Chuyến Du Hành Ngược Thời Gian

Lượt đọc: 672 | 2 Đánh giá: 9/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
BẢN CÁO PHÓ
i.a-di-mốp (mỹ)​ (nguyên tác: obituary của issac asimov)

Chồng tôi là Lan-xơ-lốt có thói quen đọc báo khi ăn sáng. Anh bước tới gần bàn, và điều đầu tiên tôi nhận thấy là vẻ chán chường cố hữu và sự bối rối trên nét mặt xương xương, lúc nào cũng lạnh nhạt của anh. Anh chẳng bao giờ mời mọc ai. Tờ báo gấp cẩn thận, đặt sẵn trên bàn, trong khoảnh khắc đã che lấp mặt anh.

Rồi trong suốt bữa ăn, tôi chỉ thấy bàn tay của anh từ sau tờ báo chìa ra, đón lấy tách cà phê thứ hai mà tôi đã bỏ vào đó một thìa đường. Chỉ một thìa thôi, không bao giờ hơn hay kém. Nếu làm khác, ắt là anh sẽ nhìn tôi bằng một cái nhìn nghiêm khắc.

Tất cả những cái đó cũng chẳng làm tôi xúc động nữa. Ít nhất thì đã có một thế giới đang diễn ra sôi động trên chiếc bàn ăn này.

Thế nhưng buổi sáng hôm nay, sự bình lặng thường ngày bị vi phạm. Bất thình lình, Lan-xơ-lốt nói như gầm lên:

- Mẹ kiếp! Cái anh chàng Pôn-pha-bec cũng gục rồi à!

Tôi chưa hình dung ra anh nói về ai. Đã có lần Lan-xơ-lốt nhắc đến cái tên này. Hình như là một người trong số bạn bè của anh, cũng là một nhà vật lý, mà theo cách nhận xét của chồng tôi, tương đối có tên tuổi. Trong bất cứ trường hợp nào, khi nhắc đến tên những người thành công, chẳng bao giờ có chồng tôi trong số đó.

Liệng tờ báo xuống bàn, anh nhìn tôi một cách giận dữ.

- Đấy, cô đọc đi, xem họ đã huênh hoang những gì, - anh gằn giọng. - Làm như một Anh-xtanh thứ hai lại hiện ra trên bầu trời. Thật đúng là một thằng điên tâng bốc một thằng ngu.

Lan-xơ-lốt đứng dậy, ra khỏi phòng, chưa kịp ăn hết quả trứng và cũng chưa kịp đụng đến tách cà phê thứ hai.

Tôi thở dài. Tôi phải làm gì bây giờ nhỉ?

Đương nhiên tên thật của chồng tôi không phải là Lan-xơ-lốt Xtê-bin, tôi đã phải thay đổi tên và một vài điểm lặt vặt khác để tránh khỏi bị phiền phức. Mà giả dụ có gọi chồng tôi bằng tên thực đi chăng nữa, thì với cái tên ấy, các bạn cũng chẳng biết được gì hơn đâu.

Lan-xơ-lốt có khả năng đặc biệt, nhưng chẳng có tiếng tăm gì. Mà nói cho công bằng, anh chính là một thiên tài chưa được chú ý đến. Tất cả những phát minh của anh đều do một người nào đó trước anh tìm ra. Nếu như anh đã phát hiện ra một cái gì đó hoàn toàn mới thì đồng thời với anh luôn luôn có một người khác tìm ra một điều tương tự còn hay hơn nhiều. Và rồi, chẳng ai quan tâm đến Lan-xơ-lốt nữa. Tại hội nghị, chẳng người nào buồn nghe bản báo cáo của anh, vì chính trong lúc đó, ở giảng đường bên cạnh có người đọc bản báo cáo quan trọng hơn của anh.

Tất cả những điều đó làm chồng tôi rất ấm ức. Và nó đã làm anh trở thành một người khác hẳn.

Hai mươi năm trước, khi chúng tôi mới cưới nhau, anh là một chàng trai mà các cô thiếu nữ hằng mơ ước. Một chàng trai thật bảnh. Một con người tự lập, vừa nhận được quyền thừa kế một tài sản lớn. Đã thế, còn là một nhà bác học có bản lĩnh chuyên môn, tuy hiếu danh, cương nghị và đầy triển vọng. Mà tôi tự đánh giá mình cũng thuộc loại hương trời sắc nước. Thế nhưng, tôi chẳng có gì khác nữa ngoài cái nhan sắc của mình. Tính tôi ít cởi mở và chẳng có chút khả năng nào để đạt được thành công trong xã hội, cái mà một nhà hoạt động khoa học trẻ tuổi và có tương lai thường mong muốn ở vợ mình. Có lẽ vì vậy mà Lan-xơ-lốt đâm ra bực bội. Đáng ra, anh phải có một người vợ khác, ít nhất chị ta cũng làm tấm gương phản chiếu ánh sáng ở anh phát ra.

Phải chăng cuối cùng anh đã hiểu ra điều đó? Và phải chăng vì thế anh đã lạnh nhạt với tôi sau những năm hạnh phúc đầu tiên của cuộc hôn nhân? Nghĩ vậy, lúc nào tôi cũng cảm thấy áy náy và luôn tự trách mình.

Nhưng đôi lúc tôi nghĩ rằng tội lỗi tất cả là do tính ham danh vọng của anh; mà lòng ham thích hư danh ấy càng ngày càng dày vò Lan-xơ-lốt đến nỗi chẳng lúc nào để anh yên. Anh bỏ trường đại học, tự mình lập một phòng thí nghiệm riêng xa thành phố. Anh bảo rằng anh muốn tận hưởng bầu không khí trong sạch, xa lánh con người.

Anh chẳng lo lắng gì đến vấn đề tiền nong. Nhà nước không tiếc tiền tài trợ cho vật lý, cho nên anh cần bao nhiêu thì nhận được bấy nhiêu. Thêm nữa, anh không ngần ngại chi tiêu vào đó số tiền gửi ngân hàng của chúng tôi.

Tôi có khuyên anh: “Em bảo này, anh Lan-xơ-lốt, có lẽ cuối cùng thì chúng mình sẽ túng thiếu mất. Có ai đuổi anh khỏi trường đại học đâu. Anh làm thế để làm gì? Em chỉ cần các con cái và một cuộc sống dễ chịu. Có thế thôi”.

Nhưng ngọn lửa danh vọng đang nung đốt anh đã làm anh mù quáng. Anh dằn giọng trả lời: “Chẳng có gì quan trọng hơn đâu! Anh cần được thừa nhận. Anh cần phải cho mọi người hiểu anh là ai. Anh là... anh là... một nhà nghiên cứu vĩ đại!”

Lúc đó, chắc anh còn chưa dám nhận mình là một thiên tài.

Rồi sao nữa? Anh vẫn không gặp may, như trước kia. Công việc trong phòng thí nghiệm sôi lên. Trả lương hậu, anh thuê được những người giúp việc tài năng nhất. Bản thân anh cũng làm như trâu ngựa. Mà vẫn chẳng thu được kết quả gì.

