Chuyện Tình Phja Bjooc

Lượt đọc: 1364 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 14
số phận cay đắng

Chiều chầm chậm buông.

Mặt trời như chiếc mâm nhuốm máu lừ đừ đậu trên ngọn Phja Bjoóc.

Vạt núi tím biếc hoa mạy mác buồn liêu trai.

Ri chạy lên rừng mác cọt, nằm vật vã dưới gốc cây mác cọt đôi. Nước mắt Ri thấm ướt lá mục dưới nền rừng, bốc lên mùi ai ải. Rừng mác cọt lặng gió. Từng chùm quả lúc lỉu oằn cành trĩu xuống.

Thế là bao ước mơ, khao khát tích tụ từ thủa hoa niên, dày lên theo nhịp bước đi lấy chữ dưới trường học bỗng tan thành bọt nước chảy trôi trong sáng nay. Ri nghẹn ngào nấc từng hồi, từng nhịp. Gương mặt ông Khùng, Chủ tịch xã thoắt hiện, thoắt ẩn trong nếp nghĩ ngắt quãng...

Sáng đặc mây. Tụi gà rừng, gà nhà gọi người bản thức giấc. Mường Vang chìm trong sương. Hợp nhón gót đi vào buồng bưng của hai em khẽ lay gọi Ri và Rinh:

- Có xuống xã không?

Ri bật dậy dụi mắt ngái ngủ. Rinh làu bàu: - Xã với xiếc, còn sớm mà.

- Ừ, thế thì mày ngủ đi, tao với Ri đi đây, đừng có tiếc nha! – Hợp ghé tai Rinh nhỏ nhẹ, kẻo lo mé ở gian buồng kế bên thức giấc.

Vốn tính đành hanh, Rinh nhổm người, hét: - Không, không, chờ tao đi với.

Giọng oang oang của Rinh làm mé hắng giọng, nhẩn nha: - Ầy, tụi này đi xã thì nhanh chân thôi, kẻo trưa không tới.

Hợp bước ra khỏi cánh liếp cửa buồng của hai đứa em, mé đã dúi vào tay Hợp một bọc lá dong, dịu dàng: - Xôi sắn đấy, vừa đi vừa ăn.

Hóa ra mé đã dậy từ bao giờ rồi.

Xôi sắn thơm phức, nóng hổi âm ấm tay Hợp. Mé vẫn thế, dù anh em Hợp đứa nào cũng cao hơn mé cái đầu, nhưng vẫn bé bỏng trước mắt mé. Từ tối hôm qua, mé biết ba anh em sáng nay xuống xã hỏi giấy báo điểm thi đại học và giấy báo nhập trường, mé dậy sớm chuẩn bị đồ ăn cho các con.

Nhìn mé gày guộc, cúi đầu thổi lửa trước bếp đặt nồi cám lợn, Hợp cay xè sống mũi, xộc lên mắt muốn chảy nước.

Anh em Hợp dắt díu nhau lội qua sông Nậm Khao. Chân dảo bước trên lối mòn đẫm sương, người như thể trôi trong mây. Rinh loi choi chạy trước, chân nó xéo đạp lên cỏ dại. Chẳng mấy chốc nó đã mất hút trong sương. Tính Rinh vẫn thế từ hồi còn đi học, bao giờ nó cũng là người chạy nhảy, mặc cho Ri và Hợp đi sau. Lần nào đến cổng trường nó cũng ú òa, rồi nháy mắt, nói toáng lên:

- Hai người là rùa, ta là thỏ đây!- Nói thế rồi Rinh cười nắc nẻ như thể tiếng nổ của hạt ngô trong than bếp nóng.

Ừ, là chị em ruột đấy, song mỗi người một tính. Rinh là đứa rắn rỏi, mạnh mẽ. Ri dịu dàng, nhạy cảm và có phần yếu đuối.

Tháng ngày chờ đợi kết quả báo điểm thi vào trường đại học rồi cũng đến. Mới đấy đã đầu tháng Chín rồi.

Nắng ồn ã đổ loang mặt đất, hắt lên tường màu vàng của hoa dẻ rừng. Chả mấy chốc cái chân cũng rảo bước tới Ủy ban xã. Ba anh em Ri nhìn nhau phân vân...

Lưỡng lự trước cánh cửa gỗ nâu bóng cho trống ngực bớt nhịp đập. Rụt rè nhìn vào phía trong căn phòng Chủ tịch xã, ba anh em nom thấy người đàn ông mái tóc bóng nhoáng quay lưng lại, dáng đứng hơi lệch chân về phía bên trái như thể chân cao, chân thấp. Hợp đưa ngón tay gõ nhè nhẹ vào cánh cửa. Giọng người đàn ông thản nhiên:

- Mời vào!- Nói xong, ông quay ra nhìn ba anh em tươi tắn như nắng sớm bất chợt ùa đến, hồ hởi: - Vào đây, vào đây, từ bản nào đến đây? Xuống xã tìm ta có việc gì?

Không hiểu vì sao Ri bỗng cảm giác, ông Chủ tịch xã xa lạ trước mặt Ri thật gần. Thẳm sâu trong Ri từng mạch máu nóng lên, bồi hồi. Mắt Ri sáng ngời, trong veo như nước dưới sông Nậm Khao, nụ cười tỏa sáng, khoe má lúm đồng xu duyên dáng, nhỏ nhẹ:

- Dạ, tụi cháu... cháu người bản Nộc Nhùng, Mường Vang trong xã Pù Nhài này.

Đôi chân chấm phẩy thập thững đến bên bàn, mắt người đàn ông hấp háy, dãi bày:

- Ô là là, ta ở cùng mường đấy. Con cái nhà ai nhể? Ta tên là Khùng, làm Chủ tịch Pù Nhài, ta ở bản Nộc Chao. Tụi trẻ nhớn như thổi thì sao ta biết được. Nào, nói đi, có gì hỏi ta đấy?

Trong đầu Hợp láng máng, thoáng lướt khuôn mặt nhạt nhòa của người đàn ông đỏ bầm màu gấc chín, từ sân nhà Hợp cau có, hầm hầm bước dấu chấm, dấu phẩy ra đường đá. Bao giờ nhỉ? Lâu rồi, khi ấy Hợp vẫn là đứa trẻ mải chơi đâu có để ý? Hợp dè dặt, bất an, miệng chợt dính lại như nhựa cây "mác bựa".

