc váy nhỏ của người đàn bà, chiếc cổ cồn to của bác nông dân, túi đạn của chú lính, miếng vải trước ngực của ông cha xứ, cái đuôi của con khỉ, thì quanh tôi người ta đóng ngựa, người ta rửa xe; những mã phu, lính trạm và xà ích làm công việc của họ, chải ngựa, quất roi hoặc bóp còi.
Hành khách tới ngồi yên vị trên xe và giữ chỗ.
Một đôi khi tôi có mặt ở đó vào lúc xe đến: xe chở khách chạy qua phố Brơi ầm ầm như tiếng địa ngục, bụi bay mù mịt, hoặc bùn bắn tứ tung.
Một đám phu khuân vác bâu đến để tranh nhau hành lý, và từ mạn sườn vàng của nó, chiếc xe mửa ra những con người bị ê ẩm xuống đứng duỗi tay duỗi chân trên lề đường.
Họ ôm hôn một người họ hàng, một người bạn, người ta bắt tay nhau, hôn nhau; nào là vĩnh biệt, tạm biệt kéo dài mãi tưởng không bao giờ dứt.
Dọc đường người ta đã làm quen với nhau; có những ông lưu luyến chào những bà dè dặt trả lời.
“Tôi sẽ được hân hạnh gặp lại bà ở đâu”
- Có thể chúng ta sẽ gặp lại nhau. À! mẹ tôi đến kìa.
- Chồng tôi đây.
- Kia anh tôi đến với chị dâu tôi.”
Có những người Ăng-lê không nói gì cả và những người ra hàng nói huyên thuyên.
Tất cả mọi người náo động, chạy biến như những con bọ khi tôi nhấc một hòn đá bên bờ ruộng.
Tuy nhiên tôi thấy có những người đứng nguyên tại chỗ, ngong ngóng nhìn về phía đại lộ và phía Brơi, đợi một người nào đó không đến.
Có người nguyền rủa, có người khóc.
Tôi còn nhớ một người đàn bà, gương mặt thanh thanh, dài và xanh xao.
Chị chờ rất lâu...
Tôi đi rồi chị vẫn còn chờ. Chắc không phải là chờ chồng, vì trên chiếc hòm con để dưới chân có đề chữ: “Cô”
Mấy hôm sau tôi lại gặp cô ta ở sở bưu điện; hoa trên mũ cô đã héo, chiếc áo lên mêrinốt [14] đen đã có ánh đỏ hoe, đôi găng tay bợt trắng ở đầu ngón tay. Cô hỏi xem có thư gửi về địa chỉ thế này không: hòm thư lưu.
“Tôi đã nói với chị là không mà.
- Hôm nay không còn thư đến nữa à?
- Không.”
Cô chào, mặc dù người ta thô lỗ, thở dài và đi ra ngồi trên ghế dài của hiệu Móng-ngựa, và cứ ngồi đấy mãi cho tới lúc bọn sĩ quan đi qua, họ nhìn và cười làm cô phải đứng dậy bỏ đi.
Vài hôm sau, ở nhà tôi người ta nói bên bờ sông có xác một người phụ nữ trầm mình. Tôi đi xem tôi nhận ra là người con gái có gương mặt xanh xao ấy.
Tôi đến nhà các dì tôi ở Farâyron.
Tôi hay đến vào lúc mọi người ngồi vào bàn ăn.
Một chiếc bàn to, hai đầu có hai ngăn kéo, và hai bên kê hai ghế dài to.
Trong các ngăn kéo đó, để bừa bãi những dao, hành khô, bánh mì. Có những vết xanh ở gờ cùi bánh như vết han đồng trên những đồng xu cổ.
Cả gia đình và đày tớ sà vào ngồi trên hai chiếc ghế dài.
Người ta ăn giữa hai lần cầu kinh.
Chính chú Jăng đọc kinh trước bữa.