Tôi hy vọng riêng anh sẽ nghĩ lại. Chúng tôi sẽ quay trở về thành phố, sẽ sống bình thường như mọi người. Nhưng không được. Vừa hoàn hồn sau một thất bại này, anh lại lao vào một trận chiến đấu khác, tấn công như vũ bão vào pháo đài vinh quang. Lần nào, anh cũng đốt cháy rực lên một hy vọng mới mẻ, và lần nào, số phận cũng nhấn chìm anh vào hố sâu thất bại.

Có lúc anh cũng chợt nghĩ đến sự hiện diện của tôi. Thế là anh lại trút hết sự giận dữ lên đầu tôi. Tôi chẳng còn là gì đối với anh nữa. Và tôi cảm thấy rằng đã đến lúc chúng tôi cần phải chia tay nhau.

Cần phải, nhưng...

Trong năm cuối cùng ấy, Lan-xơ-lốt lại chuẩn bị một trận ác chiến mới. Tôi hiểu rằng năm ấy là năm cuối cùng. Vì rằng năm đó tôi cảm thấy có một cái gì mới mẻ, không bình thường, một sự căng thẳng mãnh liệt như thế nào ấy. Nhiều lúc anh lảm nhảm một mình và cười lên khe khẽ. Thậm chí anh dấu trong buồng ngủ của chúng tôi những quyển nhật ký thí nghiệm, như sợ rằng những người cộng tác sẽ cướp đoạt mất của anh. Còn tôi thì tin vào ý đồ ấy rồi sẽ cũng bị sụp đổ thảm hại. Anh đã ở vào lứa tuổi mà con người cần phải hiểu rằng: đây là dịp cuối cùng. Cứ việc mà đánh bạc với hạnh phúc đi! Sẽ sứt đầu mẻ trán lần cuối cùng và tất cả thành tro bụi. Tôi đã chuẩn bị chịu đựng và bắt đầu chờ đợi.

Chính lúc này đã xảy ra cái chuyện bản cáo phó mà anh vừa đọc trên báo. Tôi quên kể lại rằng đã một lần chúng tôi gặp trường hợp tương tự. Lần ấy tôi không chịu được nữa và đã nói toạc với anh là cùng lắm thì anh cũng chỉ được người ta khen ngợi xã giao trong bản cáo phó của mình mà thôi.

Tất nhiên, tôi hiểu rằng nói năng như thế cũng chẳng khôn ngoan gì. Thế nhưng lúc đó tôi muốn làm cho anh lãng quên, ngăn anh khỏi bị đắm chìm trong cái cảm giác tuyệt vọng khiến anh hoàn toàn không chịu đựng nổi. Mà cũng có thể chính tôi cũng chưa hiểu được là tôi đã từ lâu bực bội với anh như thế nào. Thực vậy, tôi không hiểu.

Nghe xong những lời tôi nói, mặt anh méo xệch đi. Cặp lông mày sắc nhọn như sập xuống đôi mắt màu xanh rất sâu của anh. Quay lại tôi, anh hét lên bằng giọng lạnh buốt:

- Nhưng tôi chưa chịu đọc bài cáo phó của mình đâu. Mà tôi cũng không cho phép ai làm điều đó.

Anh nhổ. Nhổ thẳng vào mặt tôi.

Tôi chạy về phòng mình.

Vậy mà anh cũng chẳng thèm xin lỗi. Mấy ngày liền tôi cố tránh mặt anh, nhưng rồi dần dần quan hệ của chúng tôi cũng trở nên bình thường, tuy vẫn như trước, chẳng có gì là vui vẻ. Chúng tôi cũng chẳng bao giờ nhắc đến cuộc xô xát này làm gì nữa. Và đột nhiên - lại một bản cáo phó, và tôi đã thấy rõ rằng đây là giọt nước cuối cùng, điểm cùng cực trong chuỗi thất bại của anh đã xuất hiện.

Cuộc khủng hoảng đang tiến lại gần. Tôi đã nhận thấy điều đó và không hiểu rằng mình lo sợ hay vui mừng nữa, mà vui mừng thì cũng phải. Chẳng còn có gì để mất: bất cứ sự thay đổi nào cũng chỉ tốt hơn thôi.

Trước khi đi ngủ, anh bước vào phòng tôi. Tôi đang ngồi đan - chỉ để cho có việc mà làm - và lơ đãng xem vô tuyến truyền hình, chỉ là để đầu óc khỏi bị trống trải.

Anh buột miệng:

- Em phải giúp anh.

Đã hai mươi năm rồi, nếu không phải là lâu hơn nữa, anh mới lại nói với tôi một câu như vậy. Tim tôi như thắt lại. Tôi thấy anh cực kỳ bối rối. Má anh, lúc nào cũng nhợt nhạt, bỗng ửng lên. Tôi ấp úng:

- Em sẵn lòng, nếu em giúp được.

- Nhất định em giúp được. Anh cho tất cả những người phụ tá của anh nghỉ phép một tháng. Từ thứ bảy này. Hai chúng mình sẽ cùng làm việc trong phòng thí nghiệm. Em nhớ rằng trong tuần sau em sẽ không làm gì khác.

- Thế nhưng... Anh Lan-xơ-lốt - tôi rất lúng túng - em giúp anh thế nào được. Em có hiểu cái gì đâu?

- Anh biết - anh nói giọng miệt thị - em không cần phải hiểu. Anh bảo gì, em làm nấy. Thế thôi. Em biết không, anh đã phát minh ra một cái rất mới... Và có thể anh sẽ...

- Ôi, anh Lan-xơ-lốt. Em đã nghe anh nói như thế không biết bao nhiêu lần rồi.

- Hãy nghe anh, cô bé ngốc nghếch, thử làm người lớn một lần xem sao. Đúng, anh đã phát minh. Mà lần này nhất định chẳng người nào có thể đuổi kịp anh vì nội dung phát minh của anh vượt xa bất cứ một sự tưởng tượng nào. Trên thế giới chẳng có nhà vật lý nào, dù là thánh sống đi chăng nữa, lại có thể nghĩ ra được một cái gì tương tự. Muốn vậy, phải chờ đợi ít ra là một thế hệ... Tóm lại, nếu thế giới biết đến phát minh của anh, thì cần phải thừa nhận anh là nhà bác học vĩ đại nhất của mọi thời đại.

- Em xin chúc mừng anh, anh Lan-xơ-lốt.

- Anh nói là cần phải. Và cũng có thể họ không thừa nhận. Công lao trong khoa học phân phối quá bất công, và anh đã từng phải chịu đựng. Nhưng bây giờ anh không còn là một thằng ngu như trước nữa. Anh phải có mưu mẹo để bảo vệ phát minh của mình. Rồi em xem, nếu không, có một kẻ nào đó sẽ xin chia phần, và kết cục là tên tuổi anh sẽ bị mốc meo trong một quyển giáo trình dở hơi nào đó về lịch sử khoa học, còn vinh quang thực sự sẽ do một thằng bất tài hưởng hết.