Em Rinh thì thào vào tai Hợp: - Anh à, ông bác Chủ tịch này có gì lạ lắm. trống ngực em đập rộn là sao?- Nói thế rồi Rinh quay nhanh sang ông Chủ tịch xã nhanh nhảu, mau miệng:

- Tụi cháu là con mé Ngần. Anh em cháu lên xã hỏi xem có bì thư báo điểm thi đại học về chưa.

Đang vui vẻ, nghe Rinh nói vậy, ông Chủ tịch bỗng cau mày, mắt lóe ánh nhìn khó chịu, phảy tay, giọng cứng nhắc: - Biết rồi! Thế này nhá, có giấy báo điểm rồi đây.

Nói xong, ông Khùng chúi mắt vào đám hồ sơ trước mặt, lôi ra ba mảnh giấy rộng hơn bàn tay, nói kẻ cả:

- Sao chúng bây lên muộn thế? Gớm, điểm cao đấy nhỉ, đứa nào cũng trên hai mươi điểm!- Ngừng một giây như tính toán điều gì, ông quay mái tóc bóng nhẫy sang phía Hợp, mắt lóe luồng sáng sắc lạnh:

- Thằng Hợp này thi được hai mươi tám điểm cơ à? Đủ tiêu chuẩn đi nước ngoài đào tạo, thế nhưng chả để làm gì...

Có gì đó ứ nghẹn dâng lên cổ Hợp. Đắng đót.

Cố nuốt khan để tiếng thở thoát ra, Hợp dè dặt:

- Bác nói sao ạ?

- Sao á? Về hỏi người nhà, lý lịch có vấn đề mà muốn vào học trường quân đội với chả y khoa, kinh tế a?

Lúc này, Rinh đứng phắt dậy, chau mày, cau có: - Bác nói sao? Lý lịch gia đình cháu ư? Nhà ngoại cháu gia đình cách mạng. Cha cháu hy sinh ngoài mặt trận. Mé cháu từng là dân quân xã...

Ông Khùng ngửa cổ ra thành ghế cười khành khạch. Tiếng cười nghe rờn rợn như lưỡi dao cạo cật nứa. Cười chán, ông trừng mắt:

- Ờ, sáng choang nhể, thế ba anh em mày chưa nghe mé mày kể chuyện a? Mé mày trong diện tình nghi theo dõi. Hồ sơ nhà mày có nhiều cái nút lổn nhổn...

Anh em Hợp mặt tái nhợt, biến sắc. Nước mắt Ri trực trào ra.

Dường như những câu nói chém người ấy chưa đủ đắc ý, ông Khùng xoa tay vân vê chiếc râu mọc ngang trên nốt ruồi đen trũi, dưới má phải, miệng ông ngoác ra, hằm hè:

- Hai đứa gái chúng mày con rơi, con vãi, con nhặt đấy. Không biết bố mé chúng mày là ai, biết đâu con của tụi theo giặc cũng nên...

Lúc này Rinh hét lên: - Ông nói láo!

Ba anh em tay bịt chặt hai tai, ào ra khỏi phòng trong tiếng quát ing ỏi gì đó của ông Khùng...

Đất đá dưới chân Ri như tụt xuống hố sâu hun hút...

Hình như sương chiều bủa vây rừng mác cọt từ lâu rồi. Người Ri run bắn theo tiếng thổn thức.

Trong âm u, rậm rạp, lạnh lẽo chợt có tay ai đó nóng rát đặt ngang lưng Ri như xoa dịu sự đổ vỡ trong tâm hồn... Theo bản năng phản xạ, Ri co người chồm dậy. Anh Hợp ngồi đây từ bao giờ. Mắt anh thật buồn. Mái tóc anh ngày thường bồng bềnh, hôm nay dựng ngược, bù xù như bụi cọng cây guột già. Anh ngồi như thể muốn hóa thân vào đá.

Ri chợt ngưng khóc.

Rừng mác cọt giang rộng vòng tay ấm êm bao bọc Ri và anh Hợp. Gió thu mang hơi sương, khí núi lạnh se se. Anh Hợp nắm chặt tay Ri, tiếng anh rành rẽ:

- Em khóc hết nước mắt đi để từ mai mắt không biết chảy nước. Đừng hỏi mé chuyện gì làm mé đau buồn. Mé khổ nhiều rồi.

Ri ép chặt cái buồn trong lồng ngực, cố tỏ ra điềm tĩnh:

- Vâng, số trời đã định nhà mình phải trải qua kiếp nạn...

- Ừ, cuộc đời này đâu gói gọn trong mường ta hả em? Anh tin một ngày nào đó, những người tốt sẽ minh oan cho nhà ta... Mai anh lên huyện hỏi xem các bác lãnh đạo trả lời thế nào.

Nói xong anh thở hắt ra nhiều hơi thật dài như muốn trút đi gánh nặng và tai họa.

Hợp nói thế cho Ri yên bụng. Thật ra tâm can Hợp rối bòng bong. Người tốt ư? Nhiều lắm, nhưng ai đứng ra minh oan, gột rửa vệt bẩn miệng lưỡi người đời từ quá khứ đây? Cuộc sống bon chen tầm thường, ích kỷ của một vài cá nhân ấu trĩ đã đưa con người ta vào hoàn cảnh trớ trêu, đối chọi, khó có sự bao dung, độ lượng.

Chuyện ông bà ngoại và mé bị lực lượng chức năng nghi vấn trong những năm chiến tranh chẳng hiểu duyên cớ thế nào? Mười mấy năm rồi. Hình như Hợp nghe cậu Ngành nói, cơ quan chức năng đã làm rõ. Nhưng vì sao ông Khùng, Chủ tịch xã nói thế? Chuyện này ắt hẳn có lối kín mơ hồ, lẩn quất mà anh em Hợp không biết được...Bỗng dưng Hợp ước ao giá như cậu Ngành về thì tốt quá.

Năm Hợp là thằng nhóc đang học lớp bảy, cậu Ngành về quê dịp giỗ bà ngoại. Hợp xoắn tít cậu và hỏi sao cậu đi xa rồi ở mãi dưới phố, không chịu về quê? Cậu làm gần nhà, Hợp sẽ nhờ cậu giảng giải giúp bài toán khó, hỏi cậu những chuyện của thằng nhóc tập làm người lớn thế nào cho tốt...

