Chuyện Ma Ám Ở Trang Viên Bly

Lượt đọc: 177 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 4

Trước sự việc này, tôi đã chờ đợi xem có thấy thêm điều gì nữa không, vì càng kinh hãi bao nhiêu thì tôi càng chôn chân tại chỗ chặt bấy nhiêu. Phải chăng có một “bí mật” ở Bly - bí ẩn kiểu Udolpho hay một người bà con điên khùng bị cấm nhắc đến, được cất giấu trong một phòng giam kín đáo? Tôi không thể nói rõ mình đã trăn trở tự hỏi mất bao lâu; hay trong cơn hỗn loạn của tò mò và sợ hãi, tôi đã nán lại bao lâu tại nơi tôi bắt gặp hắn. Tôi chỉ nhớ rằng khi mình vào nhà thì bóng tối đã ập xuống. Trước lúc đó, nỗi lo sợ nhất định đã bám chặt lấy khiến tôi không yên, vì tôi hẳn phải đi lòng vòng tại chỗ đến ba dặm. Nhưng về sau, tôi sẽ còn bị choáng ngợp hơn nữa, đến mức chút báo động ban đầu này so ra chỉ là một luồng gió lạnh không đáng kể.

Trên thực tế, điều đặc biệt nhất của chuyện này - dù phần còn lại của nó cũng đã đủ đặc biệt - là những gì tôi ý thức được khi gặp bà Grose trên hành lang. Cảnh tượng khi ấy giờ đây nối đuôi trở lại với tôi - ấn tượng của tôi khi trở lại, về không gian ốp ván tường trắng, sáng trưng trong ánh đèn cùng những bức chân dung với tấm thảm đỏ, và về vẻ ngạc nhiên vui mừng trên mặt người bạn của tôi, lập tức cho tôi biết rằng bà đang mong đợi mình. Khi tiếp xúc với bà, qua thái độ nhiệt tình mộc mạc và vẻ an tâm nhẹ nhõm khi nhìn thấy tôi, tôi nhận ra ngay lập tức, rằng bà không hề biết gì liên quan đến sự việc mà tôi định kể với bà. Trước đó tôi không ngờ rằng gương mặt vui mừng của bà sẽ ngăn tôi lại, và tôi hơi băn khoăn về tầm quan trọng của thứ tôi vừa nhìn thấy, bởi khi ấy tôi nhận ra mình đang chần chừ không nhắc đến nó. Hầu như không có thứ gì trong toàn bộ quá khứ có vẻ lạ thường với tôi hơn thực tế rằng nỗi sợ hãi thực sự manh nha trong tôi đi đôi với bản năng miễn cho người bạn của tôi phải chịu nỗi sợ đó. Vì thế, tại đó, trong hành lang ấm cúng và với ánh mắt của bà hướng vào tôi, vì một lí do mà khi đó tôi không thể nói thành lời, tôi đã đặt ra một quyết tâm thầm lặng - viện ra cái cớ mơ hồ nào đấy về sự chậm trễ của mình, rồi vin vào buổi tối đẹp trời cùng màn sương nặng hạt và đôi chân ẩm ướt, vội vã về phòng mình.