Anh không nén được mình lại. Chỉ còn ba hôm nữa anh sẽ thực hiện được ý đồ của mình. Cũng như tôi, anh chờ chỉ còn chút xíu nữa là đến thành công, nên có thể bộc lộ mà không sợ gì nguy hiểm.

Anh tiếp tục:

- Anh sẽ tuyên bố phát minh của mình sao cho toàn nhân loại phải bàng hoàng. Và lúc đó, ai nấy đều không thể nghĩ đến một cái gì khác - tất cả sẽ chỉ nói về anh thôi.

Kể cũng quá đáng lắm. Tôi đâm sợ: Nếu một thất vọng mới nữa đang chờ đợi anh thì sao? Lúc ấy, anh đến điên lên mất thôi.

- Anh ạ - tôi bảo - việc gì phải vội vàng thế? Anh cứ khoan một chút đã sao. Anh làm việc nhiều quá, cần phải nghỉ ngơi. Anh cứ đi nghỉ phép đi. Chúng mình sẽ sang Châu Âu. Em sửa soạn đã lâu rồi.

Anh dẫm chân:

- Em có chấm dứt những lời ngu xuẩn ấy đi không? Thứ bảy đến phòng thí nghiệm với anh. Rõ rồi chứ?

Trong suốt ba đêm ấy tôi không chợp được mắt. Anh chưa bao giờ tỏ ra tàn nhẫn như vậy. Anh điên thực rồi hay sao? Anh đang nghĩ gì. Anh bắt tôi làm những thí nghiệm rồ dại nào đây? Hay anh định giết tôi chăng? Tôi cứ trằn trọc suốt đêm trong sự kinh hoàng ấy. Tôi muốn báo cảnh sát, tôi muốn bỏ trốn... Nói tóm lại, tôi chẳng biết mình phải làm gì.

Sáng ra, tôi bình tâm trở lại. Không, anh không điên và đâu có bức bách gì tôi. Ngay khi anh có nhổ vào mặt tôi thì chẳng qua đó cũng chỉ là một hành động tượng trưng đơn thuần. Chẳng bao giờ anh dám đánh tôi.

Và tôi lại chờ đợi. Ngày thứ bảy đã đến. Tôi chờ đón một cách ngoan ngoãn những điều bất ngờ. Hai chúng tôi lặng lẽ bước theo con đường hẹp từ nhà đến phòng thí nghiệm.

Quang cảnh của phòng thí nghiệm thật quả đã làm tôi khiếp sợ. Càng đến gần chân tôi càng như muốn quỵ xuống. Lan-xơ-lốt thấy vậy, cáu kỉnh: “Em đừng có lấm la lấm lét như thế. Chẳng ai đụng đến em đâu. Nhiệm vụ của em là thực hiện tất cả những gì anh bảo”.

Tôi run run đáp:

- Vâng...

Một ổ khóa treo ngoài cửa. Anh mở khóa, và chúng tôi bước vào gian phòng hẹp, bố trí dày đặc những dụng cụ thí nghiệm quái gở, mọi phía đều chăng ngổn ngang dây điện.

- Nào, chúng mình bắt đầu - anh bảo - Em có thấy chiếc chén bằng thép kia không?

- Có, em thấy - Đó là một cái “bình” cao và hẹp, thành dày, bao phủ bằng một lớp gỉ. Trên chén có một mạng lưới dây điện.

Chồng tôi dẫn tôi đến chỗ chiếc chén, và tôi nhìn thấy trong đó có một con chuột bạch nhỏ. Hai chân trước nó bám lên thành chén, cổ thò chiếc mõm tí xíu qua các mắt lưới và run bần bật, không phải vì sợ sệt mà cũng chẳng phải vì tò mò.

Tôi giật bắn người. Bất ngờ trông thấy con chuột, ai mà chẳng khó chịu.

Lan-xơ-lốt cằn nhằn:

- Nó không cắn em đâu... Thôi được, bây giờ cứ đi theo anh đã.

Tôi lại bắt đầu sợ hãi. Hoảng hốt, tôi cứ tưởng tượng một quái vật bằng thép từ đâu đó bỗng trườn ra, vồ lấy tôi hoặc một tia chớp sẽ giáng xuống đầu tôi, biến tôi thành một nhúm tro tàn. Tôi nhắm mắt lại.

Nhưng chẳng có gì xảy ra cả. Một tiếng gì đó kêu xì xì, giống như tiếng kêu của một chiếc pháo xịt. Rồi tôi nghe thấy giọng Lan-xa-lốt: “Nào, tỉnh dậy đi chứ!”

Tôi mở mắt ra. Lan-xơ-lốt đang nhìn tôi chằm chằm. Anh rạng rỡ hẳn lên.

- Em thấy gì khác nào?

Chẳng hiểu gì cả, tôi nhìn quanh ngơ ngác.

- Đồ ngốc - anh bảo - Ngay trước mắt em đấy thôi.

Lúc này tôi mới nhận thấy, bên cạnh chiếc chén kia có một chiếc thứ hai, giống hệt như thế. Lúc nãy chưa có nó.

- Anh định nói về chiếc chén thứ hai phải không? - tôi hỏi.

- Đấy hoàn toàn không phải chiếc chén thứ hai, mà là “vật kép” của chiếc chén thứ nhất. Một phiên bản tuyệt đối, y hệt đến từng nguyên tử một. Em hãy nhìn kỹ. Ngay cả vết gì cũng giống hệt nhau.

- Từ một anh làm ra hai à?

- Đúng như thế. Có điều bằng một phương pháp phi thường. Em biết không, để tạo ra một vật chất mới, cần đến một năng lượng khổng lồ. Chẳng hạn, em muốn biến một gam chất thành 2 gam, ngay khi dùng kỹ thuật hoàn hảo nhất em phải phá hủy hoàn toàn không dưới 100 gam u-ra-ni-um. Cái phát minh của anh là, có thể tạo ra vật chất bằng một năng lượng không đáng kể, chỉ cần biết cách sử dụng nó. Để làm việc ấy, phải nắm được phương pháp nhân đôi vật không phải trong thời gian hiện tại mà trong tương lai, tại một thời điểm nào đó của vật ấy. Tất cả “phép lạ” là ở chỗ... sau khi tạo ra “vật kép” của một cái gì đó rồi, phải đưa nó ngược trở lại từ tương lai về hiện tại. Anh đã tìm ra “hiệu ứng chuyển động trong thời gian”.

Anh hưng phấn đến nỗi nói với tôi bằng một hình dung từ hơi quá đáng:

- Đó quả là một sự thần kỳ. Một sự thần kỳ... - Tôi run lên - Em đã thấy con chuột từ tương lai trở về hiện tại chưa nào?

Tôi chưa kịp trả lời, nhìn vào trong chiếc chén thứ hai. Tim tôi thắt lại như bị một quả đấm thoi vào ngực. Con chuột bạch nằm ở vị trí của nó. Nhưng nó đã chết.

Mặt Lan-xơ-lốt đỏ lên.

- Đây vẫn còn là một điều bất lực của anh - anh lẩm bẩm - Em hiểu không, anh có thể đưa một sinh vật quay trở về quá khứ, nhưng không hiểu sao, nó cứ bị chết.