Lần ấy, cậu nói với Hợp nhiều lắm. Không phải cậu muốn bỏ mảnh đất núi cao gian khó để sống nơi phồn hoa thủ đô. Dù ở đâu cậu vẫn giữ bản chất thật thà bộc trực người dân tộc mình. Cậu muốn học xong về trên núi phục vụ lắm, thế nhưng quê mình có chuyện làm cậu đau. Nỗi đau khó thoát ra bằng lời. Oái oăm thay, một lần bị đòn đánh không roi làm cậu khiếp đảm đến bây giờ.

Vì sao ư? Đừng hỏi cậu nhiều, rồi sau này cháu khắc biết thôi. Song, cậu nói với cháu điều này, nếu người có chức quyền làm đúng thì dân được nhờ. Vì lý do nào đó làm sai lệch thì người dân thấp cổ, bé họng khổ!

Dồn tâm sức học hành, cậu Ngành thi vào Đại học Bách khoa theo ngành chế tạo máy. Điểm thi cao đứng thứ hai toàn trường. Cậu được cử sang đất nước Liên Xô xa xôi học tập. Một đất nước xa lạ, với những người xa lạ cao lớn, da trắng, tóc vàng nhưng nồng ấm tình người. Mùa đông lạnh tái tê, xuống đến âm hơn chục độ, tuyết phủ trắng trời, trắng đất. Mỗi khi ra đường những bông tuyết bay bay, đậu dày vạt áo như bước ra từ thế giới cổ tích. Nơi ấy, mỗi khi nhìn cánh rừng bạch dương, cậu nhớ rừng mác cọt quê mình. Nỗi nhớ quay quắt không nguôi...

Cậu Ngành miệt mài học, phấn đấu là sinh viên ưu tú, tốt nghiệp xuất sắc, được tiếp tục học lên cao, bảo vệ luận án tiến sĩ. Về nước, cậu được phân công làm giảng viên Khoa Chế tạo máy, Trường đại học Bách khoa. Giờ thì cậu ở Hà Nội, thư thoảng mới về quê.

Cách đây chưa xa, cậu về đúng dịp tết. Thời khắc giao thừa, hương thơm lan tỏa vấn vít, cậu vỗ vai Hợp, giọng cậu trầm ấm:

- Cháu à, hãy là quả chín cây. Tự quả khắc thơm từ trong thơm ra. Đừng bao giờ làm quả chín ép.

Trong ánh lửa bập bùng, cùng ánh sáng nhè nhẹ của hạt bưởi xâu thành đèn, Hợp nhìn ánh mắt sáng của cậu, nói chắc nịch:

- Cháu là cháu cậu mà...

Bây giờ lời cậu văng vẳng bên tai, giúp Hợp phần nào vơi nỗi buồn vần vò tâm can...

Mải mê nghĩ. Lặng lẽ ngồi trong rừng mác cọt, đến lúc sương nhúng ướt dượt vai áo, hai anh em Hợp uể oải về nhà. Giờ này cơm chín, mé đang mong. Chả biết em Rinh đã nói chuyện gì với mé chưa, nếu nói thì mé buồn đau lắm. Hợp bỗng giận mình sao không biết lối dặn em...

Không khí im lặng bao trùm gian nhà sàn rộng rênh.

Bà Ngần ngồi lặng. Quanh bà một màu mờ mịt như khói sương. Chưa bao giờ bà thấy buồn và lo lắng đến thế. Đời bà bạc phận, nhưng ba đứa trẻ con bà tội tình gì mà bị vạ lây?

Những tháng năm qua, bà tưởng không thể sống nổi khi nhận giấy báo tử chồng bà, anh Phái hy sinh. Xương thịt, hồn cốt anh giờ ở nơi đâu bà còn chưa tìm thấy. Dặm trường, đường xá cách trở, đất nước khó khăn và chưa im tiếng súng, thì sao bà an bụng mà đi tìm hồn chồng?

Bà lập cập run run đến bên ban thờ, đốt nén nhang vào các bát hương. Mắt bà chạm vào mắt buồn rầu của chồng. Bà run run chắp tay, giọng như lạc đi khấn vái:

"... Anh Phái ơi, anh sống khôn, thác thiêng, hồn anh linh ứng đi mây, về gió, hãy theo con nước ngược dòng, theo mây trời, gió núi về mảnh đất ông bà gây dựng. Vía anh nghe tiếng em gọi bay về với mé con em, phù hộ độ trì cho các con tai qua, nạn khỏi... Anh vạch mặt, chỉ tên người đã dìm gia đình mình vào rừng rậm, hang hẹp. Anh dẫn lối cho các con bình an, đi ra nơi ánh nắng mặt trời, soi tỏ ..."

Miệng bà khấn khứa mà đắng ngắt như ngậm mật gà. Trên di ảnh đôi mắt chồng bà bỗng loang loáng màu đỏ của máu.

Những mùa gió đổi chiều ngang qua cuộc đời, không đếm nổi những giây phút rùng mình. Bà âm thầm chịu đựng không ngã quị vì ánh mắt thơ ngây của tụi trẻ đăm đắm chờ trông. Nhiều lần chân muốn trơn trượt, mắt muốn nhắm lại, mặc số phận đẩy đưa, song tiếng gọi của lũ con kéo bà trở lại thực tại.

Không phải dân bản ai cũng ghét bỏ bà. Nhiều người thương bà lắm chứ. Vợ chồng cô Dần, nhà ông Gắng, gia đình bà Tẩn. Mẹ con bà Lý ở cách nhà bà mấy trăm sải chân... họ giang rộng tình cảm, qua lại sớm hôm với bà. Nếu không có những người dân thật thà, chất phác ấy, bà còn khổ nhiều. Tuy nhiên, họ dè dặt khi bước chân vào ngõ nhà bà. Họ đi khẽ, nói nhẹ, lựa thời khắc vắng bóng người mà qua lại thăm hỏi mẹ con bà. Họ sợ bị qui chụp tội qua lại với phần tử xấu là bà sẽ bị liên đới.

Chuyện vì sao người bản xa lánh dài lắm, như thể dãy núi trập trùng kia. Câu chuyện ấy bắt rễ từ rừng mả họ Ma nhà bà.