Tất cả mọi người đều đứng, đầu trần, rồi lại vừa ngồi xuống vừa nói: “Amen!”
Amen! là tiếng tôi nghe thấy nhiều nhất hồi nhỏ.
Amen! thế là tiếng thìa gỗ bắt đầu; một tiếng ỉu xìu, ngờ nghệch.
Rồi đến những khoanh bánh mì to như cắt bằng liềm. Dao có cán sừng, đóng đinh nhỏ, mũ đinh màu vàng, tròn, nom như mắt ếch.
Họ ăn sủi cả bọt rãi, ngoác miệng mà ăn: họ xỉ mũi bằng ngón tay, và lấy ống tay áo quệt mũi.
Họ hích khuỷu tay vào sườn nhau như thể cù nhau.
Họ cười như những đứa bé con lớn tướng; lúc cười to, họ hí lên như lừa, hoặc rống lên như bò.
Thế là xong, - họ lại bỏ con dao mắt ếch vào trong cái túi to dài tới đầu gói, lấy mu tay quệt mồm; chùi môi, và rút những cẳng chân kếch xù ra khỏi gầm bàn.
Họ ra sân chơi nếu là trời nắng, đứng tán gẫu chuyện dưới cổng chuồng ngựa, nếu là trời mưa; họ nhấc guốc gọi là, những chiếc guốc to như những gốc cây, chân thọc sâu vào trong.
Tôi yêu họ biết mấy với những chiếc mũ to rộng vành và những chiếc tạp-dề da dài của họ! Tay họ, râu họ dính đất, cả lông ngực cũng có đất; da họ nom như vỏ cây, và những đường gân nổi lên như rễ cây.
Thỉnh thoảng khi họ bỏ những chiếc tạp-dề da xuống đất, gió thổi phanh áo sơ-mi của họ, và dưới hình tam giác cháy nắng chọc mũi nhọn vào chỗ hõm dạ dày, người ta trông thấy mảng thịt trắng mềm như lưng cừu gọt lông hoặc như lợn sữa.
Tôi đến sờ vào người họ như ta sờ nắn một con vật; họ nhìn tôi như một con vật sang trọng, - tôi, một đứa trẻ thành phố! - một vài người ví tôi như con sóc, nhưng hầu hết ví là con khỉ.
Tôi không vì thế mà tự phụ hơn, và tôi theo họ ra đồng, mượn họ chiếc sào nhọn để chọc bò.
Vào mùa cầy, tôi đi trong các luống cầy ngập đến đầu gối, tôi lăn trên cỏ lúc người ta rũ cỏ khô, tôi kêu như chim cun cút khi bay lên, tôi lăn lông lốc như những con chin con rơi từ tổ xuống lúc lưỡi cầy đi qua.
Ôi chao! những giờ phút thú vị biết mấy tôi đã trải qua trên cánh đồng cỏ, bên bờ một con suối, có hoa vàng, cuống hoa rung rinh trong nước, sỏi trắng lấp lánh dưới đáy, và con suối cứ cuốn đi từng chùm cành lá hương mộc vàng óng mà tôi ném xuống dòng nước!...
Mẹ tôi không thích tôi ngồi câm lặng, miệng há hốc như thế, nhìn nước chảy.
Mẹ tôi có lý, tôi phí thì giờ vô ích.
“Đáng lẽ mày phải đem quyển ngữ pháp La-tinh ra mà học bài!”
Rồi, làm bộ cảm động, tỏ vẻ ân cần:
“Cứ thả ra là thế đấy, người loang lổ những vệt xanh, đế giầy đầy bùn... Mua giầy mới cho mày lắm vào để mày làm như thế đấy! Thôi, về nhà ngay và tối nay không được đi chơi nữa!”
Tôi biết rõ là giầy đi ra ruộng chóng hỏng và lẽ ra phải đi guốc, nhưng mẹ tôi lại không muốn thế! Mẹ tôi cho tôi ăn học, mẹ tôi không muốn tôi làm kẻ quê mùa như mẹ!