Đây lại là một vấn đề nữa, trong nhiều ngày sau đó, một vấn đề không kém phần kì quặc. Ngày qua ngày, có những giờ - hay ít nhất là có những khoảnh khắc tranh thủ giữa thời gian làm việc - tôi phải khép kín bản thân để suy nghĩ. Tôi chưa lo sợ đến quá sức chịu đựng, mà nói đúng hơn là tôi thực sự e ngại rằng mình sẽ trở nên như thế. Vì hiện giờ có một sự thật đơn giản và rõ ràng mà tôi phải suy ngẫm, đó là tôi không có bất cứ thông tin nào về vị khách lạ mà bản thân đã tiếp xúc một cách hết sức khó hiểu nhưng cũng lại có vẻ cực kì mật thiết ít nhất với tôi mà nói thì là vậy. Không mất bao lâu tôi liền thấy rõ rằng mọi hình thức dò hỏi hoặc nhận xét kích động tôi đặt ra đều sẽ gây nên tình hình phức tạp trong ngôi nhà. Cơn sốc tôi vừa phải chịu hẳn đã mài sắc giác quan của tôi; thông qua chú ý quan sát vào cuối mỗi ngày, tôi tin chắc rằng mình không bị người giúp việc chơi khăm hay bị biến thành đối tượng của bất kì “trò chơi” nào. Không ai quanh tôi biết gì về sự việc tôi đã gặp. Đó là điều mà tôi liên tục tự nhủ bản thân sau khi nhốt mình trong phòng và khoá chặt cửa. Tất cả chúng tôi đều là nạn nhân của một cuộc xâm phạm; một kẻ lang thang khả nghi nào đó, tò mò về những ngôi nhà cũ, đã lẻn vào mà không bị ai trông thấy, thưởng thức quang cảnh từ vị trí có tầm nhìn tốt nhất, và rồi chuồn ra đúng như khi hắn đến. Nếu hắn có dành cho tôi ánh mắt chăm chú trắng trợn, thì cũng chỉ là một phần trong sự táo tợn của hắn. Nói cho cùng, điều may mắn là chắc chắn chúng tôi sẽ không gặp lại hắn nữa.

Tôi thừa nhận, điều may mắn đó không lớn đến mức khiến tôi không cho rằng về cơ bản, thứ khiến cho mọi chuyện khác đều trở nên không mấy quan trọng chính là công việc đáng yêu của tôi. Công việc đáng yêu của tôi chính là cuộc sống bên Miles và Flora, và không lí do gì khiến tôi thích công việc đó bằng cảm giác rằng tôi có thể vùi mình vào nó trong cơn phiền muộn. Sự thu hút của hai học trò bé nhỏ là một niềm vui bất tận, khiến cho tôi lại một lần nữa không hiểu nổi nỗi lo sợ hão huyền của mình lúc đầu, về ác cảm tôi từng có khi tưởng tượng ra viễn cảnh ảm đạm của công việc tương lai. Rõ ràng không hề có gì ảm đạm hay trắc trở. Làm sao mà một công việc mỗi ngày để bộc lộ vẻ đẹp của mình lại có thể không hấp dẫn kia chứ? Duy nhất sự lãng mạn của thơ ca và đồng dao trong phòng học. Tất nhiên tôi không có ý nói rằng chúng tôi chỉ học mỗi thơ văn và tiểu thuyết; ý tôi là tôi không thể diễn tả bằng cách nào khác cảm giác hứng thú mà hai người bạn nhỏ khơi gợi cho tôi. Làm sao tôi có thể miêu tả điều đó ngoài cách nói rằng thay vì trở nên thân quen với các em - mà đó đã là điều tuyệt vời đối với một gia sư: có các chị em đồng nghiệp của tôi làm chứng! - tôi liên tục khám phá ra những điều mới mẻ. Tất nhiên, những khám phá đó chững lại ở một hướng: màn sương dày đặc bao phủ lên hành vi của cậu bé khi ở trường. Tôi nhận ra mình đã lập tức có thể đối mặt với điều bí ẩn đó không chút băn khoăn. Có lẽ sẽ còn gần với sự thật hơn khi nói rằng bản thân cậu bé đã làm rõ mọi chuyện. Em khiến toàn bộ lời kết tội trở nên lố bịch. Kết luận của tôi bung ra cùng với nụ hồng bừng nở từ vẻ ngây thơ của em: Em quá trong sáng và đáng yêu so với thế giới trường học kinh khủng, dơ bẩn, và em đã phải trả giá vì điều đó. Tôi tin tưởng sâu sắc rằng những khác biệt ấy, các phẩm chất cao quý ấy, chắc chắn luôn khiến số đông - có thể bao gồm cả những ông thầy hiệu trưởng ngu ngốc, ti tiện - quay sang thù ghét em.