Nghĩ đến những ngôi mộ đá của tiên tổ, ông cha ở rừng mả um tùm, bà thắt lòng, cháy ruột, cháy gan. Án oan khốn khổ cũng từ rừng mả nhà bà mà ra.

Những nút thắt oan khiên từ quá khứ như mũi dao nhọn băm vằm trái tim rỉ máu của bà trăm mảnh.

Cũng vào lúc trời sang thu như thế này. Tụi giặc trời không ngừng ném bom xuống núi rừng Mường Vang. Rừng mác cọt cháy xém. Núi Phja Bjooc cõng con vỡ toang hoác lộ ra tụi đá đỏ rừng rực như máu. Nước dưới sông Nậm Khao ầm ầm sôi réo...

Suốt đêm, các nữ dân quân do Ngần chỉ huy trên trận địa canh trời, gần chục lần nhả đạn đuổi tụi giặc ầm ì thả bom cắn trộm. Mặt mũi ai cũng bạc đi vì trắng đêm không chợp mắt.

Tang tảng sáng. Sương mù dán kín mắt, quẩn quanh quấn riết người và súng. Tốp trực chiến tiếp theo lên thay ca. Về đến nhà, chưa leo hết mấy bậc cầu thang, ba đứa trẻ bu bíu, bám riết vạt áo chàm. Chúng chen nhau đứa trèo lên lưng, đứa níu tay tựa như Ngần đi xa lâu lắm mới về. Tụi trẻ thấy mẹ như con cá mắc cạn thấy nước. Thôi thì đủ thứ chuyện, với bao câu hỏi ngây ngô trong trẻo làm Ngần quên tất thảy ưu phiền.

Quấn quít với con chừng mươi phút, chưa kịp ăn xong củ sắn cậu Va lùi trong bếp đã nghe tiếng kẻng gọi ra đồng. Thời chiến, làm việc khẩn trương. Cũng may trời phú cho Ngần sức khỏe, không biết đau ốm.

Nắng cầm những thanh kiếm vàng, chém tụi sương vỡ vụn, chạy táo tác lên đỉnh núi. Trên bãi dài tít tắp dọc bờ sông Nậm Khao râm ran tiếng cười nói. Hôm nay các mẹ, các chị trong tổ "cày" được phân công cày xong đám bãi để lên luống trồng khoai gối vụ.

Đáng nhẽ, Ngần cùng tốp dân quân đi tuần tra một vòng quanh rừng, quanh núi. Độ này cảnh giác cao trước thủ đoạn, âm mưu của thế lực thù địch. Tình hình an ninh chính trị thời chiến vùng núi hậu phương không thể lơ là. Đất rừng rộng, người thưa, nhà ít... dễ bị tụi giặc nhòm ngó lợi dụng hoạt động lén lút. Vừa ba hôm trước, tốp dân quân tuần tra do Dần chỉ huy tóm sống thằng gián điệp. Nó là thằng cuối cùng, trong toán bảy thằng biệt kích được tụi giặc tung từ trong Nam ra phá hoại miền Bắc. Sáu thằng cùng hội với nó đã bị lực lượng vũ trang, dân quân bên huyện Pó Lài tóm gọn.

Chả hiểu nó chui rúc, luồn lách thế nào đến ẩn náu trong rừng mả nhà Ngần. Thoáng chốc, Ngần thấy khó chịu. Nó làm hoen ố nơi linh thiêng.

Vừa dong trâu cày, Ngần vừa nghĩ. Ngần mang trọng trách mấy vai. Tuy làm Trung đội trưởng dân quân súng máy phòng không, nhưng là Đội phó Đội sản xuất Mường Vang không thể vắng mặt trong buổi cày. Vắng Ngần, lời ra tiếng vào khó lọt tai lắm. Ừ, biết việc cầm súng bảo vệ bản mường quan trọng, nhưng việc cầm cày cuốc làm ra khoai chắc, thóc mẩy cũng cần lắm chứ. Không có lương thực thì không đủ sức khỏe cầm súng.

Các già nói thế. Lời người già đúng, tụi trẻ cãi cự lôi thôi với các già ngay. Các già không cần họp hành nhắc nhở, mắng luôn trước mặt. Ngần vốn tình nhu mì, nhã nhặn, thế nên giữa việc cấy cày và cầm súng phải bố trí hài hòa. Thôi thì cố một tí có sao đâu. Ở ngoài tuyền tuyến các anh ấy vất vả gấp ngàn lần chị em nơi quê nhà ấy chứ.

Điều hành con trâu đực ương bướng cày xong thửa bãi khoảng đôi sào, vừa buông cày cho trâu xuống sông uống nước, gặm vài vạt cỏ non. Ngần ngồi bệt trên tảng đá, xung quanh lúp xúp lũ rau dớn. Chưa kịp tháo nón quạt cho bớt mồ hôi, thì một tốp người ào xuống bãi. Ơ kìa, thoáng trong đầu Ngần câu hỏi: "Sao họ ra đây làm gì? dỗi việc đến thế ư?". Giờ này công an xã và lực lượng dân quân bận lắm cơ mà. Trong đám người này có anh Khùng Đội trưởng. Mặt ai cũng nhăn nhúm, khó đăm đăm như thể ăn phải cỏ đắng.

Nụ cười của Ngần vừa nở ra trên gương mặt đỏ hồng xinh đẹp vụt tắt, bởi câu nói ra lệnh của ông chú Tài, Công an xã: - Cô Ngần, theo chúng tôi về trụ sở xã có việc.

Phản xạ của người Tiểu đội trưởng phòng không mách bảo Ngần xảy ra điều ghê gớm, vì thế đích thân người công an già ra tận đây. Cô rụt rè hỏi:

- Có gì thế chú? Nếu không vội để cháu dắt trâu về chuồng của đội đã ạ.

- Trâu với chả bò, không cần cô lo! Cày, bừa để đấy có người khác mang nó về! – Tiếng nói lạnh tanh của Khùng như chậu nước hắt vào mặt Ngần.

Ông Tài thở dài sâu hút, giọng nói chùng xuống :

- Đi thôi, việc không hay đấy. Cứ đến khắc biết.

Đoàn người lầm lũi bước. Không ai nói câu nào, tựa như miệng bị bịt đá. Chặng đường gập ghềnh sống trâu xuống xã heo hút.

