...Mình tách con cua ra ăn cái mai. Cuối cùng ăn đến cái thân. Không bỏ một cái gì cả! Phải đến vài chục phút đồng hồ mới ăn hết con cua.
Xong rồi mình lặng lẽ mò về lán của mình và chui vào võng.
Sáng hôm sau thằng bé khóc váng lên vì mất con cua. Mình thấy nhục nhã quá!
Qua Mậu Thân, tiếp theo là phía bên kia phản kích đợt 2 đợt 3. Tan tác, điêu linh. Chúng mình cứ luôn luôn tháo chạy, luôn luôn ăn đòn...
Mình có nhiệm vụ phải bảo quản số phim đã quay để sau này mang nó ra Bắc, đưa đến tận Cục Ðiện ảnh không để thất lạc suy suyển. Khi đó mình gầy guộc tong teo, ốm đau sốt rét, tóc rụng chỉ còn lưa thưa. Có người bảo mình: “Tôi ngồi gần ông thấy mùi tử khí” ... Ðó là chị Tú, em ruột chị Thúy Băng vợ nhạc sĩ Văn Cao. Lúc đó chị Tú đang cùng với chồng làm việc ở Thông Tấn Xã Khu 5.
Cơ quan tuyên huấn văn hóa văn nghệ nó cồng kềnh lắm, nhất là xưởng in, rồi xưởng phim, nào phim, nào máy chiếu, máy quay, lỉnh kỉnh không như mấy ông nhà văn nhà báo có tập giấy cái bút, đi chạy như bay...
Mình kể về Trần Thế Dân một chút. Dân ngày xưa học quay phim ở trường Ðiện ảnh Bắc Kinh, rất giỏi tiếng Tàu, tốt nghiệp về làm ở xưởng phim truyện, sau này từng là Cục phó Cục Ðiện ảnh, phó Tổng Thư ký Hội Ðiện ảnh.
Dân nghĩ gì làm gì đều chỉn chu theo cách chính thống, theo những gì đã được dạy dỗ ở nhà trường và gia đình.
Dân đối với mình quá tốt, có nhiều kỷ niệm với nhau hồi đi chiến trường, Dân săn sóc mình rất tận tình, đặc biệt khi mình đã quị rồi. Có lần Dân để mình đứng dựa cột và tiêm cho mình, rút mũi tiêm ra tự nhiên mình xỉu đi, đổ sụp xuống, Dân nhặt vội vỏ ống thuốc lên xem có nhầm thuốc? Chỉ là B1 thôi...
Dân đã từng cắt những lát sâm cuối cùng cho mình; chỗ sâm ấy là của bà Hảo cho, bà là vợ nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương, là chị kết nghĩa của Dân. Có lần nhân có việc xuống vùng giáp ranh trồng rau, Dân mang về cho mình mớ rau muống, đi ba bốn ngày đường, mớ rau héo teo tóp gần hết, phải nhặt ra từng cọng một. Khi mình ra Bắc, Dân sẻ gạo cho mình...
Dân điếc đặc một bên tai, (thế mà vẫn được quan tâm chiếu cố cho đi chiến trường). Khi có tiếng nổ, phải quay một vòng mới định hướng được nổ ở đâu. Cũng vì vậy Dân không thể xuống đồng bằng, nơi bom đạn tứ bề, đụng lính như cơm bữa được. Dân ở lại trên núi và đã làm được cuốn phim “Những Người Săn Thú Trên Núi Ðak Sao” và đoạt giải vàng tại Liên hoan phim Maxcơva. Chẳng mấy ai làm được như thế trong hoàn cảnh bom đạn, đói ăn, bệnh tật...
Dân chu đáo với bạn bè, tính tình điềm đạm, ai cũng thích...
☆
Những đợt phản công của phía bên kia sau Mậu Thân 1968 dồn ta sang tận Lào. Mỗi lần di chuyển cơ quan lại đèo bòng thêm mấy thằng ốm o loẻo khoẻo...Mình ở lại là một gánh nặng cho anh em, không ai khênh vác mình đi được. Mặt khác, cơ số phim đã quá lớn. Cần phải xem nó có thành phim hay không; bản négatif có hình hay không...