Cả hai đứa trẻ đều có một sự dịu dàng (đó là nhược điểm duy nhất của các em, và nhược điểm đó không thể biến Miles thành đứa trẻ hư) khiến cho các em - tôi phải diễn tả sao đây? - hầu như thoát tục và chắc chắn không ai nỡ xử phạt. Hai em giống như những thiên sứ trong truyện kể, những người không chút tì vết - ít nhất là về đạo đức. Tôi nhớ rằng cảm nhận của mình về Miles là em dường như không có quá khứ. Chúng ta không mong đợi trẻ nhỏ có bao nhiêu quá khứ, nhưng trong bé trai xinh đẹp này có gì đó cực kì nhạy cảm, nhưng cũng cực kì hạnh phúc, so với mọi tạo vật đồng lứa với em mà tôi từng gặp, khiến tôi ngỡ như mỗi ngày của em đều là một bắt đầu mới. Em chưa từng chịu đau khổ một giây phút nào. Tôi coi đây là một bằng chứng trực tiếp phủ định việc em từng thực sự bị trừng phạt. Nếu là đứa trẻ hư thì em hẳn đã thể hiện ra, và tôi đã phát hiện ra - nhất định tôi đã tìm được dấu vết. Tôi không tìm thấy gì cả, và vì thế em là một thiên thần. Em không bao giờ kể về trường học, không hề đề cập đến bạn học hay thầy giáo nào; và về phần mình, tôi cũng quá ghê tởm nên không muốn nhắc đến họ. Tất nhiên tôi đã bị phù phép, và kì diệu ở chỗ là ngay cả khi đó, tôi cũng biết rất rõ điều này. Nhưng tôi tự nguyện khuất phục; nó là liều thuốc giải cho mọi nỗi đau, mà tôi có không chỉ một nỗi đau. Thời gian đó tôi nhận được những lá thư đầy phiền não từ quê nhà gửi đến, mọi chuyện ở nhà không suôn sẻ. Nhưng với các học sinh của tôi, thì có gì trên thế giới này quan trọng đâu? Đây là câu hỏi tôi thường đặt ra trong những giờ nghỉ ngắt quãng của mình. Tôi đã bị sự đáng yêu của các em che mờ mắt.

Tôi xin kể tiếp, có một ngày Chủ Nhật, trời mưa tầm tã nhiều giờ đến mức không thể đi nhà thờ. Kết quả là khi ngày dần trôi, tôi bàn với bà Grose rằng nếu thời tiết buổi tối cải thiện, chúng tôi sẽ cùng đi dự buổi lễ tối. May mắn thay cơn mưa đã tạnh, và tôi chuẩn bị cho chuyến đi bộ của chúng tôi xuyên qua công viên và con đường dẫn vào làng, một chặng đường sẽ kéo dài hai mươi phút. Khi xuống lầu để gặp đồng sự trong sảnh, tôi nhớ ra đôi găng tay vẫn để trong phòng ăn. Đôi găng tay cần khâu ba mũi và tôi đã làm việc đó - có lẽ không mấy tinh tế - lúc ngồi cùng bọn trẻ vào giờ trà của các em, được phục vụ theo ngoại lệ vào các Chủ Nhật, trong thánh địa lạnh lẽo, sạch sẽ đầy đồ gụ và đồ đồng có tên “phòng ăn người lớn”. Đôi găng tay bị bỏ quên ở đó nên tôi quay lại lấy.

Thời tiết khá âm u, nhưng ánh sáng buổi chiều vẫn còn nán lại, cho phép tôi không chỉ nhận ra món đồ mình tìm nằm trên chiếc ghế gần ô cửa sổ rộng đang đóng ngay khi bước qua ngưỡng cửa, mà còn nhận thấy được một người đang ở bên kia cửa sổ và nhìn thẳng vào nhà. Chỉ một bước vào trong phòng là đủ; hình ảnh lập tức hiển lộ trước tầm mắt tôi. Kẻ đang nhìn thẳng vào nhà chính là kẻ đã từng xuất hiện trước mắt tôi. Hắn lại hiện ra, tôi không dám nói là rõ nét hơn vì đó là điều không thể, mà với một cự li gần thể hiện bước tiến dài trong cuộc tiếp xúc giữa chúng tôi, khiến tôi nghẹt thở và lạnh toát khi nhìn thấy hắn.