- Bực thật! Nhưng sao lại thế?

- Bây giờ thì chưa biết. Anh tin chắc rằng, bất cứ vật nào cũng có thể sao chép lại cực kỳ chính xác, đúng đến cả vi cấu tạo. Cứ mổ xẻ ra, phân tích kỹ sẽ thấy không khác nhau một tý nào.

- Anh có thể hỏi... - Tôi câm bặt. Anh quắc mắt nhìn tôi. Ma quỷ nào xui khiến tôi nói ra câu đó! Tôi biết: anh không bao giờ mời ai cộng tác với anh vì sợ rằng vinh quang sẽ rơi vào tay người khác.

Anh cười gằn:

- Anh hỏi rồi chứ! Một nhà sinh vật học đã mổ xẻ những con chuột của anh. Ông ta không tìm ra được gì cả. Có lẽ không một ai biết rằng những con vật ấy từ đâu ra. Anh cố gắng thu hồi ngay mọi hiện vật... Thế mà cũng có người ngờ vực đấy. May sao, những trợ lý của anh không nghi ngờ gì hết.

- Nhưng vì sao anh phải giữ kín những điều này?

- Vì sao à? Vì rằng, anh chưa “trả lại” được những con chuột còn sống. Có lẽ là đã xảy ra một sự sai lệch phân tử nào đó... Nếu như bây giờ anh vô tình để lộ những kết quả của mình, thì sẽ có một người nào đó tìm ra được biện pháp ngăn ngừa sự sai lệch này. Hắn ta hoàn thiện phát minh của anh, hắn ta có thể “trả lại” được cả con người sống, mà người này đã biết cả những thông tin về tương lai. Và thế là, vinh quang sẽ lại trượt khỏi tay anh!

Anh nói đúng. Chắc chắn là có người làm được điều anh chưa thể làm. Và lúc đó, chồng tôi cũng chẳng có gì đáng được công nhận, mọi công sức sẽ uổng phí.

- Hừm - anh lẩm bẩm, hầu như nói với chính mình chứ không phải với tôi nữa. - Anh không thể chờ đợi được nữa. Cần phải công bố điều đó. Nhưng làm sao để phát minh ấy gắn liền với tên tuổi của anh. Em hiểu không, cần phải gây một chấn động thật mạnh mẽ, thật giật gân. Bất cứ một cuộc du hành trong thời gian nào cũng phải được nhắc nhở tới tên anh, người đã thực hiện phát minh vĩ đại này... Thế đấy, anh đã chuẩn bị gây ra sự chấn động dư luận ấy và em, chính em phải tham gia.

- Em ấy à? Nhưng với vai trò gì?

- Với vai trò người vợ góa của anh.

- Lan-xơ-lốt!! - Tôi vồ lấy tay anh - Trời ơi... anh nghĩ gì vậy?

Anh lạnh lùng né tránh.

- Cứ bình tĩnh nào! Anh không tự tử đâu. Anh chỉ sống trong tương lai ba ngày rồi sẽ trở về.

- Nhưng anh sẽ chết mất!

- Anh không chết. Chỉ người kép của anh chết. Cái “tôi” đích thực sẽ sống, như trước đây. Cũng giống như con chuột này.

Anh nhìn lên đồng hồ.

- Hà... Như thế đấy... còn 3 giây nữa. Em chú ý theo dõi cái chén thứ hai.

Một âm thanh nho nhỏ vang lên. Và ngay trước mắt tôi, cái vật đựng con chuột đã chết lại biến mất như chưa từng có ở chỗ ấy bao giờ.

- Nó biến đi đâu rồi?

- Chẳng biến đi đâu cả - anh bảo - Đấy là phiên bản mà. Chúng mình đã tạo ra nó ở một điểm xác định trong tương lai. Bây giờ chính là giờ phút tương lai ấy đã đến. Nó lặng lẽ kết thúc sự tồn tại của mình. Con chuột thứ nhất là nguyên bản, vẫn sống, vẫn khỏe khoắn. Chính điều đó cũng sẽ xảy ra với anh. Phiên bản của anh sẽ bị chết. Nhưng nguyên bản, chính là anh, sẽ tiếp tục sống. Sau 3 ngày, thời điểm số 0 sẽ đến. Phiên bản chết của anh sẽ biến mất; còn nguyên bản đã sống như thế nào thì cũng sẽ sống như vậy. Em hiểu rồi chứ?

- Em hiểu rồi. Nhưng dù sao đi nữa thì cũng liều lĩnh quá.

- Sao em lại nói thế? Em cứ hình dung thế này: người ta tìm thấy thi hài anh. Các bác sĩ khẳng định là anh đã chết. Báo chí sẽ đăng về cái chết của anh, sẽ tiến hành lễ cầu siêu cho anh... Đại khái như vậy. Rồi đột nhiên anh lại xuất hiện, vẫn còn sống và khỏe mạnh. Anh sẽ kể lại tất cả. Sau chuyện này anh sẽ không còn là một nhà vật lý tầm thường nữa, mà là người phát minh ra phương pháp chuyển động trong thời gian, anh sẽ là con người từ cõi chết trở về. Cả thế giới sẽ nói về anh. Lan-xơ-lốt Xtê-bin và những cuộc du hành trong thời gian. Đây sẽ là những khái niệm không thể tách rời nhau. Chẳng ai có thể chia rẽ hai danh từ đó ra.

- Anh Lan-xơ-lốt - tôi nói nhỏ - Nhưng tại sao, tại sao chúng ta không thể chỉ công bố đơn thuần phát minh của anh? Phức tạp như thế làm gì? Chỉ thế cũng đủ làm anh nổi tiếng, và lúc đó... chúng ta có thể ra tỉnh ở...

- Cô câm ngay! Cô hãy làm những gì đúng như tôi bảo!

 

Tôi không biết anh đã nghĩ ra kế hoạch này bao giờ và bản cáo phó có kèm tiểu sử của báo chí sẽ đóng một vai trò gì đối với anh, nhưng quả là tôi chưa đánh giá hết được khả năng trí tuệ của chồng tôi. Mặc dù anh là người hay gặp rủi ro đến lạ kỳ, nhưng không thể phủ nhận anh về mặt sáng tạo.

Anh nói với những người cộng tác của anh rằng khi họ vắng mặt, anh có ý định làm một vài thí nghiệm hóa học. Các cộng tác viên đều khẳng định là anh đã làm việc với muối xi-a-nua, và có lẽ vì thế anh đã bị ngộ độc.

- Em nhớ nói với cảnh sát để họ liên hệ ngay với các trợ lý của anh. Tìm họ ở đâu, thì em biết rồi đấy. Không cần phải để họ ngờ vực gì về việc bị ám sát hay tự sát. Chỉ là một sự không may mà thôi. Một tai nạn bình thường nhất, hợp pháp nhất. Làm sao lấy được giấy chứng tử của y tế cho nhanh nhất và in lên báo.

- Thế nhưng - tôi nói - lỡ người ta phát hiện ra anh vẫn đang sống ở phòng bên cạnh thì sao?