Cho nên anh em quyết định mình phải ra Bắc. Mình không có nhu cầu trở ra. Nếu mình khỏe mạnh thì chưa chắc mình đã ra mà người khác sẽ mang phim ra; ngoài này sẽ in tráng, làm hậu kỳ, làm montage; mình chỉ viết những ý tứ, địa danh... liên quan đến mỗi đoạn phim.
Mình ra trong hoàn cảnh như thế. Có không ít những trường hợp B quay. Chưa xong nhiệm vụ tỏ vẻ ốm đau bệnh tật để trở ra.
Khi ra, mình để lại cho anh em tất cả, ba lô tốt để lại, chỉ mang một cái túi vải vẫn đựng gạo buộc dây lại thành ba lô, cái “hăng gô” nấu cơm cũng để lại, mình mang đi cái vỏ lon lấy dây thép xoắn lại để dọc đường đun nấu và hai bộ quần áo. Chẳng biết đi đến bao giờ thì gặp đường dây cho nên anh em thương mình trút gạo vào cái ruột tượng cho mình mang đi, người nửa lon, người miệng lon, người một nắm. Hồi đó đi đái mình cũng phải vịn cây, mình yếu thế mà mang từng ấy thứ thì mang thế nào! Anh em mới để mình thử. Ðeo các thứ vào người, cái thân xác gầy thẳng đuột như chiếc đũa, đứng lên thì ruột tượng gạo tụt xuống chân, vì không còn hông không còn mông để giữ. Thử vắt bao gạo lên vai, mình chịu không nổi ngã sấp xuống. Mà có bao nhiêu đâu, vài ba cân gạo...Thế mà lại còn thêm mấy chục hộp phim négatif, và phải trèo đèo lội suối....
Vẫn phải đi.
...Anh em đi theo tiễn, động viên, “đi nhé, cố gắng nhé...”
Và mình đã đi đến nơi.
Yếu tố tinh thần ghê gớm thật.
Không phải mình mang cái xác mình ra để được nghỉ ngơi, bồi dưỡng thuốc men đâu. Những thước phim trên vai mình là bao nhiêu hình ảnh của bao nhiêu con người, bao nhiêu câu chuyện, bao nhiêu trận đánh ...
Trên chặng đi ra để đến được đường dây thì tự nấu lấy thức ăn. Người thì ốm yếu, miệng nôn trôn tháo. Cơ cực. Cái túi nước cam của bọn Mỹ đó, pha nước suối vào là uống ngay được và khỏi hẳn bệnh ỉa chảy. Mình lên cơn sốt, mặc cả hai bộ quần áo lót, quần áo dài vào người, cẩn thận viết vào mảnh giấy và đặt trong túi phim: “ Tất cả đây là phim négatif quay ở chiến trường, chưa tráng. Nếu có rơi vào tay ai thì xin bảo quản hết sức cẩn thận và chuyển giùm đến cơ quan có trách nhiệm của ngành Ðiện ảnh. Không được mở ra .”
Khi lên cơn sốt giữa đường, mình mở tăng ra, nửa trải nằm nửa đắp, khư khư ôm túi phim trong lòng ngay trên con đường mòn rộng hơn mét, để nếu chết, người qua lại còn thấy.
Mình đã nhiều lần chứng kiến những người chết dọc đường. Nhiều lắm. Khi đi lấy sắn thấy người nằm rên hừ hừ, trên võng, còn có cái mũ, cái bình tông, cái ba lô... Lúc về chỉ thấy cái xác còng queo, đồ đạc chẳng còn cái gì. Mình đã thấy những cái chết như thế, nhiều, nhiều lắm.
Mình nghĩ nếu mình chết đi, ai đụng vào sẽ biết được mình mang cái gì. Mình sốt và nằm đó, miệng rên hừ hừ, mưa rơi lộp độp trên tấm tăng. Rất nhiều người sốt rét mà chết chứ chẳng phải bom đạn gì đâu.
Thế rồi mình nghe thấy tiếng nói chuyện xa xa... tiếng chân bước huỳnh huỵch, bước chân trẻ khỏe, chắc là đám thanh niên xung phong hay dân công gì đó.
Tiếng chân bước ngày càng gần, mình mừng lắm. Tiếng người nói xôn xao hăng hái, họ còn khỏe mà. Một người đến gần: “Ô có thằng nào nằm đây, có khi nó chết rồi.” Một người vén tăng lên. Bốn mắt nhìn nhau. “Còn sống chúng mày ạ”. Họ đậy tấm tăng lại và đi tiếp...
