Một buổi sáng chủ nhật, trên đường đi bộ đến nhà thờ, tôi để bé Miles đi bên cạnh mình, còn cô em gái đi phía trước cùng với bà Grose, trong tầm mắt tôi. Hôm đó là một ngày trời trong, mát mẻ, ngày đầu tiên có thời tiết như vậy trong một thời gian dài; buổi đêm đã mang đến chút se lạnh, và không khí mùa thu hanh hao trong trẻo khiến cho tiếng chuông nhà thờ có phần tươi vui. Tại thời điểm đó, tôi đột nhiên nảy ra ý nghĩ rằng tôi phải đặc biệt biết ơn sự nghe lời của các học sinh nhỏ của tôi. Vì sao các em không bao giờ oán giận việc theo sát không ngừng nghỉ của tôi? Có điều gì đó khiến tôi nhận thức rõ rằng tôi chỉ còn thiếu nước ghim cậu bé vào khăn choàng của mình và rằng, nhìn vào dáng vẻ đầy trật tự của hai người bạn đồng hành đi phía trước, có lẽ tôi đã kiểm soát quá chặt mọi nguy cơ nổi loạn. Tôi như một cai ngục đang để mắt canh chừng mọi khả năng vượt ngục hoặc sự cố đột xuất. Nhưng toàn bộ vẻ cam chịu tuyệt diệu của các em chỉ nằm trong một loạt những thực tế kinh khủng. Diện bộ đồ cầu kỳ lẫn phong cách hào nhoáng, đặc quyền độc lập đặc quyền về giới tính và địa vị của Miles in hằn rõ lên em đến mức nểu em đột nhiên vùng lên đòi tự do, tôi sẽ chằng có lời nào để nói. Có lúc tôi vẩn vơ tự hỏi khi sự phản kháng không thể tránh khỏi xảy ra, tôi sẽ đối mặt với em như thế nào. Tôi gọi nó là sự phản kháng vì giờ đây tôi đã thấy rõ, theo lời em nói ra, màn cuối vở kịch kinh hoàng của tôi đã vén màn, và thảm họa sắp ập đến. “Thưa cô thân mến,” cậu bé nói bằng vẻ duyên dáng, “xin cô cho biết, khi nào thì con sẽ quay lại trường?”
Khi được ghi lại trên những trang giấy này, câu nói ấy có vẻ vô hại, đặc biệt là khi được nói ra bằng âm điệu cao, ngọt ngào, tự nhiên mà em cất lên như thể đang tung hoa hồng về phía người đối thoại với mình, đặc biệt là với cô gia sư trung thành vĩnh cửu của em. Có điều gì đó trong những bông hồng tưởng tượng ấy luôn khiến người ta “bắt lấy” chúng, và tôi đã bắt lấy hết sức thành công, đến mức tôi khựng lại như thể một cái cây trong hàng cây công viên đã đổ ngang qua đường. Có điều gì đó mới mẻ đã xuất hiện ngay tại chỗ giữa chúng tôi, và em ý thức được rõ ràng rằng tôi đã nhận ra điều đó, dù để khiến tôi nhận ra, em hoàn toàn không cần tỏ vẻ thành thật và đáng yêu hơn thường lệ. Tôi có thể cảm thấy trong em rằng từ việc tôi nhất thời không biết trả lời ra sao, em đã nhận thấy mình nắm được lợi thế. Hồi lâu tôi không tìm ra lời nào để đáp lại, đến mức em có dư giả thời gian, trọn một phút, để tiếp tục nụ cười mơ hồ đầy ẩn ý của mình: “Cô biết đấy, thưa cô thân mến, một cậu con trai mà luôn ở bên một quý cô…!” “Cô thân mến” là cụm từ cửa miệng em dành cho tôi, và không gì có thể thể hiện chính xác mức độ tình cảm mà tôi mong muốn ở các học sinh của tôi đối với mình hơn sự thân quen yêu mến của cụm từ đó. Vừa gần gũi, vừa đầy kính trọng.
Ôi, nhưng vào lúc đó tôi cảm thấy mình phải tìm ra ngôn từ cho lời giải đáp của chính mình! Tôi nhớ rằng, để câu giờ, tôi cố bật cười, và dường như tôi nhìn thấy từ gương mặt xinh đẹp đang nhìn tôi, vẻ xấu xí và quái dị của mình. “Và luôn ở với cùng một quý cô chứ?” Tôi đáp lại.
Em không biến sắc mà cũng không chớp mắt. Toàn bộ sự thật hầu như đã lồ lộ ra giữa chúng tôi. “À, tất nhiên, đấy là một quý cô vui tính, ‘hoàn hảo’; nhưng nói cho cùng, con là con trai, cô không thấy sao? Chúng con chỉ… hoà thuận.”
Tôi lưu lại đó với em trong một khoảnh khắc hết sức dịu dàng. “Phải, các con đều hoà thuận.” Ôi, nhưng tôi cảm thấy thật bất lực!
Đến tận ngày hôm nay tôi vẫn mang theo ý nghĩ đau lòng rằng có vẻ như em biết sự bất lực của tôi và đùa bỡn với nó. “Và cô không thể nói rằng con đã không ngoan, đúng không?”
Tôi đặt tay lên vai em, vì dù tôi cảm thấy đi tiếp sẽ tốt hơn nhiểu, tôi vẫn chưa thể. “Không, cô không thể nói vậy, Miles.”
“Chỉ trừ đêm hôm đó, cô biết đấy…!”
“Đêm hôm đó?” Tôi không thể tỏ vẻ thản nhiên như em.