Giữa trưa. Nắng thu hanh hao bỏng rát. Mấy con ngựa nâu, dáng thon, chân chắc, đứng gõ móng dưới gốc cây kháo. Trong dãy nhà lá tường trình của Ủy ban nhân dân xã hôm nay đông người. Ngần chột dạ!

Cậu Va, mợ Sang mặt buồn như lá chuối khô ngồi kia. Mấy đứa con nhà Ngần khắc ở nhà với nhau. Không ai trông nom, liệu chúng có gì cho vào bụng chưa? – Nghĩ đến con bụng Ngần se sắt.

Vừa bước vào, Ngần chạm nhiều ánh mắt lạnh lẽo.

Những tiếng lao xao, trì triết khi Ngần đến:

- Chắc được nhiều tiền lắm đấy. Nuôi dấu gián điệp. Gan to bằng giời.

- Quân tay sai hại dân, hại mường.

- Ày dả! Nếu cái mắt đội trưởng Khùng không nhìn thấy thằng người rừng thì mường ta tan tro rồi.

- Rõ là cán bộ nhá. Giờ mới hiểu vì sao dạo này tụi giặc ném bom vùng này nhiều thế. Mất mạng phải đền mạng. Máu chảy rồi phải trả máu thôi...

Nhiều... nhiều lời nói ồn ĩ như kiếm sắc dúi vào mặt Ngần.

Ngần sững sờ, thoáng chốc mặt cô thất sắc.

Trên chiếc bàn trong hội trường có hai người mặc sắc phục công an, một người dong dỏng cao, nghiêm nghị, đứng lên, nói dõng dạc:

- Mời các đồng chí không có nhiệm vụ ở đây lui ra ngoài! – Sau giây phút nhìn Ngần bằng ánh mắt nghiêm khắc, ông nói: - Tôi tên là Hoái, Phó trưởng Công an huyện, còn đây là đồng chí trợ lý Công an của phòng nghiệp vụ. Cô Ngần ngồi xuống. Bình tĩnh nhé, không có chuyện gì đâu, chúng tôi mời cô ra đây hỏi một số chuyện liên quan thôi.

Căn phòng làm nơi hội họp vừa đông người đứng ngồi, bỗng chốc vắng vẻ. Trước mặt Ngần có Chủ tịch Khút, Bí thư Đào Nhùng cùng hai người công an.

Dưới hàng ghế tre ghép là cậu Va, mợ Sang.

Vẫn đồng chí công an Hoái ánh nhìn nghiêm túc, nói với Ngần:

- Cô Ngần trung thực khi trả lời câu hỏi của chúng tôi nhé.

- Vâng, Mời các đồng chí hỏi, có chuyện gì phải giấu giếm đâu.

- Ừ, thế thì tốt rồi!- Bí thư Đào Nhùng gật gù mái tóc màu mây.

Mắt nhìn ra ngoài khoảng rừng qua cửa sổ lấy lại bình tâm, Ngần se sẽ thở dài. Trong đầu Ngần thoáng nhanh câu hỏi, sao bỗng dưng cô bị tra khảo? Nỗi oan khuất dâng lên bóp nghẹn nhịp thở.

Tiết thu trôi về cuối mùa. Vạt rừng sau sau chuyển màu đỏ sậm như tiết dê. Mặt trời cau có tưới nắng.

- Cô Ngần, cô có quen biết người lạ mặt dân quân ta bắt sống trong rừng mả nhà cô không?

Ngần tròn xoe mắt, cô gằn giọng:

- Đồng chí hỏi gì lạ thế? Nó là gián điệp phá hoại, chui lủi vào đất núi chúng ta, loại người ấy mà tôi biết sao?

- Có người nhìn thấy chị Ngần và người nhà lên rừng mả!- Đồng chí trợ lý công an trẻ, mái tóc húi cua, thẳng thắn nói.

Lúc này Ngần không bình tĩnh nữa, cô bặm môi tức tối:

- Nói hồ đồ! Tôi bận tối mắt, tối mũi, lúc trên trận địa, khi ra đồng bãi, lâu nay tôi chưa lên thăm mồ mả ông bà.

Dường như quá bực vì lời nói gắp lửa bỏ bàn tay của công an, cậu Va đứng bật dậy:

- Đề nghị các đồng chí cho gặp người đặt điều nói sằng, nói bậy. Tôi là đảng viên, thương binh, tôi đảm bảo người nhà tôi từ sau tết thanh minh chưa lên rừng mả, có lẽ nửa năm rồi.

Mợ Sang nước mắt lưng tròng:

- Ây la! Người ta nói lời dối bụng thế không sợ trời phạt a?

Bỗng chốc gió ào ào thổi, dắt lá khô chạy lạo xạo ngoài sân. Bụi đỏ cuộn tròn xoáy theo hình con ốc suối.

Đồng chí công an Hoái nhếch miệng, nói từ tốn:

- Tôi sẽ cho người xác minh. Không tự dưng người ta bịa ra chuyện. Mà gia đình cô có khúc mắc, mâu thuẫn gì với người bản không?

Máu nóng chạy lửa lên mặt cậu Va đỏ gay gắt, con mắt bị thương co giật, cậu đập bàn chan chát, sẵng giọng:

- Gia đình tôi không gây thù, chuốc oán với ai. Người ta ghét nhà tôi vì chuyện gì tôi sao biết được. Làm tối ngày còn ăn sắn, ăn khoai, có đâu thời gian như lũ bụng thối!

- Đề nghị bác bình tĩnh. Bác nói ai bụng thối?

- Tôi nói lũ người mặt thơn thớt, dạ ớt ngâm ấy. Bịa đặt chuyện xấu xa thế trời chu đất diệt nó thôi.

Căn phòng rộng bỗng bức bối, chật chội. Chủ tịch Khút từ đầu ngồi yên lặng, giờ lúc lắc cái đầu nhắc nhẹ:

- Ông Va nổi nóng rồi a. Các đồng chí công an huyện hỏi chi tiết xác thực chuyện thôi mà. Ông đừng vạ miệng nguyền rủa.

- Này ông Chủ tịch, tôi không ra đây để nghe ông dạy bảo. Cùng đi chiến đấu, ông lành lặn, tôi bị thương. Ông làm chức sắc ở xã, tôi người nông dân. Ông có chữ nhiều hơn về mà dạy người nhà ông. Một lũ ếch nhái trơn tru bám theo...thật kinh!

- Này, ông...ông đừng có nhả lời độc! – Chủ tịch Khút hầm hè.