Ðã nhiều lần không đủ sức để bám theo giao liên nữa, mình bảo: “Các anh cứ đi trước đi, đánh dấu đường giùm, tôi sẽ về được trạm, không lạc đâu” . Trời tối mù mịt, mình và một cậu nữa, vừa đi vừa sờ sẫm, không hiểu sao mà rồi cũng về tới nơi.
Cậu này là một thương binh, những người trở ra hầu hết đều là thương binh, cụt chân cụt tay, ốm đau sốt rét, cõng trẻ con... Thực tế là một đám tàn quân. Mình còn lành lặn nhưng ốm đau và vác một đống phim trên người.
Cậu này gãy một chân một tay. Cậu ta bảo, em bơi giỏi lắm. Mình bơi cũng giỏi, nước chảy xiết mấy vẫn bơi được, bây giờ hơn bảy chục tuổi mà chiều nào cũng bơi ngàn hai, ngàn rưỡi mét ở Câu lạc bộ Ba Ðình. Mình không biết bơi thì toi nhiều lần rồi.
Cậu này lội sông thì không sao nhưng ra chỗ sâu nhoài người bơi mà tay cứ buông xuôi theo dòng nước, trông tội lắm. Một tay một chân thì bơi làm sao!
Ranh giới giữa cái sống và cái chết thật là mong manh.
☆
Có lần mười lăm ngày bị biệt kích đổ quân chặn đường, ngày đầu một lon gạo, ngày thứ hai miệng lon, ngày thứ ba thứ tư nửa lon, sau đó thì không còn được hột nào. Ði lấy lá môn, lá dóc, lá lốt và các lá linh tinh nấu lên ăn. Sau này cứ ngửi thấy mùi là ghê sợ. Lá môn tựa như lá khoai, nấu lình xình, cho tí muối tí mì chính vào, người ốm người khỏe đều ăn thế.
Có một chuyện thế này. Trong đoàn có đủ nam phụ lão ấu, một chị đem theo đứa con bốn năm tuổi, mình còn nhớ tên nó là Vinh, thằng Vinh. Cả đoàn thương hai mẹ con lắm, nhường chỗ tốt, có gì ăn lại đem cho. Một cậu giao liên qua suối bắt được con cua đá đem về cho thằng bé vì nó chẳng có gì chơi. Anh ta lấy sợi chỉ dài, một đầu dây buộc vào càng con cua, đầu dây kia buộc vào cái cột buộc dây võng của mình và võng của hai mẹ con. Mình nằm trên võng cúi xuống nhìn thằng bé đùa với con cua. Thằng bé tội quá, nó cũng đói khát lại chẳng có gì chơi...
Ðến đêm, mình đói quá, háo quá, có gạo rang trong túi phim nhưng có chết đói cũng không dám sờ vào một hạt. Ðó là gạo rang để chống ẩm cho phim! Mình nhớ ra, đầu võng có buộc con cua. Mình đấu tranh tư tưởng (cái từ rất quen dùng một thời) rất dữ dội: Có nên ăn trộm con cua đó nướng lên ăn không?
Mình nghĩ đi nghĩ lại, thế rồi quyết định phải ăn con cua đó. Hai mẹ con ngủ rồi, mình mới khẽ khàng tụt khỏi võng, mở ba lô lấy bình tông nước. Nước do người giao liên lấy hộ chứ mình không đủ sức xuống suối sâu, bốc một nhúm muối bỏ vào cái bát sắt Trung Quốc.
Thế rồi mình khẽ khàng gỡ con cua ra khỏi sợi dây, lọ mọ đem xuống lán dưới. Cái bếp ở đó vẫn còn đỏ lửa. Mình lấy chút ít nước rửa sạch con cua, cời than ra, đặt con cua lên lật đi lật lại, lật đi lật lại. Con cua vàng ươm chín đều. Ðã đói đến như thế thì cũng có thể vội vàng được. Mình bẻ cái chân cua bé nhất, chấm muối, bỏ vào miệng, nhai mãi nhai mãi rồi chiêu ngụm nước suối, cứ thế ăn dần đến cái càng to nhất, cứ ăn hết một thứ lại chiêu một ngụm nước. Mình tách con cua ra ăn cái mai. Cuối cùng ăn đến cái thân. Không bỏ một cái gì cả! Phải đến vài chục phút đồng hồ mới ăn hết con cua.