- Không thể có chuyện ấy! Nếu họ đã thấy tử thi của anh thì ai còn nghĩ đến việc cần chứng minh là anh vẫn còn sống nữa mà tìm. Anh sẽ ngồi yên trong gian phòng này. Mang theo vài cái bánh mì kẹp chả... nhà vệ sinh thì ở bên cạnh rồi.

Anh thở dài:

- Chỉ có điều... anh sẽ thèm cà phê lắm. Mùi cà phê mà bốc ra từ gian phòng này thì cũng phiền. Thôi được, anh sẽ chịu đựng trong ba ngày... chỉ có bánh mì và nước.

Tôi nghe anh không kìm được sự run rẩy vì xúc động.

- Nếu như họ tìm thấy anh thì sao? Họ sẽ thấy cùng một lúc có hai con người; một sống và một chết.

Tôi cố bình tĩnh. Và tôi cảm thấy anh sẽ không tránh khỏi thất bại.

Anh kêu lên:

- Không, không thể thế được! Nếu thế, việc đó chỉ là một trò hề rẻ tiền. Mà anh thì không muốn nổi tiếng với tư cách là nhân vật của chuyện tiếu lâm.

- Khó xảy ra, nhưng vẫn có thể xảy ra chứ sao - tôi thận trong nhận xét.

- Nhưng không thể xảy ra với anh!

- Anh thì lúc nào cũng nói thế... Rồi sau đó…

Lan-xơ-lốt tái mặt đi vì giận. Con ngươi trong mắt anh như xuyên vào tôi. Anh bóp vào khuỷu tay tôi mạnh đến nổi tôi xuýt nữa thì thét lên.

- Chính cô, cô lúc nào cũng có thể làm hại tôi. - Anh rít lên - Chỉ cô mới làm hại tôi. Nếu cô không biết điều thì tôi... tôi - anh tìm nhưng hình như chưa chọn được cho tôi một hình phạt thích hợp - tôi sẽ giết cô!

Sợ hãi đến cực độ, tôi vùng vằng để thoát khỏi tay anh, nhưng không được. Sự giận dữ thường làm cho người ta khỏe lạ lùng.

- Cô hãy nghe đây - cuối cùng anh nói - Cô luôn luôn mang đến cho tôi nỗi bất hạnh. Nhưng chính tôi có lỗi: tôi không nên lấy cô làm vợ mới phải. Đấy là một. Hai là, đáng lẽ phải ly dị cô từ lâu rồi, nhưng tôi chẳng bao giờ có thời gian... Còn bây giờ... bây giờ tôi đang đứng trước ngưỡng cửa của vinh quang bất tử, bất chấp ý muốn của cô. Tôi sẽ nguyền rủa cô nếu như lần này cô làm hỏng sự nghiệp của tôi. Tôi sẽ giết cô. Cô hiểu không? Tôi sẽ giết. Tôi thề như vậy đấy.

Tôi chẳng nghi ngờ gì là anh sẽ làm đúng như vậy. Tôi lắp bắp:

- Vâng.

Lúc đó, anh mới buông tôi ra.

Suốt ngày hôm sau, anh cặm cụi bên cạnh những máy móc của mình. Chưa bao giờ anh thử nghiệm vận chuyển một sinh vật nặng hơn 100gam. Anh vô tình thừa nhận điều đó.

Tôi nghĩ: “Anh sẽ thất bại thôi. Nhất định sẽ trục trặc một cái gì đó”.

Sáng hôm sau nữa, tất cả đã sẵn sàng. Anh điều chỉnh các thiết bị, sao cho tôi chỉ việc ấn nút. Sau đó anh bắt tôi bật và tắt máy không đóng mạch điện không biết bao nhiêu lần, cho thật thành thạo.

- Thế nào? - anh hỏi - Em đã hiểu cần phải làm những gì rồi chứ?

- Vâng, vâng.

- Bật điện đi, khi bóng đèn vừa tắt. Đúng như lần trước.

“Trời ơi, mình làm hỏng mất thôi”. Tôi thầm nghĩ, nhưng vẫn nói rành mạch:

- Vâng.

Lan-xơ-lốt mặc tạp dề bằng cao su ngoài áo blu, đứng vào chỗ của mình. Anh đứng bất động như bằng đá vậy.

Im lặng quá.

Bóng đèn nhấp nháy. Nhớ lại bài học của anh, tôi bấm nút, chẳng kịp nghĩ rằng mình đang làm gì. Chỉ một giây sau, trước mặt tôi đã là hai Lan-xơ-lốt, đứng bên nhau, giống nhau như hai giọt nước. Có điều, Lan-xơ-lốt thứ hai hơi bù đầu hơn chút đỉnh. Bất chợt, người thứ hai này mềm nhũn ra và ngã vật xuống.

- Tuyệt lắm - Lan-xơ-lốt sống reo lên, và bước ra khỏi hình vuông mà anh đã vẽ ở trên sàn - Bây giờ em giúp anh, khiêng chân hắn ta đi.

Tôi ngạc nhiên trước sự bình tĩnh của anh. Nhìn thấy thi hài của chính mình, cái xác không hồn của mình, hiện ra từ tương lai hai ngày, mà anh không hề sợ hãi. Và anh cũng không hề chớp mắt. Anh ôm xác mình vào nách chẳng khác gì ôm một bao khoai tây.

Tôi ôm lấy hai chân. Tôi sợ đến ngất đi được. Tử thi còn ấm. Chúng tôi khiêng xác chết dọc theo hành lang, lên cầu thang và cuối cùng bước vào phòng. Ở đây tất cả đều đã được chuẩn bị. Một dung dịch đang rốc rách trong chiến bình hình thù cổ quái. Xung quanh các thiết bị hóa học chất ngổn ngang.

Nói gọn lại, đó là một thứ bừa bãi điển hình của viện nghiên cứu khẩn trương đã được bố trí chu đáo. Trên bàn, giữa những hóa chất khác nhau, đập vào mắt tôi một chiếc bình thủy tinh nhỏ dán nhãn rõ ràng “xi-a-nua ka-li”. Vài tinh thể hóa chất cực độc này rơi vương vãi.

Lan-xơ-lốt đặt tử thi khéo léo đến nỗi ai cũng cho rằng đây là người từ ghế ngã xuống. Anh rắc vài hạt xi-a-nua ka-li lên áo ngoài, vài hạt vào lòng bàn tay phải và vài hạt ở râu cằm.

Anh lẩm bẩm: “Họ sẽ hiểu ngay thôi”.

Trước khi rời phòng, anh còn đưa mắt quan sát xem còn gì sai sót không.

- Có lẽ được rồi đấy. Em về nhà đi và gọi điện cho bác sĩ. Em kể cho họ vài câu. Rằng anh mải làm trong phòng thí nghiệm, em mang bánh mì đến cho anh. Đến nơi, em thấy...

Anh chỉ chiếc bánh mì kẹp chả còn nguyên nằm trên sàn và chiếc đĩa vỡ, dường như tôi đã hoảng hốt làm rơi.