Nhìn mặt phừng phừng của hai người đàn ông. Bí thư Đào Nhùng đứng dậy:

- Ô, hai ông hay thật, để các đồng chí công an làm việc.

Mọi chuyện tạm lắng xuống. Chủ tịch Khút và cậu Va nhìn thẳng vào nhau rồi quay đầu mỗi người mỗi hướng. Công an Hoái từ tốn:

- Cô Ngần, cô có đơn thư tố cáo lén lút che dấu biệt kích.

Mắt Ngần bỗng nổ hoa cải. Sao đứa nào lại ác độc thế? Đất dưới chân Ngần như sụt xuống. Không! Cô không thể rơi vào tình trạng bải hoải được. Ngần hít một hơi không khí vào lồng ngực mảnh khảnh để nén giận dữ. Cô cau có:

- Đề nghị công an cho biết người tố cáo.

Hai đồng chí công an khẽ trao đổi điều gì đó rất nhanh. Công an Hoái thận trọng, thẳng thắn:

- Đơn tố cáo thả hòm thư tố giác của công an huyện. Đơn thư nặc danh.

Như thế rõ ràng rồi, có kẻ ngầm ám hại gia đình Ngần.

Lẽ nào con người ta ác độc vậy? Liệu có phải là Khỉnh không? Hay là Khùng? Chỉ có người nhà của Chủ tịch xã thôi. Bà vợ Chủ tịch vẫn ghen ngầm với mợ Sang. Khỉnh không lấy được Ngần làm vợ chắc là tức tối, bực bội lắm. Ông Khùng kia nữa, chuyện Xa bỏ đi có phải tại Ngần đâu mà luôn miệng hằn học, đổ tội. Phải chăng Ngần có nợ nần từ kiếp trước với nhà họ Nông, cho nên kiếp này mới khổ thế.

Thoáng nhanh trong đầu Ngần mớ ý nghĩ rắc rối nghi vấn ấy. Ngần cười khẩy, nói lời nhọn như dao sắc chém búi giang, bụi nứa:

- Nặc danh mà công an huyện phải điều tra ư? Tra hỏi thế đúng không? Cơ quan công quyền phải nhìn xa, trông rõ. Không chứng cứ làm cơ sở, tố cáo xằng bậy mà khảo xét thì có sai nguyên tắc không?

- Chúng tôi không tra hỏi, khảo xét mà gọi gia đình cô xuống đây cùng hợp tác, làm rõ những điều ghi trong đơn tố giác.

- Thế a? Rõ ràng lúc đến đây tai tôi nghe người làm việc xã xì xầm toàn điều khủng khiếp. Mong các đồng chí làm rõ mọi chuyện để tôi còn làm ăn. Chuyện này đau lắm, cái tay tôi cầm súng giữ bản mường liệu có chắc không???- Ngần trì triết nói trong đau đớn.

Ông Va sau khi kìm nén cơn bực cũng nhẹ giọng:

- Lực lượng chức năng trên huyện tra hỏi thằng biệt kích kia khắc rõ. Đề nghị sớm tìm ra kẻ vu khống bịa đặt, trả lời rõ ràng cho dân Mường Vang và xã biết, để gia đình tôi yên bụng sinh sống.

Có lẽ chuyện hỏi tra còn kéo dài nếu Ngần không nhả lời nói sắc sảo, mang tính phản kháng. Đồng chí Hoái công an kết thúc buổi làm việc bằng câu nói đầy ngụ ý:

- Chúng tôi tiếp tục nhanh chóng làm rõ mọi chuyện. Trước hết vì đang trong diện bị tố cáo, tình nghi liên quan đến an ninh quốc gia, gia đình phải thực thi luật pháp. Đi đâu, làm gì gia đình cũng phải báo cáo công an xã.

Trời ngả về chiều, bầy chim đa đa kéo nhau bay vù vù như thể rừng động. Dãy nhà Ủy ban xã vắng ngắt. Công an huyện lên ngựa, quay xuống phố huyện để lại đám bụi đỏ đặc quánh, nghẹt thở.

Cậu Va, mợ Sang và Ngần bước gằn trên con đường gày guộc đá sỏi. Trước mặt mọi người là núi cao, rừng rậm mịt mùng, sau lưng là thung sâu hoang vắng. Người trong mường viết đơn tố cáo không đứng tên khiến mọi người thở cũng đau. Cái đau không dồn dập mà âm ỉ, nhói buốt.

Thật không tin nổi, từ một gia đình cách mạng, vì một cá nhân dấu mặt, ghép mặt chữ cái thành từng dòng vu oan, trong tờ giấy nghiệt ngã, biến từng người hiền lành nhà Ngần thành tội trọng. Chuyện này đâu có thể một sớm, một chiều mà giải oan. Chờ đợi nhà chức trách điều tra. Không biết đến khi nào mới giải được án treo này đây? Nước mắt Ngần lặng lẽ tuôn rơi. Mợ Sang cũng sụt sùi, nấc nghẹn. Cậu Va mím chặt môi. Con mắt bị thương ri rỉ máu.

Thời gian lặng lẽ trôi qua đêm về gần sáng. Bản yên ắng quá, nghe rõ tiếng nước đuổi nhau dưới sông Nậm Khao, tiếng ngựa lộp cộp cào móng, vấy đuôi đuổi muỗi, tiếng gió thảng thốt kéo sương về tỏa hơi lành lạnh. Ba đứa con bà Ngần thư thoảng trở mình trằn trọc. Đang tuổi ăn, tuổi ngủ mà mắt chúng không thể kéo giấc nồng về.

Mắt bà Ngần nhức khô. Nước mắt từ lâu không biết chảy trên gương mặt héo úa. Vì sao gia đình bà rơi vào tình cảnh này? Ai đó đã cầm lửa đốt cuộc sống thầm lặng của gia đình bà? Bà chợt cười gằn. Tiếng cười chua chát. Cái thằng người vu oan nhà bà có cuộc sống đủ đầy, sung sướng. Sao nó không bị trời phạt? Liệu có thần thánh, trời phật không, mà sao bà kêu cầu mãi không thấu?