“Cái hôm mà con xuống vườn… ra khỏi nhà.”
“Ồ, phải. Nhưng cô đã quên con làm thế để làm gì.”
“Cô quên rồi ư? Em nói với vẻ trách cứ trẻ con đầy ngọt ngào. Là để cho cô thấy con có thể chứ sao!”
“Ồ, phải, con có thể.”
“Và con còn có thể làm lại.”
Tôi cảm thấy ràng có lẽ rốt cuộc tôi vẫn có thể thành công trong việc giữ lại lí trí. ‘”Tất nhiên. Nhưng con sẽ không làm vậy đâu.”
“Không, không phải việc đó . Việc đó chẳng là gì cả.”
“Nó chẳng là gì cả,” tôi nói. “Nhưng chúng ta phải đi tiếp thôi.”
Em bước tiếp cùng tôi, luồn bàn tay mình vào cánh tay tôi. “Vậy khi nào thì con sẽ quay lại?”
Tôi châm chước câu chữ, rồi khoác lên thái độ nghiêm túc nhất của mình. “Con có vui khi ở trường không?”
Em đắn đo giây lát. “Ồ, ở đâu con cũng vui cả!”
“Chà, thế thì,” tôi run rẩy, “nếu ở đây con cũng vui…!”
“À, nhưng đó không phải là tất cả! Tất nhiên là cô hiểu biết rất nhiều…”
“Nhưng ý con là con cũng biết nhiều không kém?” Tôi thử ướm lời khi em ngập ngừng.
“Chưa được một nửa những điều con muốn biết!” Miles thú thực. “Nhưng chủ yếu không phải vì thế.”
“Vậy thì là vì cái gì?”
“À… Con muốn ngắm nhìn thế giới nhiều hơn.”
“Cô hiểu, cô hiểu.” Chúng tôi đã nhìn thấy nhà thờ cùng với nhiều người khác, bao gồm một số hộ gia đình của Bly, trên đường đến nhà thờ và túm tụm quanh cửa để thấy chúng tôi đi vào. Tôi guồng nhanh bước chần; tôi muốn đến đó trước khi câu hỏi giữa chúng tôi dẫn đi xa hơn; tôi đau đáu nghĩ rằng, trong hơn một giờ đồng hồ, cậu bé sẽ phải giữ im lặng; và tôi ngầm mong mỏi chiếc ghế dài xám xịt trong nhà thờ cũng như sự trợ giúp gần như tâm linh của tấm gối cầu nguyện nơi tôi sắp quỳ. Dường như có thể nói tôi đang chạy đua với trạng thái bối rối mà em sắp sửa đẩy tôi vào, nhưng tôi cảm thấy em đã vào trước, trước khi chúng tôi kịp bước vào sân nhà thờ, em thốt lên…
“Con muốn đồng loại của mình!”
Câu nói đó thực sự khiến tôi bật về phía trước. “Đồng loại của con không có nhiều đâu, Miles!” Tôi cười. “Có lẽ ngoại trừ bé Flora!”
“Cô thực sự định so sánh con với một bé gái ư?”
Câu nói chọc đúng điểm yếu của tôi. “Chẳng lẽ con không yêu Flora dễ thương của chúng ta sao?”
“Nếu con không yêu - và cả cô nữa; nếu con không yêu…” Em nhắc lại như thể lùi bước để lấy đà, rồi bỏ dở suy nghĩ của mình đến nỗi sau khi chúng tôi đã đi qua cổng, tôi không thể tránh khỏi việc dừng chân mệt lần nữa. Em bắt tôi dừng lại bằng cách áp chặt cánh tay lên tôi. Bà Grose và Flora đã vào nhà thờ, những người đi cầu nguyện khác đã theo sau, còn chúng tôi, trong một phút, đứng đơn độc giữa những bia mộ dày cũ kĩ. Chúng tôi dừng lại, trên lối mòn từ cánh cổng, cạnh một nấm mộ dài như cái bàn.
“Ừ, nếu con không yêu…?”
Em nhìn những nấm mộ, trong khi tôi chờ đợi. “Cô biết rồi mà!” Nhưng em không di chuyển, và lập tức em nói ra một điều khiến tôi ngã ngồi xuống phiến đá đắp mộ, như thể đột nhiên buông lỏng. “Bác con có nghĩ điều cô nghi không?”
Tôi thả lỏng rõ rệt. “Làm sao con biết cô nghĩ gì?”
“À, tất nhiên là con không biết; vì con phát hiện cô không bao giờ nói với con. Nhưng ý con là bác ấy có biết không?”
“Biết gì hả Miles?”
“Biết về tình hình của con.”
Tôi nhanh chóng nhận thức được rằng tôi không thể giải đáp câu hỏi này mà không gây tổn hại cho ông chủ của tôi. Thế nhưng đối với tôi, có vẻ như tất cả chúng tôi, tại Bly, đều đã chịu đủ tổn hại nên việc đó trở nên tha thứ được. “Cô nghĩ bác con không quan tâm mấy đâu.”
Nghe vậy, Miles đứng nhìn tôi. “Vậy cô không nghĩ bác ấy có thể bị buộc phải quan tâm ư?”
“Theo cách nào?”
“Tất nhiên là bằng cách đến đây.”
“Nhưng ai sẽ khiến ông ấy đến đây?”
“ Con sẽ làm!” Cậu bé nhấn mạnh và quyết tâm. Em dành cho tôi một cái nhìn nữa mang theo cùng biểu cảm đó rồi một mình đi vào nhà thờ.