- Bây giờ, em khóc đi. Nhưng đừng có quá lời đấy...

Tôi đã òa khóc đúng vào lúc cần thiết. Thực vậy, khóc lúc này chẳng khó khăn gì, vì mấy ngày liền tôi bị căng thẳng cực độ và chỉ muốn khóc cho vợi nỗi buồn bực, cho trút bằng hết những sự ấm ức trong lòng.

Bác sĩ cũng làm những việc hệt như Lan-xơ-lốt đã dự đoán. Thỉnh thoảng ông ta lại lắc lắc lọ xi-a-nua ka-li.

Nhíu mày lại. Ông lẩm bẩm:

- Chà chà! Cẩu thả quá chừng!

Tôi nuốt nước mắt:

- Tại tôi đã để anh ấy làm việc một mình. Anh ấy đã cho tất cả các trợ lý nghỉ phép.

- Khi coi xi-a-nua ka-li như muối ăn thì kết quả bi thảm là thế này đây - Bác sĩ lắc đầu phiền muộn, lên giọng dạy đời - Bà Xtê-bin, bà đừng giận. Tôi buộc lòng phải gọi cảnh sát. Không nghi ngờ gì nữa, đây là một tai nạn, mà bất kỳ cái chết đột ngột nào như thế này cũng phải được cảnh sát giám định.

- Vâng, vâng, tất nhiên. Ông gọi giúp tôi - Tôi nức nở. Và phải kịp ngậm miệng lại. Sự quá sốt sắng cũng gây ra nghi ngờ.

Cảnh sát đến. Chuyên gia pháp y nhìn thấy ở tay và râu cằm tử thi có những tinh thể chất độc thì bỉu môi ghê tởm. Họ làm rất tắc trách. Họ ghi tên, họ, tuổi. Họ hỏi tôi có định chôn ngay không. Tôi đáp “có” và họ bỏ đi.

Sau đó, tôi gọi điện cho tòa soạn các báo, liên hệ hai hãng ấn loát, đề nghị họ nếu có đăng lại tin lấy ở biên bản cảnh sát thì đừng nói rằng chồng tôi là một nhà hóa học vụng về. Tôi nói bằng giọng đau xót của người vợ có chồng vừa bị chết, không muốn có một tí vết nào đến thanh danh của người quá cố. Vả lại, tôi nói thêm, anh vốn không phải là nhà hóa học. Chuyên môn của anh là vật lý hạt nhân. Tôi còn ra vẻ đau khổ kể lại đã từ lâu linh tính báo cho tôi biết một nỗi bất hạnh đang đe dọa.

Tôi đã nói những câu Lan-xơ-lốt dặn dò. Thật đúng như anh đoán. Họ chộp ngay lấy tin này. Một tai nạn rủi ro đã xảy đến với một nhà vật lý nguyên tử. Có nghĩa là gì đây? Gián điệp ư? Bàn tay của Mat-xcơ-va ư?

Các phóng viên đổ xô đến. Tôi đưa cho họ bức chân dung của Lan-xơ-lốt thời trẻ, tôi dẫn họ vào phòng thí nghiệm. Máy ảnh lóe lên không ngớt. Nhưng không hiểu sao chẳng ai hỏi có gì trong căn phòng khóa kín kia không. Có lẽ họ không chú ý đến.

Tôi cung cấp cho họ những tài liệu phong phú về đường đời và sự sáng tạo khoa học của người đã khuất. Tôi nhắc lại cả một số chuyện vui, chứng tỏ rằng trong cuộc sống, nhà bác học lớn này là một người giản dị và khiêm tốn. Tất cả những điều này Lan-xơ-lốt cũng chuẩn bị từ trước. Tôi đã cố gắng hết sức nhưng một nỗi buồn dai dẳng cứ ám ảnh tôi hoài. Và lúc này đây, tôi nghĩ, có một cái gì đó bị sụp đổ. Chỉ một điều rất nhỏ nhặt cũng làm chúng tôi bị lộ. Tôi cảm thấy mình có lỗi, và lúc đó tôi sẽ ra sao? Anh đã chẳng hứa sẽ giết tôi là gì.

Buổi sáng, tôi mang đến cho anh mấy tờ báo. Lan-xơ-lốt vồ lấy đọc ngấu nghiến. Tờ “Nữu ước thời báo” dành cho anh một cột báo ở góc trang đầu tiên. Tờ “Times” không quá cố gắng lôi cuốn độc giả bằng cái chết của anh. Tờ “Afternoon poat” cũng chỉ với tinh thần ấy. Chỉ có một tờ lá cải nào đó in một tít lớn chạy suốt trang: “Cái chết bí ẩn của nhà bác học nguyên tử”.

Anh phá lên cười vui vẻ. Anh lướt nhanh từ đầu đến cuối, rồi bắt đầu đọc đi đọc lại. Sau đó anh bảo:

- Em đừng đi. Em hãy nghe xem họ viết gì.

- Em đã đọc cả rồi mà.

Anh đọc to, không vội vã tán thưởng những lời khen ngợi dành cho mình. Đọc xong tập báo, anh bảo:

- Thế nào? Em thấy còn gì sai sót nữa không?

Tôi ngập ngừng:

- Nếu cảnh sát quay lại và bắt đầu hỏi dò về câu em nói: “một nỗi bất hạnh đang đe dọa” nghĩa là thế nào thì sao?

- Em phải tìm cách chống chế chứ! Em cứ nói là em nằm mơ chẳng hạn. Rồi cứ mặc kệ cho người ta theo dõi. Thời gian sẽ qua ngay thôi mà.

Thật ra, cho tới bây giờ mọi việc đều trôi chảy. Thế nhưng lúc nào tôi cũng sợ sệt một cái gì đó. Tôi sợ cả hy vọng. Con người thật kỳ lạ. Khi chẳng có gì để hy vọng nữa, người ta vẫn hy vọng.

Tôi ấp úng:

- Anh Lan-xơ-lốt ạ... Nếu như mọi chuyện điều kết thúc êm đẹp... và anh trở nên nổi tiếng ... thì chúng mình sẽ được nghỉ ngơi, phải không anh? Chúng mình sẽ ra tỉnh sống... sống bình thường, phải không anh?

- Thật ngu xuẩn! Em phải biết rằng khi anh đã được thừa nhận, thì anh lại càng phải tiếp tục sự nghiệp của mình. Tuổi thanh xuân khi đó mới đến với anh. Phòng thí nghiệm của anh sẽ trở thành viện nghiên cứu khoa học khổng lồ: Viện thời gian. Bản thân anh sẽ trở nên một nhân vật thần thoại. Bất cứ một trí tuệ lớn nhất nào đứng bên cạnh anh cũng chỉ là một tên pic-mê lùn tịt.

Uỡn ngực ra phía trước, Lan-xơ-lốp nhìn đăm đăm vào khoảng trống bằng ánh mắt sáng rực. Anh kiễng cả hai chân lên nữa. Hình như là anh đã nhìn thấy trước mắt mình một tượng đài hùng vĩ bằng đá hoa cương đang được những người đương thời chiêm ngưỡng bằng tấm lòng hâm mộ.