Năm 1965, sau buổi công an lục vấn gia đình bà ở Ủy ban xã thì cuộc sống cả nhà đảo lộn. Bà là người thừa trong cuộc chiến bom đạn tàn khốc vãi xuống núi rừng. Bà bị đình chỉ không được tham gia lực lượng dân quân bảo vệ mường. Cái chân cỏn con làm đội phó sản xuất cũng bị xã viên hợp tác tẩy chay. Kẻng giục đi làm trên nương, ngoài các thửa ruộng bậc thang theo bốn mùa cây ngô, cây lúa... không ai muốn làm chung công điểm với bà và mợ Sang. Người ta chê bai, dè bỉu, nói thầm với nhau những lời trần trụi, cay đắng. Người bản cách ly gia đình bà. Với họ, thì các thành viên nhà bà tựa như lũ sâu mọt phá hoại.

Bà đâu giận người bản. Kệ họ thôi. Chuyện đến nước này im lặng nghe người ta khinh miệt mà sống. Cậu mợ nhiều lần thở dài, giá như cái nhà là con thuyền thì đẩy xuôi hay ngược dòng sông, cho khuất mắt người bản để yên ổn làm ăn. Nhiều lần muốn bỏ nhà cửa, đất đai để di canh, di cư, nhưng không được. Đi đâu cũng phải gặp công an xã để họ ghi sổ theo dõi. Phiền toái quá. Tình cảnh này khác gì đi tù? Muốn bỏ hết để đi chỗ khác, vào sâu trong rừng cũng không nổi. Còn mồ mả ông bà, làm sao có thể bỏ mặc mà đi. Còn tiếng xấu nhơ nhuốc kia, nếu bỏ đi thì khắc nào nhận mình là kẻ gian manh hại dân...

Gồng người lên nghe người ta xỉ vả mãi. Đi làm ghi công tính điểm chịu thiệt mọi bề. Rõ ràng chịu khó làm lụng quần quật đủ tháng, đủ ngày, sao lúc tính ra sản lượng thóc, ngô, sắn được ít thế? Nhà người ta ba thạ, nhà mình được một thạ. Đâu có dư ra để bán thóc nghĩa vụ như ngày trước? Mùa nào cái đói cũng quấn lấy. Lũ trẻ da xanh rớt, bủng beo...

Giống như con giun xéo mãi cũng quằn mình giãy giụa. Gia đình nhỏ của Ngần không chịu nổi áp lực miệt thị, ghẻ lạnh, xa lánh và chèn ép từ dân bản cũng như hợp tác xã.

Chiều tháng năm, nóng cây héo lá. Bà Sang uất ức thả đôi thạ có những bắp ngô đỏ nhỏ bé, sâu ăn vòng quanh, hạt lép, xuống dưới chân cầu thang thổn thức. Ban Chủ nhiệm hợp tác đủ công chỉ chia cho nhà bà chưa đầy hai chục cân ngô cả lõi. Vậy thì lấy gì mà ăn đây? Bà nhìn ông chồng ốm đau, nhìn ba đứa trẻ gày trơ xương xa xót...

Từ hôm ở Ủy ban xã về, ông Va ốm quặt quẹo suốt. Vết đau từ tâm khảm, lan đến những mảnh đạn còn găm trong người, túa ra ngoài, sưng đỏ, chảy nước vàng.

Ngẩng mắt lên vòm cao, nơi mặt trời bốc lửa, bà than thở:

- Ông "phạ" ới, ông ở trên cao có thấu chăng? Người nhà lãnh đạo từ tổ đội sản xuất lên đến mường, xã chả biết vì sao công điểm nhiều thế? Sản lượng gấp ba, bốn lần nhà tôi. Ầy, nhà tôi có bỏ buổi làm đâu? Cứ khắc nghĩ ra chuyện cày sót góc, bừa rối, cấy cây lúa vẹo... mà trừ hết điểm. Sao oan khiên đeo bám mãi không buông...

Cậu Va sau một tràng ho khù khụ, hắng giọng:

- Sao phải khóc lóc, kêu than làm gì hở bà? Để đấy tôi tính. Từ mai bà cứ nhẩn nha đi làm ít, chơi nhiều như người ta thôi. Việc công mà. Người ta như thế mình cũng thế. Chăm chỉ sớm tối cũng bị vùi dập. Riêng cái Ngần không đi làm hợp tác xã nữa. Làm cật lực, không trốn việc qua quít được chăng hay chớ như người khác, mà bị vùi dập điểm ít thì làm việc khác.

Trên sàn phơi, đang dở tay lúi húi băm củ "mạy dả" để kịp tối phơi sương, ngày phơi nắng làm thuốc, Ngần cố nặn nụ cười buồn rầu và nói:

- Ông cậu à, liệu con nghỉ làm, người ta có bắt ép rồi sinh chuyện khác không?

Ông Va xoa tay vào thái dương cho đỡ buốt đầu, cất giọng chắc như dao chém cột:

- Cứ nghe cậu, ở nhà làm nghề bốc thuốc. Lúc rảnh, quẩy gồng gánh thu mua phế liệu lông gà, lông vịt, nhôm sắt... được nhiều thì cho lên lưng ngựa mang xuống huyện bán, kiếm đồng ra đồng vào nuôi tụi con. Mợ mày dậy cách làm nồi kẹo kéo.

- Ông có cái đầu nghĩ hay thế sao không bày việc từ trước cho con Ngần đỡ khổ?- Bà Sang đổ sắn vào độn nồi cơm, trách nhẹ nhàng.

- Thì tôi lóe ra cái nghĩ này từ lúc bà về gục đầu dưới chân cầu thang nức nở đấy!- Ông Va nhìn vợ, nói rành rọt.

Khẽ khều than vần nồi cơm phần nhiều là sắn xuống chân kiềng, bà dịu dàng chép miệng:

- Làm gì mà kiếm được cái no vào bụng cho tụi trẻ thì tốt ông ạ. Miễn sao giữ nền nếp đói cho sạch, rách cho thơm phải không ông?

- Nhà mình mang tiếng oan, nhưng trong thâm tâm không làm việc xấu, giữ tiếng gia đình cách mạng, cho dù tạm thời không được sinh hoạt Đảng, tôi vẫn không hổ thẹn! –Nói thế nhưng con mắt còn lại của ông nhìn xa xăm xuống con đường ruộm đỏ ráng chiều.