Hắn vẫn như trước - trông vẫn không khác gì, và vẫn để lộ thân hình từ thắt lưng trở lên như lần trước. Ô cửa sổ không kéo dài đến mặt hiên nơi hắn đang đứng dù phòng ăn ở tầng trệt. Khuôn mặt hắn áp sát vào cửa kính, nhưng lạ thay tầm nhìn rõ ràng lần này chỉ có tác dụng là cho tôi thấy lần gặp trước căng thẳng đến mức nào. Hắn chỉ nán lại vài giây - đủ lâu để khiến tôi tin rằng hắn cũng đã nhận thấy tôi; nhưng như thể tôi đã nhìn hắn nhiều năm và biết mặt hắn từ lâu. Tuy vậy, điều gì đó không có ở lần trước đã xảy ra vào lần này. Ánh nhìn đăm đăm của hắn hướng vào mặt tôi, qua lớp kính và băng qua căn phòng, cũng sâu xa và chăm chú như lúc trước, nhưng rời bỏ tôi một khoảnh khắc trong khi tôi vẫn quan sát nó, thấy nó nhìn lần lượt vài thứ khác. Ngay lập tức một cơn sốc mới ập tới với tôi khi biết đích xác rằng hẳn không đến để tìm tôi. Hắn đến vì một người khác.

Nhận thức chớp nhoáng này - đến với tôi giữa cơn kinh hãi - tạo ra trong tôi một hiệu quả phi thường, khơi dậy làn sóng đột ngột của bổn phận và dũng khí ngay khi tôi đứng đó. Tôi nói là dũng khí vì tôi đã vượt ra ngoài mọi hoài nghi và đi quá xa. Tôi lao thẳng ra khỏi cửa, đến cửa chính ngôi nhà, trong chớp mắt bổ nhào xuống lối đi, và băng nhanh hết sức qua hiên nhà, quành qua khúc ngoặt và đến vị trí có thể thu trọn hắn vào tầm mắt. Nhưng tầm mắt lúc này đã không còn gì cả - vị khách của tôi đã biến mất. Tôi dừng lại, suýt ngã quỵ, vì nhẹ nhõm; nhưng tôi thu vào tầm mắt toàn bộ cảnh vật - tôi cho hắn thời gian để xuất hiện trở lại.

Gọi là “thời gian”, nhưng là bao lâu? Đến hôm nay tôi cũng không thể nói rõ độ dài khoảng thời gian những sự việc này xảy ra. Chắc hẳn tôi đã mất đi khả năng ước lượng: chúng không thể kéo dài như tôi tưởng. Hiên nhà và toàn bộ nơi đó, thảm cỏ cùng khu vườn sau nó, toàn bộ khuôn viên tôi nhìn thấy đều vắng lặng đến trống trải. Có những bụi cây và thân cây lớn, nhưng tôi nhớ khi ấy mình đã chắc chắn rằng hắn không ẩn nấp ở đâu trong số đấy. Hoặc hắn đang ở đây hoặc là không: không ở đây nếu tôi không nhìn thấy hắn. Tôi hiểu rõ điều này, rồi theo bản năng, thay vì quay về, tối bước đến cửa sổ. Tôi mơ hồ nhận thấy rằng mình cần đặt bản thân tại nơi hắn vừa đứng. Tôi làm thế; tôi áp mặt lên khung cửa và nhìn, như hẳn từng nhìn, vào trong phòng. Đúng lúc đó, như thể đế cho tôi thấy góc nhìn của hắn lúc nãy, bà Grose bước từ sảnh vào, giống như tôi từng làm với hắn ngay lúc nãy. Bằng việc này tôi chứng kiến cảnh tượng vừa nãy lặp lại trước mắt. Bà nhìn thấy tôi như tôi từng thấy vị khách của mình; bà đứng sững lại như tôi đã làm; tôi gây cho bà một cơn sốc tương tự như tôi từng nhận. Mặt bà trắng bệch, và điều này khiến tôi tự hỏi liệu mặt tôi có trắng bệch đi như vậy không. Bà nhìn trân trối trong chốc lát, rồi lùi trở ra theo đúng đường đi của tôi, và tôi biết bà đã ra ngoài và vòng qua nhà đến chỗ tối, và rằng tôi sắp gặp bà. Tôi đứng yên tại chỗ, trong lúc chờ đợi tôi nghĩ đến không chỉ một chuyện. Nhưng chỉ có một chuyện tôi có thời gian nhắc đến. Tôi tự hỏi vì sao lại sợ hãi.

« Lùi
Tiến »