Tôi thở dài ngao ngán. Hy vọng cuối cùng của tôi là được trở thành một người rất bình thường, với hạnh phúc đơn sơ, lại sụp đổ.

Tôi đề nghị nhân viên nhà tang đặt chiếc quan tài với thi hài Lan-xơ-lốt trong phòng thí nghiệm, để rồi sau đó chở thẳng đến Long Ian-xlan vào khu mộ chung của dòng họ Xtê-bin. Tôi không để họ ướp xác, lấy cớ rằng tôi sẽ giữ trong một phòng lạnh lớn, ở đó nhiệt độ xắp xỉ bằng không.

Tôi nói rằng, tôi muốn ở lại bên cạnh chồng những giờ phút cuối cùng, rằng những người trợ lý của anh cũng còn cần phải có mặt, nhưng những lời đó theo tôi không có sức thuyết phục. Anh nhân viên nhà tang lạnh lùng phản đối bằng nét mặt. Nhưng Lan-xơ-lốt đã dặn tôi như thế.

Khi thi hài Lan-xơ-lốt, đã khám nghiệm tử tế, trong chiếc quan tài để mở, đặt tại vị trí mọi người đều nhìn thấy được, tôi đến báo tin cho Lan-xơ-lốt sống biết:

- Anh biết không, nhân viên nhà tang không hài lòng. Anh ta có vẻ nghi ngờ thì phải.

- Kệ anh ta, - anh trả lời độ lượng.

- Thế nhưng...

- Anh ta cứ việc nghi ngờ. Em sợ gì nào? Chỉ cần đợi một ngày nữa thôi. Sáng mai, cái thi hài ấy sẽ biến mất... có nghĩa là nó cần phải biến mất.

- Nhưng nếu nó không biến mất thì sao?

- Ít có khả năng ấy. Có thể chậm một tí... hay ngược lại, sớm một tí. Thực ra, chưa bao giờ anh dịch chuyển một vật lớn đến như thế trong thời gian và anh cũng không rõ hoàn toàn là công thức của anh về mặt này chính xác đến mức nào. Cho nên anh mới quyết định để thi hài ở đây.

- Vô ích thôi. Ít ra nó cũng biến mất trong nhà xác có người chứng kiến.

- Còn ở đây, em nghĩ rằng người ta sẽ nghi là mình lừa dối ư?

- Tất nhiên rồi.

Chính ý nghĩ ấy lại làm anh vui hẳn lên:

- Càng tốt! Họ sẽ nói: Vì sao ông ta lại cho các trợ lý nghỉ phép cùng một lúc? Tử thi biến đi đâu? Ôi, ông ta bịa ra cái chuyện bị ngộ độc, đến trẻ con cũng hiểu được. Tất cả câu chuyện về chuyến du hành trong thời gian này quả là một vòng nguyệt quế dày dặn. Họ sẽ bảo, ông ta đã dám chấp nhận một việc làm cực kỳ nguy hiểm, là ở trạng thái hồn lìa khỏi xác, đến chính bác sĩ cũng quả quyết là ông ta đã chết.

- Trời ơi - tôi nói không ra hơi nữa. Sao anh nghĩ nhanh đến thế nhỉ?

- Sau đó - anh tiếp tục - anh mới tiết lộ rằng, sự thực là anh vừa hoàn thành một chuyến du hành kỳ lạ, đồng thời vừa sống vừa chết, thì lúc ấy các vị trùm sò trong khoa sẽ lên án anh. Anh sẽ bị lột mặt ra trước công chúng. Anh sẽ trở thành chuyện cửa miệng của mọi người. Cả thế giới sẽ xôn xao. Chính vào lúc đó... lúc đó, anh mới đề nghị biểu diễn công khai thí nghiệm của mình với sự hiện diện của một ủy ban có thẩm quyền nhất và cũng khó tính nhất. Anh muốn để chuyến du hành trong thời gian ấy sẽ được các hãng truyền hình quốc tế truyền khắp thế giới. Thí nghiệm được biểu diễn trên toàn cầu. Những công ty truyền hình sẽ tranh nhau gặp anh. Mặc xác họ, miễn là khán giả sẽ được chứng kiến phép lạ mà anh đã tạo ra hoặc sự thất bại thảm hại của anh. Điều chủ yếu là phải thật giật gân. Anh làm cho mọi người đều choáng váng.

Tất cả những ảo ảnh ấy trong khoảnh khắc đã làm tôi chói mắt. Nhưng giờ đây, một giọng nói từ nội tâm nhắc nhở tôi: con đường ấy dài quá, phức tạp quá. Sẽ đổ vỡ tan tành thôi!

Buổi chiều, hai trợ lý của chồng tôi về đến nơi. Cả hai đều cố nặn ra bộ mặt thật rầu rĩ. Như vậy là thêm hai nhân chứng khẳng định rằng chính họ đã trông thấy Lan-xơ-lốt chết. Thêm hai người bị lôi cuốn vào vụ rắc rối đang chuyển sang thời điểm gay cấn nhất này.

Vào lúc bốn giờ đêm, cả hai chúng tôi khoác áo lông ấm, ngồi trong phòng lạnh, nôn nóng chờ đợi đến giờ số 0. Tay run run, Lan-xơ-lốt vặn một nút nào đó trên thiết bị của mình. Chiếc máy tính xách tay chẳng phút nào tắt. Không tài nào hiểu nổi làm sao anh vẫn có thể điều chỉnh những con số bằng mấy ngón tay lạnh cóng của mình.

Tôi cảm thấy mệt rã rời. Lạnh quá. Bên cạnh chiếc quan tài. Một tử thi. Và hoàn toàn không biết giờ phút sắp tới cái gì đến với mình.

Thời gian kéo dài như hàng thế kỷ. Chúng tôi vẫn ngồi, vẫn đợi. Rồi Lan-xơ-lốt lên tiếng:

- Như vậy là đâu sẽ vào đấy! Nó sẽ biến mất như anh đã dự tính. Cùng lắm thì cũng chỉ chậm đến 5 phút. Độ chính xác với khối lượng 70 ki lô gam vẫn bảo đảm được. Dù sao thì phân tích của anh về sự chuyển hóa động lực thời gian vẫn là tuyệt vời: - Anh nháy tôi rồi sau đó còn tinh nghịch nháy mắt với cả xác của mình.

Tôi thấy chiếc áo bờ lu của anh rất nhầu nát. Ba ngày rồi mà anh chưa thay - anh còn mặc để ngủ nữa. Khi “sống lại” mà Lan-xơ-lốt lại mặc chiếc áo nhàu nát thế này ư?

Lan-xơ-lốt như đoán được tôi đang nghĩ gì. Theo cái nhìn của tôi, anh cũng đưa mắt xuống chiếc áo mình đang mặc.

- Hừ, cần phải khoác tạp dề. Anh chàng kia cũng mặc tạp dề cơ mà.

- Không mặc cũng được chứ sao? - Tôi nói, không thể hiện một cảm giác nào.