Ông thầm nghĩ, biết bao giờ nhà ông được người có chức quyền minh oan? Ông vẫn mong đợi, dù đã gần năm qua đi chưa có hồi âm. Cứ đợi thôi, ông tin Đảng không để người dân chịu khổ, chịu thiệt. Có lẽ do tập trung vào tuyến lửa để giành độc lập đất nước, nhiều việc lo nghĩ, thế nên việc nhà của ông bé tí sẽ xem xét và trả lời sau...

Dẫu rằng trong bụng ông Va niềm tin thật nhỏ nhoi, nhưng nó giống như có ngọn lửa. Những ngày qua, ông vượt qua vết thương đau nhức, sưng tấy vì mảnh đạn thằng giặc còn găm vào người chưa thể gắp ra, cũng do đốm lửa cháy sáng rực trong tâm tưởng đấy thôi.

Trời đất không tuyệt đường sống của dân. Mặc cho bom đạn thằng giặc vãi xuống núi rừng. Ngần vừa bốc thuốc nam chữa bệnh, vừa xoay nghề đồng nát mưu sinh... Đã bị vu oan mang tiếng xấu, bây giờ thêm tội bỏ hợp tác xã, làm ăn cá thể, thế nên Ngần bị mọi người dè bỉu, miệt thị nhiều. Ra đường cúi mặt đi thôi. Người trong bản, ngoài mường nói câu khó nghe cũng lặng yên. Nén đau trong lòng, ngậm miệng kiếm thêm đồng ra, đồng vào cho con no cái bụng, khỏe chân đi lôi chữ vào người cho tinh đầu, sáng mắt.

Khổ nỗi, đi đổi đồng nát quanh Mường Vang không sao, hễ Ngần dẻo chân đi xa phải báo công an xã. Án oan chưa được giải. Ờ thì đành vậy. Vất vả nhưng nghề phụ cũng giúp gia đình Ngần không phải ăn độn nhiều như hồi làm hợp tác xã. Có miếng cơm no, tụi con Ngần đứa nào cũng phổng phao như măng nứa gặp mưa rào. Nhìn tụi trẻ lớn bổng, có da thịt là Ngần vui.

Chuyện oan khuất của nhà Ngần chưa có lời giải đáp thì cậu, mợ bỏ mé con Ngần, thác xuống âm thế.

Mùa đông năm 1966, sau hơn một năm ốm đau nằm bệt giường vì suy nghĩ uất ức chuyện nhà bị người xấu hại, những mảnh đạn còn găm trong người cậu từ hồi kháng chiến "chín năm" phát tác. Lá thuốc Ngần bốc không kìm được người ông cậu sưng phồng, rỉ nước. Bệnh viện huyện sơ tán dưới chân thác Lỉn lắc đầu chối từ, không chữa nổi. Trước lúc ra đi, cậu Va cầm tay Ngần và em Ngàng nói ngắt quãng:

- Nhà ...mình...gia...đình ...cách mạng...Đảng, chính quyền...không bỏ người vô tội con à...

Cậu trút hơi thở cuối vào sáng sương muối trắng trời, trắng đất. Con mắt còn lại không nhắm nổi, trợn trừng trừng ba ngày ba đêm, sang đến ngày thứ tư thì trào máu thâm đen túa đầy mặt.

Lá mác cọt rực màu đỏ, khô héo bay ràn rạt, cứa vào đầu Ngần tiếng khóc khan...

Quá đau buồn, suy sụp, mấy tháng sau, vào lúc trời đổ mưa rào rào, mợ Sang ốm quặt, ốm quẹo rồi đi theo cậu vào rừng mả.

Mưa sầm sập. Ào ào. Nước sông Nậm Khao cuồn cuộn dâng cao.

Ngần gào thét đau đớn, rền rĩ trong mưa tuôn, gió hú. Tiếng Ngần khản chìm, khuất lấp giữa núi cao, rừng thẳm: "Ơi ời, ông phạ...ông trên cao có thấu..."

Căn nhà sàn trống trải hơ hoải còn bốn mé con Ngần.

Rạng sáng. Tụi gà rừng, gà nhà đua nhau tấu lên giai điệu dõng dạc.

Nếp nghĩ thả nổi ngược về những năm tháng nghiệt ngã của bà Ngần chưa ngưng lại nếu Ri không cầm tay bà, áp vào má đẫm nước mắt của nó. Hóa ra tụi trẻ con chúng thức trắng đêm giống bà. Bà thương chúng nó mà không thể làm gì. Hai chị em con Ri tuy không do bà mang nặng đẻ đau, nhưng giờ nó là máu thịt của bà. Tụi trẻ con như gốc cây nhỏ bé, bà dựa vào gắng gỏi trước cuộc đời. Mặc cho vật đổi, sao rời, bà ngẩng đầu vững chãi, hướng về nguồn sáng phía mặt trời mọc, với trái tim can đảm và lòng tự trọng cao đến ngày hôm nay.

Tuy vậy, nước mắt của đứa con gái bao năm nâng niu, nuôi nấng, chăm sóc làm ruột gan bà có mảnh đá sắc cứa cắt. Bà nén đau, nhẹ nhàng nói với con:

- Con gái, dù xảy ra chuyện gì, con phải đi bằng đôi chân chắc. Dáng thẳng, nếp nghĩ tốt, bụng sáng.

Tay Ri ve vuốt bàn tay chai sần, đầy vết gân xanh chằng chịt, như rễ cây trên nương khô, nhìn thật lâu vào gương mặt khổ đau của mé cô thầm thì:

- Mé à, nếu không được đi học con buồn lắm. Cái buồn dày lên vì con không làm được điều mé muốn.

Bà Ngần chép miệng, an ủi:

- Vẫn chưa biết thế nào. Để lát nữa anh mày đi hỏi xem. Khổ cho các con, mé bất lực nên tụi mày vạ lây.

Ri thảng thốt, cô ôm tấm thân gày guộc của mé, khẽ lắc đầu:

- Mé à, không phải tại mé, do người ngoài thôi. Con nghĩ rồi, được đi học là tốt, nếu không thì con ở nhà nối nghề làm thuốc cứu người, lấy phúc như mé nha.

Thoáng chút tư lự, bà Ngần khe khẽ thở. Tiếng thở mỏng manh trôi theo khói bếp.

Sương mù ẩm ướt lững thững dắt díu mây xốp như bông ùa vào nhà, vờn quanh hai mé con. Trời tang tảng sáng. Tiếng gà mỗi lúc dập dồn gọi người bản.

« Lùi
Tiến »