Xong rồi mình lặng lẽ mò về lán của mình và len lén chui vào võng.
Sáng hôm sau thằng bé khóc váng lên vì mất con cua. Mình thấy nhục nhã quá...
☆
...Cả đoàn vẫn đi với nhau. Ðem quần áo đổi sắn, mật ong, chiếc quần dài được vài củ sắn, cái áo được nửa lít mật ong, mình cho thằng bé một ít sắn và mật ong.
Nếu ông trời để cho cu Vinh còn sống thì nay nó đã ngót nghét năm mươi chứ không còn trẻ trung gì.
Thật ra con người ta trong cảnh tận cùng đói khát đôi khi thú tính nảy sinh. Mật ong trong ba lô của mình, đêm đến có người cạy ra lấy trộm, rơi rớt cả ra ngoài.
Phải kể thêm rằng, những người dân tộc ở tút hút trên đỉnh Trường Sơn hoặc phía Tây Trường Sơn cũng là những tộc người nghèo khổ, chẳng khác gì những người Khù Xung, Toong Lương ở cực Tây Bắc năm xưa mà mình đã cùng chung sống. Họ thiếu tất cả, từ manh quần tấm áo, cái kim sợi chỉ... Bình thường, việc mang đến biếu tặng, chia sẻ với đồng bào một chút chắc chắn là một điều hạnh phúc, nhưng chúng mình đói quá, ốm yếu quá đành lục lọi có gì đổi được để có cái đút vào mồm là chúng mình đổi. Người dân tộc không biết đong đếm, tính toán như loại người Kinh... hãi chúng mình. Một cuộn chỉ đổi lấy hai củ sắn, mà nếu xổ cuộn chỉ ra, cứ hai sải tay dứt ra đưa cho những người dân tộc và họ đưa cho mình hai củ sắn. Cứ như thế cái thú tính ấy đã trở thành máu thịt chúng mình lúc nào không hay.
☆
Cuộc sống run rủi thế nào mình vẫn được sống tiếp, rồi được đi đây đi đó.
Quãng hai chục năm sau, khi mình là khách mời, ngồi ở những phòng tiệc sang trọng, ở Paris, Tokyo, Sydney, Luân Ðôn, Boston, New York... với các nhân vật quan trọng, ở bộ Ngoại giao Pháp, thị trưởng Yamagata, các đạo diễn Ðiện ảnh Úc Nhật, ông Chris Moulin hạ nghị sĩ Anh, các đạo diễn lừng danh của Mỹ, ông John Kerry ứng cử viên tổng thống Mỹ (trong dịp kỷ niệm 20 năm William Joiner Center ở Massachusett, ngày thứ năm 25-10-2002)... thỉnh thoảng mình vẫn nhớ lại nỗi nhục nhã năm xưa, cái đêm lọ mọ ăn cắp con cua của thằng Vinh để nướng ăn; những ngày sống như con ma đói trên đỉnh Trường Sơn, cái hình hài thân tàn ma dại đầy thú tính của mình lúc đó: xổ cuộn chỉ ra, cứ hai sải tay thì dứt một cái và người dân tộc đen đúa nghèo khó đưa cho mình hai củ sắn bằng cái chuôi dao...
Giá mà làm một cuốn phim truyện...
Nhưng rồi người ta sẽ bảo là chuyện bịa.
☆
Ðến Chỉ huy sở Ðoàn 559 thì mình kiệt sức hoàn toàn, phải ở lại, không thể đi tiếp được nữa.
Người ta đi làm hết. Nhiều lán lắm không biết cái nào với cái nào, mình nằm một góc sạp trong cái lán vắng teo, đắp cái chiếu.
Mình thức dậy vì một tiếng quát:
- Thằng nào đây? Thằng nào giờ này vẫn còn nằm đây?
Một giọng lễ phép thưa:
- Thưa thủ trưởng, đây không phải anh em trong trạm đâu ạ. Một anh phóng viên ở chiến trường ra bị sốt nằm đây.
- Thế thì phải làm sao chứ, sao lại để nằm đây? Chuyển về trạm xá đi!
- Dạ, đồng chí đó cứ khư khư ôm cái túi, bảo là phim quay ở chiến trường, phải mang ra.
- Thế thì càng không nằm ở đây được, phải tìm cách đưa nó ra.