- Không, phải mặc chứ! Đấy cũng là một chi tiết đặc trưng. Nếu không, họ sẽ không tin rằng đó là một người. - Anh chăm chú nhìn tôi - Em có nghĩ rằng anh cũng sẽ bị thất bại như những lần trước hay không?

Khó khăn lắm tôi mới nói được:

- Em không biết.

- Em có nghĩ rằng cái xác chết kia không biến đi, mà chính anh lại biến mất không?

Tôi im lặng. Anh nói như reo lên:

- Thế nào, em vẫn chưa thấy hạnh phúc đang mỉm cười với anh à? Em không thấy tất cả vẫn tuần tự diễn ra như chơi theo một bản nhạc viết sẵn à? Chỉ một lát nữa thôi, anh sẽ trở thành một con người vĩ đại nhất thế giới. Thôi, tốt nhất là đun nước pha cà phê cho anh đi - anh nói hài lòng lạ lùng - Người đã quá cố sắp sửa bay hơi, và anh thì sống lại. Sự kiện ấy đáng ăn mừng lắm chứ.

Anh giục tôi đi lấy lọ cà phê hòa tan. Sau ba ngày khao khát, anh thèm lắm rồi.

Tôi đứng dậy cắm bếp điện. Những ngón tay lẩy bẩy không muốn nghe lời tôi. Anh gạt tôi ra và tự mình đặt một bình nước lên bếp điện.

- Chúng mình hãy chờ một chút - anh vừa nói, vừa vặn núm điện sang vị trí “max”, nhìn đồng hồ, rồi lại mân mê chiếc núm trên máy. - Có lẽ nước không kịp sôi. Xác chết biến đi bây giờ đây. Lại đây em.

Tôi đứng bên cạnh quan tài.

Tôi trùng trình.

Anh ra lệnh:

- Lại đây!

Tôi bước lại gần anh.

Anh nhìn về phía quan tài rồi lại nhìn lên bản thân mình với sự khoan khoái không thể tả được. Cả hai chúng tôi đều dán mắt vào tử thi.

Tôi nghe thấy một âm thanh quen thuộc và Lan-xơ-lốt kêu lên:

- Đến lúc rồi!

Trong chớp mắt, tử thi đã biến mất. Trong quan tài chỉ còn một bộ quần áo rỗng không. Bộ quần áo trên “người kép” tất nhiên cũng là bộ quần áo anh mặc khi hiện ra. Cho nên, nó còn lại. Quần, áo vét tông, sơ mi, chiếc ca-vát mới. Giày thì bị lật sấp xuống, tất thì lòi ra. Và chính con người thì không còn nữa.

Tôi nghe thấy tiếng nước sôi róc rách.

- Cà phê - Lan-xơ-lốt nói - Pha cà phê cho anh mau lên, rồi em đi gọi cảnh sát và các nhà báo đến nhé!

Tôi pha cho anh cà phê và cho cả mình. Thêm cho anh một thìa đường như thường lệ, một thìa đường vừa đầy, nhưng không có ngọn. Không hơn, không kém. Đó là một kỷ luật sắt, ngay cả bây giờ, thói quen vẫn còn mạnh hơn bao giờ hết.

Tôi uống cà-phê không đường. Thói quen của tôi là thế. Tôi uống một ngụm. Cái nóng dễ chịu đã sưởi ấm cơ thể tôi.

Lan-xơ-lốt cầm tách cà phê lên tay. Anh khẽ nói:

- Thế là anh đã chờ đợi được đến phút này - anh trịnh trọng đưa tách cà phê lên môi.

Đó là lời nói cuối cùng của anh. Anh gục xuống.

Khi tất cả đang đi đến chỗ kết thúc, tôi đã hành động như điên. Tôi cởi bộ quần áo của anh và mặc cho anh bộ tôi lấy từ quan tài ra. Cho tới bây giờ tôi vẫn không hiểu tôi đã bế xốc anh từ sàn lên và đặt vào quan tài như thế nào nữa. Tôi đặt bàn tay anh lên ngực, giống hệt như tư thế của thi hài anh vừa biến mất.

Sau đó tôi rửa rất lâu, rất kỹ tất cả những vết cà phê ở bồn rửa mặt. Tôi xúc rất cẩn thận lọ đựng đường. Tôi rửa nó và chiếc tách của anh cho tới khi không thể còn một dấu vết bé nhỏ nhất nào của xi-a-nua ka-li mà tôi đã cố tình đánh tráo thay vào lọ đường và xúc cho anh.

Chiếc áo bờ-lu làm việc và tất cả những gì còn lại tôi vứt vào thùng rác. Lúc nãy, tôi đã vứt vào đấy tất cả quần áo của “người kép” của anh, nhưng tất nhiên là bây giờ không còn nữa.

Mãi tới buổi tối, khi xác chồng tôi đã hoàn toàn cứng lại, tôi gọi nhân viên nhà tang. Họ chẳng có gì là ngạc nhiên thì phải. Mà sao phải ngạc nhiên cơ chứ?

Người chết nằm đâu vẫn nằm đấy. Trước thế nào thì nay vẫn thế. Đúng là người ấy. Thậm chí cả xi-a-nua trong dạ dày, như người ta đã nhận định.

Họ đóng đinh vào quan tài và chở đi.

Nói đúng luật, khi tôi đầu độc Lan-xơ-lốt thì anh đã được luật pháp công nhận là chết rồi. Cho nên tôi tin rằng đây không phải là một vụ giết người. Và tất nhiên, pháp luật chẳng làm gì được tôi.

Lúc này, tôi đã tìm lại được sự bình yên như mình hằng mong muốn. Tôi hài lòng với cuộc sống của mình. Tiền nong tôi cũng đầy đủ. Tôi thường đi xem hát. Tôi tiếp đón bạn bè.

Lương tâm tôi vẫn thanh thản.

Tôi tin rằng chẳng bao giờ Lan-xơ-lốt được thừa nhận. Rồi đây, người ta sẽ phát minh lại ra phương pháp dịch chuyển trong thời gian, nhưng tên tuổi Lan-xơ-lốt Xtê-bin vĩnh viễn bị chìm trong quên lãng. Tôi đã từng bảo anh rằng tất cả những dự án của anh sẽ đều thất bại cả thôi. Anh đừng chờ đợi vinh quang làm gì. Nếu như tôi không đầu độc anh, tất nhiên một cái gì đó sẽ xảy ra không như ý muốn, và anh sẽ giết tôi.

Không, tôi không có gì đáng phải hối hận.

Nói thật ra, tôi đã tha thứ cho anh tất cả. Tất cả, trừ có một điều: anh đã nhổ vào mặt tôi. Số phận trớ trêu biết bao! Trước khi chết số phận đã trao tặng cho anh một món quà, mà con người đâu có dễ gì nhận được. Đó là: anh đã cảm thấy thật hạnh phúc.

Dù sao đi chăng nữa, Lan-xơ-lốt đã tự mình được đọc bản cáo phó của chính mình, đúng như tôi đã nói, khiến anh rầy la tôi và nhổ vào mặt tôi.

QUỐC TUẤN dịch

« Lùi
Tiến »