Mẹ tôi muốn thằng Jắc của mẹ nên Ông.
Phải đâu mẹ tôi đã may áo rơđanhgốt cúc ô-liu cho nó, mua mũ ống, đeo lót chân cho nó, để nó lại rớt xuống đống phân, quay về chuồng ngựa đi guốc!
Ôi chao, đúng vậy! Tôi thích đi guốc hơn! Tôi còn thích mùi bác thợ cầy Flôrimông hơn mùi của ông Xôte, giáo sư lớp tám; tôi thích bó cỏ khô hơn đọc văn phạm, và tha thẩn trong chuồng bò thích hơn là trong buồng học.
Tôi chỉ thích bó lúa, nậy đá, buộc củi, khiêng gỗ!
Có lẽ tôi sinh ra để làm đầy tớ!
Kinh khủng thật! phải, tôi sinh ra để làm đầy tớ! Tôi trông thấy thế! Cảm thấy thế!!!
Lạy Chúa! Cầu Chúa hãy làm cho mẹ tôi không biết điều đó!
Tôi sẽ nhận làm Pieruni, thằng bé chăn bò, tay cầm cành lá, cắn quả táo xanh, dẫn súc vật ra đồng cỏ, gần những cây dâu, không xa vườn trồng cây ăn quả.
Trong các bụi rậm có hoa dã tường vi đỏ, và trên kia, một đốm lông lởm chởm, chính là một tổ chim; có những bọ rùa vàng trông như những hạt đậu biết bay, và trong các bông hoa có những con nhặng xanh có vẻ như đang say sưa túy lúy.
Người ta để mặc Pieruni phanh áo hở ngực lúc nóng, và đầu bù tóc rối khối khi nào nó muốn.
Người ta không luôn mồm bảo nó:
“Mày có để yên tay không nào, mày làm gì cái ca-vạt vậy? - Đứng cho thẳng người. - Mày gù hay sao? - Thằng này gù! - Cài cúc áo gi-lê lại - Sắn quần lên - Mày đã làm gì các cúc ô-liu? Cúc ô-liu kia kìa, bên phải, cái cúc xanh nhất ấy! - Ôi chao! Thằng bé này làm tôi buồn phiền đến chết mất thôi!”
Nhưng những người đầy tớ lớn cũng còn sướng hơn cả thầy tôi!
Họ không cần phải vận gi-lê cài cúc lên tận cổ để che một chiếc sơ-mi ba ngày chưa thay! Họ không sợ chú Jăng như thầy tôi sợ ông hiệu trưởng, họ không phải lén lút để cười và uống một cốc vang, khi họ có tiền; khi họ làm việc, họ hát thỏa thích, oang oang, trên đồng ruộng; ngày chủ nhật, họ quấy phá ầm ĩ ngoài quán rượu.
Ở đít họ có một miếng trông như cao dán: xanh, vàng; nhưng đầy mầu đất, mầu cỏ cây, bắp cải.
Thầy tôi không phải là đầy tớ mà phải lóng ngóng khổ sở, gượng nhẹ với chiếc quần cadimia đen đã ngốn mất mười cuộn chỉ, làm hại hai mươi chiếc kim, nhưng vẫn tồi tàn, mong manh và mềm nhũn!
Thầy tôi cúi xuống rất khó, mai đây khó lòng còn có thể chào ai được...
Nếu thầy tôi không chào người này, người nọ... (phải cất mũ chào tất cả mọi người, ông hiệu trưởng, ông tổng giám thị, v.v...) nếu thầy tôi không chào cúi mình xuống, lối chào mà cái đít quần kia không ưa, thì người ta sẽ gọi thầy tôi lên phòng ông hiệu trưởng ngay!
Thế là phải thanh minh! - không như một người đầy tớ, - không! - mà như một vị giáo sư. Phải xin lỗi.