Mình thò đầu ra hỏi người lính:
- Ông nào đấy?
- Ông thủ trưởng đấy!
- Thủ trưởng tên là gì?
- Ông Ðồng Sĩ Nguyên đấy!
Ông Tư lệnh trưởng đi rồi nhưng vẫn bảo người quay trở lại đưa mình ra.
Mình được sự quan tâm không phải vì cái thân xác của mình mà vì đống phim mình đang ôm đây.
- Vậy là, trước đây ông cõng phim đi, bây giờ đến lượt phim “cõng” ông về!
- Ðúng thế, dù sao mình cũng rất cám ơn ông tư lệnh đã giúp mình làm nhiệm vụ và làm điều mình mong ước. Ông ấy coi người là phim hay coi phim là người, với mình đều đúng cả. Nghề mình và nghiệp mình là vậy, suốt đời gắn bó với nó...
☆
...Sáng hôm sau người ta báo với mình: Có xe ô tô. Mình nghĩ có chiếc xe nhỏ nào đấy. Thì ra là một chiếc xe tải. Phía sau xe không có mui che như các xe khác vào chiến trường. Một chiếc máy phát điện điê-den to tướng chiếm gần hết thùng xe được buộc chằng chịt bằng những sợi thép to để chống xóc, tránh xê dịch làm lật xe. Người ta kiếm một cái bạt, lót một cái ổ sát cabin rồi bảo:
- Ðây, đồng chí lên đây.
Cái bạt vừa bẩn vừa rách lại vừa hôi hám. Mình hỏi:
- Trên cabin thì sao?
- Cabin hết chỗ rồi.
Sau mình biết trên cabin, ngoài lái xe còn hai người nữa.
Mình ôm túi phim nằm trong cái ổ đó, trời nắng kéo bạt lên che, trời mưa cũng kéo bạt lên che. Có gì ăn thì họ ném cho mình.
Qua sông Bến Hải sang bờ Bắc, mình nằm ngửa nhìn những tán cây vun vút lướt trên đầu. Gắng chút sức tàn, nghển cổ nhìn qua thành xe, thấy xa xa một nóc nhà thờ... một cái làng... Mừng quá, mình nghĩ giá bây giờ xe dừng lại và chân còn khỏe thì ta đã có thể đến tận nơi được. Nghĩ lại hồi ở chiến trường nấp sau những cái mả ở bãi tha ma nhìn xe ô tô, xe lambretta ào ào phóng qua, chỉ cách vài trăm mét mà không tài nào đến được đường quốc lộ để đặt chân lên đó. Vì thế bây giờ nhìn cảnh vật xung quanh, mình có cảm tưởng lạ lắm...
Thế rồi sau mấy ngày đêm ra đến công viên Thống Nhất. Tiếng đập thùng xe thình thình:
- Ðến rồi, xuống đi!
Xe đỗ nơi cửa vào công viên phía đường Nguyễn Ðình Chiểu, gần cái câu lạc bộ hát chèo bây giờ. Hồi đó công viên còn đơn sơ lắm, chưa có tường rào gì...
Về sau có người không hiểu tại sao mình có thể đi một mạch từ đoàn 559 đến tận công viên Thống Nhất.
Ðiều này chính mình cũng không dám tin!
Người ta ở trong ra, qua vĩ tuyến 17 được phát ít tiền và quần áo, mình không hề biết mặt mũi bất kỳ cái trạm nào, không được lĩnh một khẩu phần ăn nào, không được lĩnh một mảnh quần áo, một đồng xu nào cả.
Ba người trên cabin cũng chẳng tệ bạc gì với mình khi họ quẳng mình xuống đây. Chiến tranh là vậy.
Mình ôm túi phim xuống xe. Một cậu nói:
- Nhà em ở Bông Ruộm, lúc nào khỏe chúng mình tìm nhau nhé...
Thế là chia tay.
Mình ngồi vỉa hè nghĩ ngợi.
Lẽ ra họ đưa mình đi theo đường dây, mình sẽ về Ban Thống Nhất, Ban Tổ chức Trung ương, Khu Ðiều dưỡng K25 hay là một cơ quan nào đó, được tiếp đón, được ăn, được phát quần áo, có hồ sơ giấy tờ hẳn hoi...
Bây giờ họ ném mình xuống công viên Thống Nhất! Hoàn cảnh như thế, biết làm thế nào!
☆