Người ta sẽ xì xào về chuyện đó, người ta cười, học sinh chế giễu, cả những bạn đồng sự của thầy tôi cũng chế giễu. Người ta trả công cho thầy tôi (mẹ tôi gọi là “lương”) và người ta sẽ tống cổ thầy tôi về một nơi nào đó để thuê người vá quần tốt hơn, với người vợ vẫn ghê tởm nông dân, nhưng đứa con trai... vẫn còn yêu họ...
Một lần tôi đánh nhau với thằng Vintarơ, con trai ông giáo sư lớp bảy.
Thật là cả một chuyện rắc rối!
Người ta gọi thày mẹ tôi đến; vợ ông hiệu trưởng cũng can thiệp vào việc này; phải khuyên giải cho bà Vintarơ dịu đi, bà ta hét ầm lên:
“Bây giờ đến nước con giám thị giết con giáo sư à”
Thằng nhóc Vintarơ đã đổ mực vào quần tôi và bỏ nhựa rải đường vào cổ tôi; tôi không giết nó, nhưng đã cho nó một quả đấm vào một cái khoèo chân... nó ngã và bị bươu đầu.
Người ta đem cái đầu bươu ấy tới ông hiệu trưởng (ông ta thiết gì chuyện đó, thiết gì ông Vintarơ lẫn ông Vanhtrax) nhưng ông phải “gìn giữ kỷ luật và bảo đảm tôn ti trật tự”; tôi luôn nghe thấy họ nói vậy. Ông gọi tôi đến, và tôi phải xin lỗi ông Vintarơ và bà Vintarơ, rồi ôm hôn thằng bé Vintarơ, và cuối cùng về nhà để ăn đòn.
Mẹ tôi đã hẹn tôi phải về vào lúc năm giờ kém mười lăm.
Ở Farâyron không như vậy.
Hôm nọ tôi đánh nhau với thằng bé chăn lợn, hai đứa lăn lộn trên ruộng, dứt tóc nhau, thụi nhau mãi, nó đấm tôi tím bầm một bên mắt, tôi đánh nó sứt tai, rồi hai đứa lại vùng dậy, để lại xông vào nhau nữa!
Về sau rồi ra sao?
Về sau! Chúng tôi lại chụp mũ và cát-két vào đầu rối bù, và người ta bảo chúng tôi đôm đốp bắt tay nhau. Mọi người cười mãi về chuyện đó suốt tối trong bữa ăn, giữa hai khoảng thời gian chầu kinh, và tôi chẳng những không giấu chú tôi, mà lại còn phô với chú tôi là mùi xoa tôi dây máu.
Ngày hội Bà Chúa
Người ta đặt tên ngày hội làng như thế; người ta chọn một ông vua, một bà hoàng hậu.
Họ đến, dải băng trùm đầy người. Băng trên mũ ông vua, băng trên mũ bà hoàng hậu.
Cả hai đều đi ngựa, theo sau có những thanh niên trẻ đẹp của địa phương, những con trai tá điền, hôm ấy ních tiền đầy túi để mua quà tặng các cô gái.
Người ta bắn súng, người ta hoan hô! Người ta nhảy nhót trước nhà thị sảnh nom như có treo cờ xanh: đấy là một cành cây to.
Cảnh sát lễ phục “đại trào”, súng đeo vai, và chú tôi bảo túi đạn của họ đầy ắp; mặt họ tái mét, và không người nào trong bọn họ biết được liệu tối nay mình có bị đánh bể đầu hoặc gẫy sườn không.
Trong số đó, có một thằng bị cả vùng ghét cay ghét đắng, và chắc chắn nó sẽ không sống được mà về, nếu nó đi một mình trên con đường có con trai bác Xuliô là tay săn bắn trộm, hoặc con trai mẹ Mesê bị ngồi tù vì đã cắn xé những người tới bắt bà về tội nhặt củi khô.
Ở nhà thờ về, người ta ngồi vào bàn ăn.
Người nghèo nhất cũng có được một lít vang và bát cơm trộn đường, cả bác Jăng Gầy ở trong túp lều tồi tàn đằng kia cũng vậy.
Có thịt mỡ và bánh mì trắng, - bánh mì trắng!...
Rượu rót đầy tới miệng cốc; thiếu cốc, người ta dùng bát và mọi người uống rượu vang vivare như uống sữa, - thứ vang vivare để trong thùng gỗ gần chỗ chuồng bò, vặn ra sùi bọt.
Gân nổi lên, cúc áo đứt!
Người ta ngồi ăn lẫn lộn; chủ nhà và người làm, bà chủ trại và đám đầy tớ, anh lực điền số một và chú bé chăn lợn, chú Jăng, bác Flôrimông thợ cày, Pieruni chăn bò, chị Janơtong vắt sữa và tất cả các cô em họ đội mũ rộng vành nhất, và thắt những chiếc thắt lưng to bản màu xanh lục.
Sau bữa ăn, mọi người khiêu vũ trên bãi cỏ hoặc trong kho thóc.
Đám con gái coi chừng!
Bọn con trai đuổi theo họ và đẩy ngã trên cỏ khô, hoặc ngồi bừa xuống bên cạnh họ, trên cây sồi khô dùng làm ghế dài ở trước cửa.
Các cô bao giờ cũng giơ khuỷu tay lên kịp thời để con trai hôn họ vào giữa má.
Tôi cũng nhẩy và ôm hôn thật nhiều.
Có tiếng vó ngựa! - Bọn cảnh sát phóng ngựa chạy qua!...
Chuyện xảy ra ở nhà Đextunhan ở cuối làng; dân làng Xăngxắc kéo tới, và hai bên ẩu đả.
Người ta đang giết nhau trong quán rượu.
- Anh em đâu? - dân Farâyron tiến lên!
Người ta vượt qua hào hố, vừa chạy vừa cúi xuống nhặt đá; vừa nhẩy qua các bụi rậm vừa bẻ một cành cây có mấu; tôi trông thấy có người cầm cả khẩu súng trường cũ! Họ không la thét, họ chạy tới thở hổn hển, mặt tái lại...
Quán rượu kia rồi!
Nghe có tiếng chai vỡ, tiếng thét đau đớn: “Cứu tôi, cứu tôi!” như tiếng nấc.
Đấy là bác Buynhông-xồm kêu!
Họ ùa vào quán rượu như đàn ruồi sà vào đống rác; như con bò mộng xông vào một chiếc tạp-dề đỏ ngoài đồng tôi đã nhìn thấy một chiều nọ.
Màu đỏ! Màu đỏ vấy đầy các cửa kính và đầy mồm các bác nông dân...
Có phải rượu vang vivare hay máu làng Farâyron chảy?
Đầu tôi nóng bừng bừng như bốc lửa vì tôi cũng có máu Farâyron trong mạch máu trẻ con của tôi!
Tôi muốn nhảy vào như mọi người, mà đấm đá túi bụi!
Tôi cảm thấy đột nhiên có ai túm lấy vạt áo tôi, giữ tôi sững lại, và khi ngoái lại, tôi ngã vào trong tay dì tôi; dì không cấm đám con trai của dì vào quán Dextunhan, nhưng lại không muốn đứa cháu của dì dính vào cuộc chém giết này.
Cũng không sao cả! Nếu có thể núp sau cây, ném đá vào bọn cảnh sát, tôi sẽ chẳng từ! Ôi chao, sao mà tôi yêu cuộc đời cày cấy, hội hè và ẩu đả đến thế!
Chú thích:
[13] Nhà ngụ ngôn nổi tiếng thời Hy-lạp cổ (thế kỷ thứ VII, thứ VI trước công nguyên).
[14] Giống cừu Tây-ban-nha, len tốt và mịn.